Bài tổng quan
Ý nghĩa của giáp cung và tiêu chuẩn một lá số đẹp
Người xưa vẫn nói chính không bằng chiếu, chiếu không bằng giáp, nhưng vì sao một cặp sao đứng sát hai bên cung Mệnh lại được coi trọng đến vậy? Tử Phủ giáp, Nhật Nguyệt giáp, cho tới giáp sát tinh, mỗi cách đều mang một sức nặng khác nhau lên vận mệnh. Và khi người ta say sưa khen một lá số có đủ bốn Tí hay bốn Sửu là đẹp, hoá ra cái đẹp thật sự lại nằm ở chỗ khác…
Chính không bằng chiếu, chiếu không bằng giáp
Lý số tử vi có 3 phương thức chính. Tam hợp, nhị hợp và xung chiếu. Tam hợp gồm có chính và chiếu, như Mệnh an ở Ngọ thì Ngọ là chính, Dần và Tuất là chiếu. Cái gì ở trong 3 cung Dần Ngọ Tuất là sở hữu do liên minh tam hợp gom góp. Giáp chỉ là xóm giềng, cư xử tốt thì giúp đỡ nhau, bằng như mích lòng thì tự lực cánh sinh. Giáp mà có ảnh hưởng mạnh là khi Mệnh đứng được thuận lý.
Giáp là một bộ đôi sao đứng ở bên sát vách một cung nào. Như câu đã nói chính không bằng chiếu, chiếu không bằng giáp, hẳn giáp đã có một ích lợi nên mới được để cao tột phẩm như thế. Vậy thử phân tích các trường hợp của giáp để xem cái giá trị đến mức độ nào.
Trên hết là các bộ chính tinh. Tử vi Thiên Phủ là một bộ đôi đứng đầu 2 chòm sao âm dương. Cách giáp Tử Phủ hẳn là lý tưởng. Thật thế, chỉ là lý tưởng, và là lý tưởng của cuộc bất ổn tang thương. Không bao giờ có cách giáp Tử Phủ ở các cung khác ngoài 2 cung Dần Thân, mà Mệnh ở Dần hay Thân giáp Tử Phủ thì luôn luôn Mệnh viên ở giữa hoặc là Cơ Âm hay vô chính diệu, tưởng không tốt đẹp gì. Còn các chính tinh khác đều đứng thành một bộ ở thế chân vạc tam hợp để củng cố uy thế của phe phái như Sát Phá Tham, Phủ Tướng. Riêng Cơ Nguyệt Đồng Lương cũng chỉ có một trường hợp Thất Sát ở Dần Thân giáp Đồng Lương ở Sửu Mão hoặc Mùi Dậu là tượng ảnh thế Xuân Thu êm đẹp, Tử Phủ Vũ Tướng và Sát Phá Tham đề huề.
Phần đặc biệt lý lẽ chính không bằng chiếu, chiếu không bằng giáp, chỉ tính cách quang minh của bộ Nhật Nguyệt là cặp đèn rọi sáng suốt, là bộ óc tinh anh chính xác của dịch lý nói chung, không riêng gì số học tử vi.
Thái Dương ở Ngọ là cảnh tượng tuyệt đích quang minh, được Mệnh đóng ở đó phải nói là kiêu hùng. Một khi có Thái Dương ở Ngọ, Mệnh đóng ở Dần đương nhiên là vô chính diệu, hay Mệnh ở Tí phải là Thiên Lương. Bộ Nhật Nguyệt này, Nhật ở Ngọ Nguyệt ở Thân, chiếu soi tỏ Mệnh vô chính diệu ở Dần hay Thiên Lương ở Tí một cách thấu đáo, rõ ràng lòng minh bạch không bờ bến của vô chính diệu và tâm hồn nhân hậu thiên phú của dương nhân hành diện trong hoàn cảnh. Phải chăng chính không bằng chiếu là ở đây.
Chiếu không bằng giáp cũng chỉ có 2 trường hợp là Thiên Phủ ở Mùi đắc Thái Dương ở Ngọ, Thái Âm ở Thân, và Tham Vũ ở Sửu được Cự Nhật ở Dần, Đồng Âm ở Tí mau tỉnh ngộ không theo hùa Liêm Phá ở Dậu làm điều bất chính, mới có câu:
Tham vũ đồng hành Sửu cung vãn cảnh, biến di thần phục.
Được lòng người quí trọng do bộ Nhật Nguyệt giáp biên hiểu rõ đâu là đường quang lẽ phải mà đi.
Nói đến song giáp thường thường lưu ý đến các bộ trung tinh, mà phải là những bộ trung tinh có tính cách quan trọng do năm tháng và giờ sinh quyết định, ý nghĩa gần như chính tinh được ngày sinh tạo thành. Ba bộ Long Phượng (năm), Tả Hữu (tháng) và Xương Khúc (giờ) có liên hệ mật thiết đến 4 mộ cung, 2 dương xuất phát là Thìn Tuất, 2 âm tập trung là Sửu Mùi, bắt đầu đi từ Thìn Tuất để rồi gặp nhau ở Sửu Mùi, thì chỉ có Mệnh ở Sửu Mùi mới có giáp. Trường hợp ảnh hưởng là khi 2 sao đó cùng vừa tới sát nách Mệnh, còn như qua mặt Mệnh rồi mới đứng kề thì như là quá trớn bỏ qua Mệnh, có ý nghĩa gần như không thực có. Nhưng dầu sao có vẫn hơn không.
Trong 3 cách giáp Long Phượng, Tả Hữu, Xương Khúc, duy cách giáp Long Phượng chỉ gỡ gạc phần nào cho Mệnh mà thôi, vì Thái Tuế (Mệnh ở Mùi) là tam hợp Thiếu Dương, Mệnh ở Sửu là tam hợp Thiếu Âm.
Bộ Khôi Việt có tính cách đàn anh lãnh đạo nhưng phần chánh nghiêng về phước thiện, nên được danh hiệu là Thiên Ất quí nhân, như bộ Thiên Quan Thiên Phúc đều do hàng Can quyết định ngôi vị để ban phước lành. Giáp Khôi Việt chỉ có ở 2 cung Thìn Tuất mà phải là tuổi Bính Đinh Nhâm Quý.
Khốc Hư tính theo năm, xuất phát từ Ngọ cung, kẻ đi xuôi là Hư, người đi ngược là Khốc, được liệt danh là bại tinh nên thường ở đất nghịch. Khốc đắc ý ở các cung âm, còn Hư hoàn toàn thất ý trên cả vòng luân chuyển, thường trực cặp kè Tuế Phá. Giáp Khốc Hư thì có 4 tuổi Sửu Mùi và Tỵ Hợi ở 2 cung Tí và Ngọ.
Thai Toạ và Quang Quí, 2 bộ phụ tinh trong quĩ đạo Tả Hữu Xương Khúc, chỉ đắc lực ở hoàn cảnh chính, chiếu đã thấy giảm thiểu thực dụng, giáp thiết tưởng không còn mấy đáng kể.
Giáp sát tinh có nhiều tính cách phức tạp, Không Kiếp, Kình Đà, Hoả Linh có khuôn mặt trình diễn mà vị trí đóng cũng không giống nhau. Không Kiếp chỉ có 2 cung Tỵ Hợi là có giáp. Hoả Linh là sao giảm thiểu sức khoẻ, nhất là đối với người tuổi Kim, Canh Tân Thân Dậu, dầu đắc địa cũng phải đề phòng tật ách bệnh phổi dễ bị hư hao. Giáp Kình Đà cần phải phân tích kỹ càng vì một khi giáp Kình Đà là Mệnh đã thọ hưởng Lộc Tồn. Kình đắc địa ở 4 mộ cung Thìn Tuất Sửu Mùi, Đà miếu địa ở tứ sinh Dần Thân Tỵ Hợi. Điều cần nhớ kỹ, vị trí Lộc Tồn luôn luôn có tiền Kình hậu Đà, nghĩa là Kình Đà phải thay đổi vị trí tuỳ theo hướng của Lộc Tồn đi thuận hay đi nghịch, Kình dẫn đầu Đà hậu cứ, tuỳ theo Mệnh có Lộc Tồn đi thuận hay nghịch. Kình Đà đắc địa thì hưởng Lộc Tồn phải coi chừng đến giáp, trái lại hãm địa là phải khó khăn, chưa kể đến tuổi Mệnh có phải là tam hợp Lộc Tồn thuận lý âm dương.
Đối với lục sát, tình giáp không những làm khó khăn tai hại cho bản thân, còn khuấy đảo cả phụ mẫu huynh đệ của đương số. Sát tinh cùng tính cách hung hãn nên tránh có mặt ở các cung liên hệ đến người thân của Mệnh như phụ mẫu, huynh đệ, phu thê, tử tức, phải chịu ảnh hưởng như:
- Không Kiếp thì vất vả bất hoà.
- Kình Đà thì hình thương xa cách.
- Linh Hoả thì giảm thọ, sức khỏe suy yếu.
Cụ Sào Nam tuổi Đinh Mão, sanh ngày 11 tháng 5 giờ Sửu, thành danh một đại văn hào cách mạng nhờ bộ Riêu Xương Khúc ở Mệnh, nhất là Mã hợp cảnh bền gan cùng tuế nguyệt. Thân cụ đắc Thiên Lương, Long Phượng giáp Thai Toạ Quang Quí trúng cách, nên cụ ở hoàn cảnh nào cũng bình tĩnh uy nghiêm điềm đạm lo toan việc nghĩa. Tả Hữu của cụ ở trường hợp lỡ bước (Tả ở Thân, Hữu ở Ngọ) nên cụ không mấy đa đoan tham bàn thêm mọi sự thế.
Điêu Thuyền xưa kia là một vũ nữ sống trong thời Tam Quốc, tuổi Nhâm Tuất, sanh ngày 23 tháng 8 giờ Dần. Mệnh ở Mùi, Tả Hữu chiếu giáp Xương Khúc thuận lý, thành một tài nữ có nghệ thuật đổ quán xiêu thành, đình nghiêng nước đổ, cứu được Hiến Đế khỏi bị truất ngôi, khiến nổi Lã Bố hạ Đổng Trác. Thân ở Hợi giáp Kình Đà đắc địa nên hưởng Lộc Tồn một cách dễ dàng, mặc dầu Lộc Tồn tuổi Nhâm không phải là vĩnh viễn, Lưu Hà khiến Kiếp Sát canh chừng được Hóa Khoa giải cứu. Nữ nhân đắc Khoa phải nhìn nhận là tối quý.
Riêng bộ Nhật Nguyệt thấy trúng cách chính không bằng chiếu, chiếu không bằng giáp.
Giáp cung đã vậy, còn tự thân lá số đứng thế nào mới thật đáng gọi là đẹp — hoá ra không nằm ở chỗ lặp đi lặp lại một con số cho thật nhiều.
Đâu là một cái số đẹp
Một hồi thấy đua nhau nói đến lá số có 4 Tí hay 4 Sửu, 4 Dần, 4 Ngọ… như có ý cho là một lá số phi thường tốt đẹp. Thật ra chả hiểu cái tốt đẹp nó ở chỗ nào, thiển nghĩ có lẽ cho là một cây làm thành rừng, 4 cái hợp lại thành một đoàn, như góp gió thành bão có một sức làm nên những việc đáng nể.
Theo lý học đông phương phải hợp căn bản là âm dương, ngũ hành. Nếu giảng như trên thật là không nguyên tắc. Thỉnh thoảng có một vài trường hợp may mà đẹp, như 3 tuổi Thân Tí Thìn có 4 Thân, 4 Tí, 4 Thìn thì Mệnh Thân được an vị tại tam hợp Thái Tuế:
- Tuổi Tí là tháng 11 giờ Tí thì Mệnh lập ngay ở Tí (Thái Tuế).
- Tuổi Thân, tháng Thân, là tháng 7 giờ Thân thì Mệnh ở Tí (Quan Phù).
- Tuổi Thìn, tháng Thìn, là tháng 3 giờ Thìn thì Mệnh cũng ở Tí (Bạch Hổ).
3 tuổi Tỵ Dậu Sửu có 4 Tỵ, 4 Dậu, 4 Sửu thì luôn luôn có Mệnh ở thế thua thiệt bạc đãi (Trực Phù, Thiếu Âm và Long Đức). 3 tuổi Dần Ngọ Tuất có 4 Dần, 4 Ngọ, 4 Tuất thì Mệnh bị đặt ở thế bất mãn (Tuế Phá, Tang Môn, Điếu Khách). 3 tuổi Hợi Mão Mùi có 4 Hợi, 4 Mão, 4 Mùi thì Mệnh được đặt ở thế trội, khôn khéo xử thế, đời chỉ là giấc mộng sắc sắc không không (Thiếu Dương, Tử Phủ, Phúc Đức, Thiên Không).
Biết rằng người đời ở tam hợp Thái Tuế là ngôi vị đã dành sẵn có bộ Long Phượng Hổ Cái thì cái trách nhiệm của người đó phải thế nào cho xứng đáng. Những người ở trong vị trí Tuế Phá, Tang Môn, Điếu Khách, số đặt cho một hy vọng là thường xuyên có Thiên Mã (nghị lực), và Thiên Mã này có giúp ích cho đương số được tới mức độ nào hay không lại là phần tuổi của mình đem so với hành nào nơi Thiên Mã đóng. Những người ở vị trí Thiếu Dương, Tử Phủ, Phúc Đức là ở chỗ ngã ba đường, biết đi thì gặp Tứ Đức, lầm lỗi thì thấy Thiên Không. Những người ở vị trí Thiếu Âm, Long Đức, Trực Phù tuy là bị đời bạc đãi, tỉnh ngộ ra vẫn thấy tươi thắm vì Hồng Loan tô điểm hay đền bù bằng Lộc Tồn nhỏ giọt.
Về phương diện ngũ hành thì năm tháng ngày giờ mới chỉ là 4, còn thiếu một. Nếu muốn cho đủ cả 5 thì phải tính thêm một yếu tố hoặc bằng khắc sanh hay tháng của mẹ thụ thai, nghĩa là người bắt đầu thành thai trong bụng mẹ theo giờ thời đạo mà tính theo khắc.
Thấy rất khó mà canh trúng nổi khắc, ngày giờ còn lấy sai bê bối, vậy chỉ còn cách lấy tháng thụ thai của bà mẹ, chứ ngày cũng khó biết. Cứ trung bình tháng thụ thai là tháng trước 9 tháng ra đời, với năm tháng ngày giờ đã sắp xếp theo định mệnh thêm vào cho đủ 5 yếu tố. Kinh nghiệm riêng đã thấy có phần trúng vì nó là đại lược của đời mình.
- Hành của tháng thụ thai sanh cho hành năm, hành năm sanh cho hành tháng, hành tháng sanh cho hành ngày, hành ngày sanh cho hành giờ — thí dụ tháng thụ thai là tháng Kỷ Dậu (Thổ), năm sanh là năm Canh Tuất (Kim), tháng sanh là tháng Bính Ngọ (Thuỷ), ngày sanh là ngày Tân Mão (Mộc), giờ sanh là giờ Mậu Tí (Hoả): Thổ sanh Kim, Kim sanh Thuỷ, Thuỷ sanh Mộc, Mộc sanh Hoả. Tất cả theo hệ thống tương sinh từ trên xuống dưới là trường hợp gặp nhiều may mắn xuôi chiều.
- Hành khắc từ trên xuống dưới, như hành của tháng thụ thai khắc hành năm sanh, năm khắc tháng, tháng khắc ngày, ngày khắc giờ, là trường hợp cuộc đời gặp nhiều gián đoạn.
- Hành bị khắc ngược, như tháng thụ thai bị năm khắc, năm bị tháng khắc, tháng bị ngày khắc, ngày bị giờ khắc, là cuộc đời gặp nhiều trái ý.
- Đủ ngũ hành nhưng không sanh hay khắc nối nhau theo một chiều hệ thống từ trên xuống dưới, chỗ thì sinh chỗ thì khắc, như tháng thụ thai sanh cho năm, năm lại khắc tháng, tháng sinh cho ngày, ngày khắc giờ, cuộc đời thăng trầm đáng buồn phiền.
Bốn trường hợp nêu trên có đủ ngũ hành. Những cá nhân này không phải là hạng thiếu tư cách và đáng trọng, dầu ở hoàn cảnh nào.
Còn những tình trạng thừa hành này thiếu hành kia, như 3 Kim 2 Thuỷ hay 2 Mộc Hoả 1 Thổ hay 4 Thổ 1 Kim, thì nhận xét theo tánh nghĩa ngũ thường: Mộc là thiện tâm (nhân), Thổ là thành thực (tín), Kim là minh bạch (nghĩa), Thuỷ là nghiêm chỉnh (trí).
- Người 3 Kim 2 Thuỷ là người thừa minh bạch và nghiêm chỉnh (nghĩa và trí).
- Người 2 Mộc, 2 Hoả, 1 Thổ là người dư thiện tâm và tỏ tường (nhân lễ).
- Người 4 Thổ 1 Kim là người quá ư thành thực (tín).
Phần sao hẳn ai cũng công nhận Tử Vi là đáng quí, tượng trưng cho ngôi vị thụ hưởng xứng đáng với những tính cách nhân hậu phúc đức như 12 ngôi vị nhận thấy:
- Tử Vi ở Ngọ là đế ngự ngai vàng thịnh trị, có Liêm Phủ ở Tuất và Vũ Tướng ở Dần là văn võ triều khánh hội (có tánh cách điều hoà vì Ngọ bị Tí khắc nhập).
- Tử Vi ở Tỵ là đế tuần du, có Thất Sát hộ giá, phải dùng Liêm Phá ở Dậu càn quét và Tham Vũ ở Sửu kiến thiết.
- Tử Vi ở Thìn là đế xuất chinh, có Thiên Tướng phò chiến, đắc Liêm Trinh ở Thân và Vũ Phủ ở Tí quản trị đất nước hữu hiệu.
- Tử Vi ở Mão là đế yếm thế vì Tham Lang uy hiếp (tất cả bộ Sát Phá Tham) hãm phản vật.
- Tử Vi ở Dần là đế được thừa tướng bình thư (Thiên Phủ), được Liêm Tướng ở Ngọ và Vũ Khúc ở Tuất điều khiển việc nước hùng mạnh.
- Tử Vi ở Sửu là đế bị vây hãm (Phá Quân phản), tất cả bộ Sát Phá Tham hãm trấn giữ.
- Tử Vi ở Tí là bá ngự đại triều, rất hùng mạnh nhờ Liêm Phủ ở Thìn Tuất và Vũ Tướng ở Thân, uy hiếp mọi đối phương (Thân Tí Thìn khắc xuất Dần Ngọ Tuất).
- Tử Vi ở Hợi là bá xuất chinh phải khó khăn vì Liêm Phá ở Mão không mấy mạnh.
- Tử Vi ở Tuất là bá chiến đấu nhờ Liêm Trinh ở Dần và Vũ Phủ ở Ngọ xuất sắc, đất nước phồn thịnh.
- Tử Vi ở Dậu là bá yếu thế (Tham Lang ở đây không đủ tư thế chuyên quyền), chỉ là dối trên gạt dưới.
- Tử Vi ở Mùi là bá bị vây hãm bởi Phá Quân phản, chỉ trông cậy vào Thiên Tướng ở Sửu khắc phục.
- Tử Vi ở Thân là bá được quân sư trình thư, thế nước được sáng rạng nhờ Liêm Tướng ở Tí, Vũ Khúc ở Thìn và Thái Dương ở Tỵ sinh nhập.
Trong 12 vị trí điều làm cho ta thấy là tư cách của Thiên Tướng rất cao đẹp, dầu ở tình thế nào cũng vẫn là người khẳng khái, bất chấp cả sát tinh thâm nhập, vì ở vào vị trí nào Thiên Tướng luôn luôn chống lại Phá Quân (tư cách nghĩa hiệp). Còn Thất Sát thường xuyên dằn mặt Thiên Phủ (cũng như Thiên Tướng xung chiếu Phá Quân) đòi hỏi, trái nghịch với Thiên Phủ là người khoan thai, ôn hoà, xét hành động bằng mọi lý do rồi mới kết luận. Tuy vậy cũng có trường hợp Thất Sát phục tài Thiên Phủ, là vị trí Thất Sát ngưỡng đẩu (ý nghĩa mà thôi, vị trí vẫn xung chiếu).
Còn ngôi vị thứ 3 không giống Thiên Tướng thường xuyên xung chiếu Phá Quân hay Thất Sát luôn luôn nghịch chống Thiên Phủ (bất kể ở đâu Thiên Tướng cũng xung Phá Quân và Thất Sát xung Thiên Phủ), có một tư cách sống bằng lý tưởng riêng biệt, nhân nghĩa phúc hậu cũng không kém Tử Vi. Nếu đắc chí làm thầy muôn thuở, bằng không cũng thành tao nhân mặc khách với non cao rừng rậm, biển cả sông dài. Phú với người này là cơm áo sao cho có miễn để sống. Quí là não óc cao cả bầu trời cùng Nhật Nguyệt soi tỏ (tuỳ theo đắc địa hay hãm địa với cả bộ Nhật Nguyệt). Đó là sao Thiên Lương ở trong 12 chỗ đứng địa bàn, chỗ nào cũng có nhật hay nguyệt bồi đắp, như:
- Khổng Khâu có Thiên Lương ở Tí, Thái Dương ở Ngọ bị Triệt (tuổi Canh), Thái Âm ở Thân ngộ Kỵ.
- Khổng Minh đắc Thái Dương, Thiên Lương ở Mão.
Một người vì ân tình luỵ của Lưu Bị mà buộc lòng làm quân sư, một người không đắc thời cũng thành vạn thế sư.
Có phải Thiên Lương là lương tâm của trời đất.
Cái đẹp dứt khoát của số vẫn là vị trí não ở trong tam hợp Thái Tuế mà Mệnh Thân đã được an bài.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư - Thiên Lương
