Bài tổng quan
Tam tài hun đúc thế nhân và nghiệp báo ngũ hành
Ba vòng Lộc Tồn, Thái Tuế, Tràng Sinh cùng lúc nhào nặn một con người, hiếm khi cả ba cùng đắc cách, nên khi gặp được, đó là chuyện đáng ghi. Còn cái nạp âm ẩn sau năm sinh tháng đẻ, hoá ra cũng là một cuốn sổ nợ: vay gì trả nấy, không ai thoát được luật bù trừ của trời đất…
Mục lục · 2 phần
Khả năng của tam tài hun đúc thế nhân
Vũ trụ là một khối Thái cực hoàn hảo hoàn thiện chứa đựng 2 thế lưỡng nghi cương kiện (dương) và nhu thuận (âm). Mỗi tình trạng phải do tam tài ấn định, tới mức độ nào đấy là phần tứ tượng trình bày. Ngũ hành sẽ chứng minh đâu là chính đáng hợp cách.
Địa bàn Tử vi với 12 cung là một thế Thái Cực vẹn toàn âm dương giới hạn: từ Mão đến Thân thuộc Dương, từ Dậu đến Dần thuộc âm. Trong phần dương vẫn có cái âm xen kẽ, trái lại bên âm cũng vậy (Tý là dương, Sửu là âm… Tuất là dương, Hợi là âm).
Thế tam tài bao gồm 3 vòng: Lộc Tồn do Can ấn định (thiên), vòng Thái Tuế do chi ghi chú (địa), vòng Tràng Sinh do cục diện của Mệnh an vị (nhân). Bất cứ một mệnh viên nào dầu đứng ở cung nào cũng phải chịu ảnh hưởng của tam tài hoạch định, dầu rằng cuộc thế nhân sinh một phần quan trọng biến dịch bởi thiên thời, nhân hòa và địa lợi mang đến sự thay đổi. Nhưng tư thế của dương nhân vẫn bị tam tài chi phối phác họa dự thảo ghi chú là định mệnh.
Biết rằng khả năng của Lộc Tồn và Thái Tuế kể như 2 điều kiện tiên quyết hoạch định một khi soạn thảo hạnh phúc và tư cách cho dương nhân. Vòng Tràng Sinh dầu trong tam hợp nào, nới rộng ra trong thế lưỡng nghi hay toàn vẹn cả vòng lẫn bao hàm trong một thiên nhật tụng đạo lý xử thế vuông tròn.
Bốn tam hợp của Tràng Sinh xưa nay vẫn nhìn nhận vị trí có tư cách khả quan nhất là Sinh Vượng Mộ. Có phải vì thế trên địa bàn Tử Vi mới phân định ra 3 thế: tứ sinh, tứ chính và tứ mộ. Mỗi tam hợp có một cái chính bản ngã của mình là Kim (Dậu), mộc (Mão), thủy (Tý) và hỏa (Ngọ). Còn tứ mộ là nơi tập trung mỗi khi tàn lụi.
Công bồi đắp tứ sinh mà thành công đắc thế là ở tứ chính nên Đế Vượng đắc cách ở Tý Ngọ Mão Dậu. Đây là trường hợp thuận lý âm dương (dương nam và âm nữ theo chiều hướng thuận). Trái lại trường hợp nghịch lý âm dương đi theo chiều ngược thì Tràng Sinh ở tứ chính mà Đế Vượng thì ở tứ sinh, chứng minh đây là nghịch cảnh, tất nhiên mọi sự kiện phải thua kém những gì là thuận lý.
Còn Mộ có hai bình diện. Khi đã về nơi tập trung của ngũ hành, Mộ chỉ là nắm đất để đưa dẫn ngũ hành đâu về đó. Lúc đắc thời khi còn gởi thân trên trần thế. Hoa Cái là khuê bài danh dự cho người tứ mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi).
Bộ 3 này mỗi khi đắc cách người được hưởng Tràng Sinh phải là 4 tuổi Dần Thân Tỵ Hợi, sự nghiệp sẽ được lâu dài bền vững. Đế Vượng chỉ phân phát cho 4 tuổi Tý Ngọ Mão Dậu bước thang mây sẽ nghênh ngang vượt chúng. Người Thìn Tuất Sửu Mùi được ghi danh vinh dự (Hoa Cái).
Tất cả 12 tuổi này phần cao đẹp tuyệt đối chỉ dành riêng cho những cá nhân thuộc Kim và Thủy Mệnh, còn các tuổi khác phải tùy sự sinh khắc mà thêm bớt đi đối với phần việc của Tài Thọ bù trừ trọn vẹn.
Mệnh viên đứng trong 12 cung địa bàn, công việc của mỗi bài chỉ tô đắp trên một công việc theo khả năng của mình mà thôi. Nhưng một khi cả 3 gặp nhau trên một khía cạnh như đắc cách liên lạc với nhau. Tất nhiên trạng thái đó phải là vượt mức khác thường tốt đẹp hơn ai như hai tuổi dưới đây: người dương nam Giáp Tý mệnh đóng ở Tý, và người âm nữ Tân Mão mệnh đóng ở Mão.
Thấy cả hai người Mệnh cùng Thái Tuế đắc Đế Vượng ở tứ chính (vòng Tràng Sinh) Thanh Long (vòng Lộc Tồn) ở Quan và Bạch Hổ (vòng Thái Tuế) ở Tài. Ngôi vị Đế Vượng phò tá, tưởng không còn gì vượt mức hơn nữa.
Hai tuổi Giáp Tý và Tân Mão cho thấy sự phấn đấu đưa được dương nhân đến địa vị Đế Vượng trúng chỗ phải có nghị lực hơn người, nhất là người Tân Mão (Can khắc Chi). Còn người Giáp Tý còn phần nào nhờ sự may mắn (Chi sinh Can). Người Giáp Tý ở ngay Tý cung đắc Đế Vượng, sự nghiệp nắm chắc đến tuyệt đích, trái lại người Tân Mão dầu ở Mão cung cũng là tứ chính, hiềm nỗi mộc mệnh, Đế Vượng kia không phải dễ dàng mà an vị.
Tam tài thủ diễn trong Tử Vi mỗi Tài một khía cạnh: vòng Lộc Tồn do Thiên Can ấn định về phần hạnh phúc tiền tài đến mức độ nào đó cho từng cá nhân. Vòng Thái Tuế được địa chi xây dựng sắp xếp tư cách mỗi hạng người. Vòng Tràng Sinh được coi như phần chính yếu, việc xử thế của cá nhân ở hoàn cảnh nào hành động sao cho Thọ toàn vẹn (nhân hậu) thì vận mệnh mới có Tài (hoán cải), Quan Phúc Thương Sứ sẽ tùy nghi nhúng tay quyết định.
Tam tài đã hun đúc tư cách con người như vậy — còn món nợ nạp âm ẩn trong năm tháng ngày giờ sinh, hoá ra cũng là một thứ nghiệp báo phải trả.
Đây hẳn là nghiệp báo
Tuổi mỗi nhân sinh là một thế tiểu thái cực do lưỡng nghi thiên can và địa chi phối hiệp đúc kết, được đề danh là nạp âm. Thiên can là phần quan trọng đứng trên như cây có gốc, địa chi chỉ là nhánh là phần phụ. Mọi sự việc diễn trải qua ngày tháng do Can ấn phác, Chi trình bày sự hợp xung cách đứng. Nạp âm phần chính xác của Mệnh phụ họa với Can quyết định mức độ màn cảnh như:
Tuổi Giáp Tý can Giáp (mộc), chi Tý (thủy) thành nạp âm Giáp Tý (kim) gặp năm Canh Ngọ phải phân tích Can Canh khắc Can Giáp, chi Ngọ xung chi Tí, Thủy khắc Ngọ, Hỏa, có ý nghĩa tu Thiên khắc Địa xung, nhưng xung khắc xuất kể là nhẹ. Thành phần thứ 3 nạp âm năm Canh Ngọ (thổ) sinh nhập cho tuổi Giáp Tý (kim) đem lại kết quả toàn bộ cho tuổi Giáp Tý gặp năm Canh Ngọ (thiên khắc địa xung báo hiệu thời gian nguy hiểm) chỉ gặp những sự thị phi đau bịnh qua loa mà thôi.
Biết rằng hàng Can là quan hệ, nhưng nghiệp báo của người đời phải để ý 5 cặp hàng Can (Giáp Ất, Bính Đinh, Mậu Kỷ, Canh Tân, Nhâm Quý) đứng cùng nạp âm của mệnh mà đồng hành như Canh Thìn, Tân Tỵ có Canh Tân đều là Can Kim mà nạp âm cũng là Kim, khi gặp một sát tinh đứng trúng cách sát là khắc toàn vẹn như Hỏa Linh. Dương nhân phải cẩn thận nếu ở Mệnh phải e ngại trọn đời, còn ở một vận hội nào phải thận trọng ảnh hưởng thời gian đó. Trường hợp thiên thời Thái Tuế, sự tốt đẹp cũng chỉ còn 50%. Nhưng mỗi khi gặp lúc khó khăn vẫn có cái may bất ngờ dẫn cứu. Vậy có thể trình bày sắp xếp:
- Những tuổi Giáp Ất và mộc mạng phải đề phòng Thiên Hình (Kim).
- Những tuổi Bính Đinh và hỏa mạng phải né tránh Hóa Kỵ (thủy).
- Những tuổi Mậu Kỷ và Thổ mạng phải xa lánh Đường Phù (mộc).
- Những tuổi Canh Tân và kim mạng phải lo ngại Hỏa Linh.
- Những tuổi Nhâm Quý và thủy mạng phải quan tâm đến Cô Quả (thổ).
Năm trường hợp thường đem đến:
- Người Giáp Ất và mộc mạng dễ bị Thiên Hình mổ xẻ cắt thiến thành vết sẹo mang trong thân thể hay yếu gan.
- Người Bính Đinh hay Hỏa mạng nên đề phòng sông nước và bệnh tim thừa thiếu máu, thân danh hay bị kiềm chế.
- Người Mậu Kỷ và Thổ mạng sự nghiệp trồi sụt bao tử khó tiêu hóa.
- Người Canh Tân và Kim mạng đề phòng họa tai mặt nhất là bệnh phổi.
- Người Nhâm Quý và Thủy mạng thường làm ơn nên oán, khó gây tình cảm, nội thương hay hành ở thận.
Để bảo thu bổn mạng, tránh phần nào sự khắc hãm mỗi hạng người nên dùng màu sắc như sau: Mộc mạng nên thường dùng màu xanh lá cây (quần áo hay sơn nhà cửa). Hỏa mạng thường hợp với màu đỏ. Thổ mạng tương đắc với màu vàng lụa. Màu trắng cho người Kim. Màu xám đen lợi cho người Thủy.
Trong 5 hành chỉ có 4 hành Bính Đinh Mậu Kỷ, Canh Tân Nhâm Quý là có hàng Can đồng hành với nạp âm. Còn Giáp Ất không bao giờ có một tuổi Giáp Ất nào là hành mộc: Giáp Tý, Ngọ (Kim) Giáp Dần, Thân (Thủy) Giáp Thìn, Tuất (Hỏa) nên tuổi này phải lấy nạp âm của mình mà dùng màu sắc.
Những Thiên Hình, Hóa Kỵ, Hỏa Linh, Cô Quả Dương Phù thủ những vai trò đao phủ tác hại hơn Không Kiếp. Thấy người Thái Tuế bị Không Kiếp đứng kèm là một đời dầu ở trường hợp nào cũng là lữ hành trên sa mạc. Bộ 3 Trường Sinh, Đế Vượng, Hoa Cái đối với dương nhân nên hiểu nghĩa sân khấu trường đời, vai trò chính mình vẫn phải thủ diễn đúng mức, nhưng nơi hậu trường sự thù lao chỉ là đạm bạc.
Bằng lá số tuổi Canh Tý sanh ngày 16 tháng 11 giờ Tỵ mở đường cho khả năng của số Di đến tuyệt đối với hai chữ Tài nhập Mệnh và Thọ nhập Thân, chứa đựng một bầy hung sát tinh đắc chế hóa khiến ít ai thấu đáo rõ tư cách đương nhân (Mệnh có Hình, Đà, Hỏa được Triệt, Vũ Phá Linh gặp Tuần ở Thân, cả bộ Không Kiếp giáp Thân đều được cả Tuần lẫn Triệt lột xác). Bộ tam hợp bắt đầu từ Vũ Phá (tham vọng quá bạo) đi đến Tử Tham (uy hiếp hiền nhân) kết quả dẫn đến Liêm Sát (lộ thượng mai thi, tức chết đường) cần phân tích đâu là uy hiếp người đâu là người bị uy hiếp.
Tuổi Canh Tý thổ mạng chính là Tử Vi khắc chế được Tham Lang (Thủy). Tham Lang tuy là thủy mà đới mộc, đầy ý nghĩa có vay là phải trả.
Người Canh Tý này đắc Đế Vượng ở tứ chính trong tam hợp mệnh, đương nhiên giai đoạn Thái Tuế 53-62 ở Tý phải được ưu đãi địa vị và Thọ hưởng Lộc Tồn tuổi Canh ở Thân (tam hợp).
Thời oanh liệt Tài và Thọ đã làm được gì để xứng đáng với Quan Phúc trực sẵn ở Ách có Thiên Sứ sẵn sàng chỉ huy Tang Mã. Biết rằng sau Thái Tuế tiếp đến Thiên Không ở Mộ Địa ngay cung Di có Dương Phù Kình Dương toa rập cùng Liêm Sát, mặc dầu 2 chữ Canh Tý có một căn vững chắc hơn người (Can Canh sinh cho Chi Tý).
Thật rõ ràng luật bù trừ của thiên nhiên không thể sai lệch đòn căn nhân quả nghiệp báo.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư - Thiên Lương
