Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Mười thần: sinh khắc, công năng và tính nết của từng thần

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202616 phút đọc3 lượt đọc
Mười thần: sinh khắc, công năng và tính nết của từng thần

Có người thấy chữ "khắc" trong lá số là hoảng, thấy chữ "sinh" là mừng, rồi đoán vội. Thế nhưng thực thần khắc thất sát lại là cách tốt, còn ấn sinh quá nhiều lại thành gánh nặng. Vậy mười thần thật sự đang kể điều gì về người đứng sau lá số…


Mười thần là gì mà nhìn vào là biết người và việc

Mười thần là cách gọi chung các vị trí tài, quan, ấn, thực, thương, tỉ, kiếp mà mười thiên can lộ ra trong lá số, kể cả những can nằm kín trong địa chi. Quan hệ sinh khắc giữa chúng thực chất chính là quan hệ sinh khắc của ngũ hành, chỉ khác ở chỗ soi vào đâu. Ngũ hành nghiêng về phản ánh khí chất bẩm sinh, độ đậm nhạt của từng loại khí nơi một con người. Mười thần thì nghiêng về phân tích người và việc: ai là cha, ai là vợ, đâu là công danh, đâu là hao tổn. Hai cách nhìn bổ sung cho nhau, bỏ bên nào cũng thành què.

Vòng tương sinh theo thứ tự, vòng tương khắc cách một ngôi

Tương sinh của mười thần đi theo một vòng tròn liền mạch: chính tài và thiên tài sinh quan sát, quan sát sinh ấn kiêu, ấn kiêu sinh kiếp tài và tỉ vai của nhật chủ, kiếp tỉ sinh thương thực, thương thực lại sinh chính tài và thiên tài, khép lại một vòng.

Tương khắc thì đi cách một ngôi: chính tài và thiên tài khắc ấn kiêu, ấn kiêu khắc thương thực, thương thực khắc quan sát, quan sát khắc kiếp tỉ của nhật chủ, kiếp tỉ khắc chính tài và thiên tài. Cách vẽ này giống hệt cách ngũ hành sinh khắc: liền kề thì sinh, cách một thì khắc.

Trong cùng một hành, âm dương còn chia ra mạnh yếu. Giáp mộc khắc được cả mậu thổ lẫn kỷ thổ, sinh được cả bính hỏa lẫn đinh hỏa. Nhưng giáp khắc mậu hay giáp sinh bính là dương khắc dương, dương sinh dương, cùng tính với nhau, và nguyên tắc chung là sinh hay khắc đồng tính thì lực lớn hơn. Giữa các thiên can với nhau thì không bàn đến chuyện xung.

Lực sinh khắc của mười thần lớn hay nhỏ không đọc được từ mỗi mình chúng. Phải xét thêm sự sinh, khắc, hợp, hóa của các thiên can và ngũ hành, rồi đặt trong tổng thể địa nguyên và nhân nguyên mà luận. Lại có quy luật giống ngũ hành: vật đến cực thì quay ngược lại. Thần nào quá mạnh hoặc quá yếu thì tính chất đảo đi, cái vốn sinh lại không sinh nổi, cái vốn khắc thành ra bị khắc.

Sinh chưa chắc tốt, khắc chưa chắc xấu

Mệnh tốt hay xấu không đọc bằng cách đếm bao nhiêu sinh, bao nhiêu khắc. Thực thần sinh tài là một cách tốt. Thực thần chế thất sát, tức là khắc nó, vẫn là mệnh tốt. Hai trường hợp ấy chỉ nói được khi đặt vào một sự việc cụ thể, không thể đem so sánh giản đơn giữa chữ sinh và chữ khắc. Vì vậy cần khắc vào đầu rằng thấy chữ "khắc" chưa phải lý do để lo sợ.

Đo vượng suy của nhật chủ bằng ba lần nhìn

Khi đã định được can ngày có đắc khí, đắc địa, có được trợ giúp và được sinh hay không, thân vượng hay thân nhược đã lộ hình. Nhưng vượng nhược đến mức nào thì phải đo thêm, qua ba lần nhìn.

Nhìn hai bên can ngày

Trước hết xem dưới can ngày là địa chi gì: chi ngày nằm sát ngay dưới, đang được phù trợ hay bị khống chế, là hỉ hay là kị. Rồi xem can tháng và can giờ ở hai bên là hỉ hay kị. Nếu là hỉ, nó vượng hay nhược, để đo sức giúp can ngày được bao nhiêu. Nếu là kị cũng ước lượng như vậy. Sau đó xét cái hỉ ấy có bị hợp mất, bị thiên khắc địa xung hay bị hình hại khống chế không. Cuối cùng mới tính tới những can chi ở xa, cộng thêm hoặc trừ đi theo hỉ kị của chúng.

Nhìn mức vượng suy của từng can chi

Lần lượt xem can năm, can tháng, can giờ trong tháng sinh ấy đang vượng hay suy. Rồi xem các can chi đứng dưới, bên trái bên phải của mỗi can đó là hỉ thần hay kị thần. Từ đó tổng hợp ra mức vượng suy của tài, quan, ấn, độ mạnh yếu của dụng thần, và độ đỡ hay độ đè của hỉ thần, kị thần lên dụng thần. Chỉ làm vậy mới nắm chắc dụng thần được giúp bao nhiêu, bị ép bao nhiêu.

Nhìn mối quan hệ tổng hợp

Lấy một ví dụ: can năm lộ tài, tài làm hao tổn nhật can; can tháng lộ quan, quan đè nhật can; tài lại nuôi quan, trong khi thế nhật can đơn bạc, không ai chống đỡ. Rõ ràng đó là thân nhược. Quan được tài nuôi nên sức khắc thân tăng thêm, phải ước lượng nhật can chịu được đến mức nào mới xác định được thịnh suy, cường nhược để luận.

Trong vòng sáu mươi năm giáp tý có hơn năm mươi hai vạn tổ hợp Tứ trụ, kể ra hết thì chỉ rối thêm. Người mới học nên bắt vào mâu thuẫn chủ yếu của lá số, nắm kỹ thuật căn bản là chọn dụng thần theo ba hướng: sinh phù, áp chế, điều hầu. Trong đó cần xét hình, hợp, hội, xung, phá, hại của các can chi, đứng xa hay gần, vượng hay suy, tác động đến nhật can ra sao.

Công năng của sáu cặp thần đối với nhật chủ

Lấy nhật chủ làm gốc, mười thần chia thành sáu cặp, mỗi cặp một công năng.

Chính quan: người giữ phép tắc

Chính quan là cái khắc chế nhật chủ, theo kiểu can dương gặp can âm hoặc can âm gặp can dương. Chức năng của nó là quản những điều tốt, như con người phải tuân theo nhà nước và sự ràng buộc của pháp luật. Nói chung chính quan là cát thần. Nó bảo vệ tài, sinh ấn, áp chế thân, khắc chế kiếp. Thân cường mà tài nhược thì tốt nhất có chính quan giữ tài. Thân cường mà ấn nhược thì chính quan sinh ấn. Nhật can quá thịnh thì chính quan hạn chế. Thân vượng mà kiếp nhiều thì chính quan khắc kiếp.

Thất sát: kẻ chuyên tấn công

Thất sát cũng khắc chế nhật chủ, nhưng theo kiểu dương gặp dương hoặc âm gặp âm. Nó chuyên tấn công nhật can, kẻ vô lễ gặp nó thì nhật can bị tổn thương. Khi có cái chế được nó, tức thực thần hoặc thương quan khắc chế, thì gọi là thiên quan; không chế thì mới gọi là thất sát. Nói chung thất sát là hung thần. Nó làm hao tổn tài, sinh ấn, công phá thân, khắc chế kiếp. Nhật can mạnh mà tài yếu thì thất sát làm tài thêm hao. Nhật can mạnh mà ấn yếu thì thất sát sinh ấn. Ấn yếu mà tài mạnh thì thất sát công phá thân. Nhật can mạnh mà kiếp yếu thì thất sát khắc chế kiếp.

Chính tài và thiên tài: vật nuôi mệnh

Tài là cái nhật chủ khắc được. Khác tính âm dương với nhật chủ là chính tài, cùng tính là thiên tài. Tài là vật nuôi mệnh, ai cũng cần nhưng không phải ai cũng có, xưa nay vẫn vậy. Cả hai nói chung đều là cát thần. Tài sinh quan sát, làm xì hơi thực thương, áp chế kiêu thần, làm hại chính ấn. Nhật can vượng mà quan sát nhược thì tài sinh quan sát. Nhật can vượng mà tài nhược thì tài là nơi xì hơi của thực thương. Nhật can vượng mà kiêu thần vượng thì thiên tài chế kiêu. Nhật can vượng mà chính ấn vượng thì chính tài làm hỏng chính ấn.

Chính ấn và thiên ấn: nguồn khí của mình

Ấn là cái sinh ra nhật chủ: khác tính là chính ấn, cùng tính là thiên ấn. Ấn là nguồn khí của tôi, như cha mẹ sinh ra tôi. Chính ấn nói chung là cát thần, thiên ấn nói chung là hung thần. Thiên ấn gặp thực thần thì cướp đoạt thực thần, nên gọi là kiêu thần. Ấn sinh thân, làm xì hơi quan sát, chống lại thực thương. Nhật can yếu mà quan sát mạnh thì ấn rút bớt sức quan sát và sinh thân. Nhật can yếu mà thực thương mạnh thì chính ấn chống lại thương thực.

Thực thần và thương quan: cái do mình sinh ra

Thực thương là cái nhật chủ sinh ra: khác tính là thương quan, cùng tính là thực thần. Thương quan gặp chính quan thì khắc nhau, nên trừ trường hợp nhật can chủ trương thuận theo luật pháp, nói chung nó là hung thần. Thực thần gặp thất sát thì chế phục được nó, giữ cho nhật can yên ổn, không tai họa, nên nói chung là cát thần. Thực thương làm xì hơi thân, sinh tài, đối địch với thất sát, làm tổn thương quan. Thân vượng mà tài quan nhược thì chúng là nơi xì hơi của thân. Thân vượng mà tài nhược thì chúng sinh tài. Thân nhược mà quan sát mạnh thì chúng đứng ra đối địch với thất sát, làm tổn hại quan.

Tỉ và kiếp: những người cùng vai

Tỉ kiếp là cùng vai cùng lứa với nhật chủ: khác âm dương là kiếp tài, cùng âm dương là tỉ vai. Tỉ kiếp là đối địch của tài, và khi nhật can đã vượng thì nói chung là hung thần. Chúng giúp thân, đỡ cho quan sát, hóa giải xì hơi, đoạt tài. Nhật can nhược mà có tỉ kiếp thì thân được đỡ, không sợ bị xì hơi. Nhật can vượng mà có tỉ kiếp thì nhờ đó đoạt được tài.

Tính nết nằm ở thần vừa thoát khỏi sự đè nén

Các thiên can thấu lên thành mười thần, trong cách đoán còn được hiểu là thiên tính lộ ra, giống tính chất của ngũ hành và đại diện cho tính tình con người. Thần nào tàng kín thì tính nết kín, thần nào lộ thì tính nết lộ.

Trong lá số có một lẽ khá lạ: tôi đã khắc được anh thì anh không còn sức để khắc nó, và "nó" ấy trồi lên. "Nó" chính là tâm tính hiện ra sau khi "anh" bị phá hại, có thể là nhật can, cũng có thể là một thiên can khác. Khi sự cân bằng của lá số có cảnh bên này khắc bên kia, bên kia hết sức khắc bên thứ ba, thì tâm tính người ấy lộ rõ ở chính bên thứ ba. Bên thứ ba đã được giải thoát, trong thế cân bằng nó là bên có sức sống.

Lấy ví dụ thương quan bị phá hại nên không khắc nổi chính quan, chính quan nhờ đó có cơ hội hiện lên. Cái khắc được thương quan, ngoài hình, hợp, xung, hại, chủ yếu là chính ấn. Chính quan khi ấy giữ vai rất quan trọng với nhật can: nó gián tiếp hay trực tiếp quyết định vượng suy, và thường chủ đạo tốt xấu trên nền cát cách hay bại cách của lá số.

Mười cặp phá và lập

Quan hệ tâm tính của mười thần gọn trong ba chữ "phá thì lập". Ấn khắc thương, thương không khắc nổi quan, tâm tính chính quan hiện ra. Kiêu đoạt thực, thực không chế nổi sát, tâm tính thất sát hiện ra. Kiếp tranh tài, tài không làm tổn hại được ấn, tâm tính chính ấn hiện ra. Tỉ đoạt tài, tài không khắc được kiêu, tâm tính kiêu thần hiện ra. Thương khắc quan, quan không chế ngự nổi kiếp, tâm tính kiếp tài hiện ra. Thực áp chế sát, sát không chế ngự nổi ngang vai, tâm tính ngang vai hiện ra.

Tài tổn ấn, ấn không khắc nổi thương, tâm tính thương quan hiện ra. Tài áp chế kiêu, kiêu không đoạt được thực, tâm tính thực thần hiện ra. Quan khắc kiếp, kiếp không phá được tài, tâm tính chính tài hiện ra. Sát áp chế ngang vai, ngang vai không kiếp nổi tài, tâm tính thiên tài hiện ra.

Lá số thương quan lộ rõ: ngang tàng khi thân vượng

Giả sử nhật can vượng, can năm là tài, can tháng là ấn, can giờ là thương. Tài khá mạnh nên khắc được ấn, ấn hết lực khắc thương, thương quan vừa tự vượng vừa không bị kìm, tâm tính thương quan lộ rõ là điều chắc chắn. Người thương quan lộ rõ có tính thanh cao hiên ngang, dám chửi mắng cả quỷ thần. Nhật can đã vượng thì lại càng hung hăng, thành người tính xấu, bề trên cũng không dám đụng, kẻ tiểu nhân thì sợ mà lánh xa. Lá số này mừng ở chỗ thân vượng, thương quan trở thành hỉ thần của dụng thần, khi đi vào vận tài thì phú quý tự nhiên đến. Còn nếu thương quan vượng mà thân nhược thì tính tình vẫn là tính thương quan, chỉ không đến nỗi ghê gớm, ít nổi giận hơn. Nhưng một khi đã giận thì người gan non phải chết khiếp.

Chính tài lộ rõ và chuyện học hành

Có người từ nhỏ đã có bản lĩnh kinh doanh bẩm sinh. Dù không có văn hóa, họ tính rất nhanh, rất chuẩn, làm người khác phải khâm phục. Mệnh cục kiểu ấy luôn lộ rõ tâm tính chính tài. Tài vượng thì khắc ấn, mà ấn chủ về văn, nên tài vượng thì văn hóa ít, không thích đọc sách, đi làm rất sớm. Nhưng quy luật tài khắc ấn nói chung chỉ ứng với người thân nhược. Người thân vượng thắng được tài, mà nếu thân vượng tài lại ít thì cũng không buôn bán nổi. Còn ấn vượng thì học giỏi, nên người ấn vượng mong khắc bớt ấn để tránh bị kiếp tài. Tài thấu lên là khẳng khái. Tài nhiều, tài vượng là có duyên với phụ nữ, phong lưu nhưng hay tiêu phí. Thân và tài ngang sức nhau thì tài là dụng thần.

Mỗi thần đại diện cho điều gì và mang tính nết gì

Chính quan đại diện cho chức quan, chức vụ, thi cử, bầu cử, học vị, danh dự, địa vị; với nữ là tình cảm với chồng và đường con cái, với nam là đường tình cảm với vợ. Tính nết: chính trực, có trách nhiệm, đoan trang, nghiêm túc, làm việc đầu đuôi có thứ tự. Mặt trái: dễ bảo thủ, cứng nhắc, thậm chí thiếu kiên nghị.

Thiên quan đại diện cho chức vụ quân đội, cảnh sát hay nghề tư pháp, thi cử, bầu cử; với nữ là tình cảm với chồng và con cái, với nam là tình cảm với con cái. Tính nết: hào hiệp, năng động, có chí tiến thủ, uy nghiêm, nhanh nhẹn. Mặt trái: dễ bị kích động, thậm chí ngang ngược, trụy lạc.

Chính ấn đại diện cho chức vụ, quyền lợi, học hành nghề nghiệp, học thuật, sự nghiệp, danh dự, địa vị, phúc thọ, và là hình bóng tình mẹ. Tính nết: thông tình, nhân từ, không tham danh lợi, biết chịu đựng. Mặt trái: ít chí tiến thủ, thậm chí chậm chạp, trì trệ.

Thiên ấn đại diện cho quyền quý trong các nghề nghệ thuật, diễn xuất, y học, luật sư, tôn giáo, kỹ thuật, nghề tự do, thành tích trong dịch vụ; còn là hình bóng tình dì ghẻ. Tính nết: tinh thông tay nghề, phản ứng nhanh nhạy, nhiều tài nghệ. Mặt trái: dễ cô độc, thiếu tính người, thậm chí ích kỷ, ghẻ lạnh.

Ngang vai đại diện cho tay chân cấp dưới, bạn bè, đồng nghiệp, người cùng phe phái, và cả chuyện tranh lợi đoạt tài, khắc vợ khắc cha; nữ coi là tình chị em, nam coi là tình anh em. Tính nết: chắc chắn, cương nghị, ưa mạo hiểm, dũng cảm, có chí tiến thủ. Mặt trái: dễ cô độc, ít hòa nhập, thậm chí cô lập đơn côi.

Kiếp tài cũng là tay chân cấp dưới, bạn bè, nhưng còn là hao tổn tài, bị đoạt tài, bị đoạt vợ, khắc cha, tranh giành quyền lợi, lang thang; nữ coi là tình anh em, nam coi là tình chị em. Tính nết: nhiệt thành, thẳng thắn, ý chí kiên nhẫn, phấn đấu bất khuất. Mặt trái: dễ mù quáng, thiếu lý trí, manh động, liều lĩnh.

Thực thần đại diện cho phúc thọ, người béo, cảnh về hưu, có lộc; nữ coi là tình cảm với con gái, nam coi là tình cảm với con trai. Tính nết: ôn hòa, rộng rãi với mọi người, hiền lành, thân mật. Mặt trái: dễ có vẻ ngoài không thật bụng, thậm chí nhút nhát, giả tạo.

Thương quan đại diện cho những điều không lợi cho người nhà, cho chồng: mất chức, bỏ học, thôi học, mất quyền, mất ngôi, không trúng tuyển, không thi đỗ; nữ coi là tình cảm với con trai, nam coi là tình cảm với con gái. Tính nết: thông minh, hoạt bát, tài hoa dồi dào, hiếu thắng. Mặt trái: dễ tùy tiện, thiếu kiểm chế, thậm chí tự do vô chính phủ.

Chính tài đại diện cho tài lộc, sản nghiệp, tài vận, tiền lương, tình cảm với vợ. Tính nết: cần cù, tiết kiệm, chắc chắn, thật thà. Mặt trái: dễ cẩu thả, thiếu tiến thủ, thậm chí nhu nhược, không có tài năng.

Thiên tài đại diện cho của riêng, trúng thưởng, phát tài nhanh, đánh bạc, tình cảm với cha; với nam còn là tình cảm với vợ lẽ. Tính nết: khẳng khái, trọng tình, thông minh, nhạy bén, lạc quan, phóng khoáng. Mặt trái: dễ ba hoa, nặng bề ngoài, thiếu kiềm chế, thậm chí phù phiếm.

Không bị phá cũng vẫn lập

Ngoài lẽ "phá thì lập" còn có trường hợp "không phá cũng lập": một thiên can nào đó vượng mà chẳng bị ai phá hại. Chẳng hạn nhật nguyên toàn tỉ kiếp, trong mệnh không có quan tinh nên không bị khắc. Dù chẳng có mối quan hệ bị khắc để mà nói, tâm tính ngang vai vẫn lộ rõ vì không hề tổn thất. Đó là trường hợp vừa độc vượng, vừa được lập.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc