Bài tổng quan
Cách xếp trụ ngày, trụ giờ và nhật chủ định mười thần trong Tứ trụ
Một đứa trẻ sinh lúc mười một giờ rưỡi đêm, theo cách tính của nhiều người vẫn thuộc ngày hôm trước, và cả lá số sai theo từ đó. Chỉ cần dời ranh giới ngày một khoảng nhỏ, bốn trụ đã thành bốn trụ của một người khác. Vậy mốc giờ nào mới đúng, và nhật chủ sinh ra mười thần ra sao…
Trụ ngày: can chi của ngày sinh theo vòng sáu mươi ngày
Trụ ngày là ngày một người sinh ra, ghi bằng can chi âm lịch. Can chi của ngày cũng xoay vòng, mỗi vòng sáu mươi ngày. Vì có tháng đủ, tháng thiếu và tháng nhuận, muốn tìm can chi ngày phải tra lịch vạn niên. Trong dân gian, người mù thường dùng một bài ca truyền miệng đơn giản để tìm can ngày khi đoán mệnh; ngoài ra còn bảng tra can chi ngày theo ngày giáp tý và nhiều phương pháp khác. Những cách này dính tới năm nhuận nên người mới học đừng mất công ghi nhớ, tra sách sẽ nhanh hơn.
Lịch vạn niên mấy năm trước thường lấy mười ngày làm một tuần. Chẳng hạn ngày 1 là giáp dần, ngày 11 là giáp tý, ngày 21 là giáp tuất. Nếu sinh ngày 4, tính là giáp dần, ất mão, bính thìn, đinh tỵ. Mấy năm gần đây lịch vạn niên tra được không chỉ can chi năm, can chi tháng mà cả can chi ngày. Lúc không có lịch vạn niên thì vẫn phải cố nắm cách tính trên bàn tay, kết hợp với các bài ca truyền miệng. Ngày nay ngày sinh thường ghi theo dương lịch, nên cần tra lịch để đổi ra can chi ngày âm lịch.
Giờ tý bắt đầu từ 23 giờ đêm
Trụ ngày trong mệnh học tính giờ tý là giờ đầu tiên, thuận chiều kim đồng hồ tới giờ hợi, nghĩa là một ngày chia làm mười hai giờ, mỗi giờ hai tiếng đồng hồ. Ranh giới giữa ngày trước và ngày sau lấy theo giờ tý, và để đơn giản người ta thường tính giờ tý bắt đầu từ 23 giờ. Trước 23 giờ là giờ hợi của ngày hôm trước, sau 23 giờ là giờ tý của ngày hôm sau. Khi dự đoán phải đặc biệt chú ý lập chính xác giờ sinh ở ranh giới này. Rất nhiều người sinh vào đêm ấy mà không để ý đã sang giờ tý hay chưa, nên không quyết định được thuộc ngày trước hay ngày sau.
Cũng có người do không hiểu, cứ lấy ranh giới hai ngày là 12 giờ đêm. Thế là sinh trước 12 giờ đêm lại bị tính nhầm sang ngày hôm trước. Sai lầm ấy đúng là "sai một li đi một dặm", khiến Tứ trụ không còn là của người đó. Tổ hợp Tứ trụ đã khác thì kết quả cân bằng cũng không còn đúng, dự đoán vì lấy sai thời gian mà thành sai. Dự đoán vốn để giúp người ta hiểu vận mệnh của mình và tìm điều tốt mà hướng tới, nên lấy sai ngày thì không sao bảo đảm lời nói của mình đối với người xin đoán. Người có kỹ thuật cao có thể đoán lại quá khứ của họ để thử, chỉnh lại ngày giờ sinh cho chuẩn, nhưng việc ấy rất tốn thời gian và tâm lực, đoán không tốt còn ảnh hưởng đến danh dự. Vì vậy ai muốn xem mệnh nên cố gắng cung cấp chính xác ngày tháng năm giờ sinh.
Trụ giờ: mười hai canh giờ và bài ca tìm can giờ
Trụ giờ là can chi âm lịch biểu thị giờ sinh, cũng tính theo sáu mươi giáp tý. Điểm khác với cách tra tháng theo năm là: các cặp can giáp kỷ, ất canh, bính tân, đinh nhâm, mậu quý lấy theo can ngày chứ không lấy theo can năm; còn địa chi thì lấy giờ tý làm khởi đầu chứ không phải dần. Mười hai giờ của một ngày như sau:
| Giờ | Khoảng thời gian |
|---|---|
| Tý | 23 giờ đến trước 1 giờ |
| Sửu | 1 giờ đến trước 3 giờ |
| Dần | 3 giờ đến trước 5 giờ |
| Mão | 5 giờ đến trước 7 giờ |
| Thìn | 7 giờ đến trước 9 giờ |
| Tỵ | 9 giờ đến trước 11 giờ |
| Ngọ | 11 giờ đến trước 13 giờ |
| Mùi | 13 giờ đến trước 15 giờ |
| Thân | 15 giờ đến trước 17 giờ |
| Dậu | 17 giờ đến trước 19 giờ |
| Tuất | 19 giờ đến trước 21 giờ |
| Hợi | 21 giờ đến trước 23 giờ |
Cách tra: gặp ngày giáp hoặc ngày kỷ, nếu sinh từ 23 giờ đến 1 giờ thì là giờ tý, can chi giờ là giáp tý. Có bài ca truyền miệng:
Giáp, kỷ còn thêm giáp; ất, canh bính làm đầu.
Bính, tân tính từ mậu; đinh, nhâm tính từ canh.
Mậu, quý từ nhâm tý.
Ví dụ ngày kỷ sửu, muốn biết can chi giờ mão. Theo câu "Giáp, kỷ còn thêm giáp", ngày kỷ giờ tý là giáp tý. Đặt đầu ngón cái tay trái lên ngôi tý đọc giáp tý, đếm thuận sang sửu là ất sửu, dần là bính dần, mão là đinh mão. Vậy đinh mão chính là can chi giờ của ngày kỷ sửu. Gộp lại thành bảng lấy giờ theo ngày:
| Giờ | Ngày giáp, kỷ | Ngày ất, canh | Ngày bính, tân | Ngày đinh, nhâm | Ngày mậu, quý |
|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Giáp tý | Bính tý | Mậu tý | Canh tý | Nhâm tý |
| Sửu | Ất sửu | Đinh sửu | Kỷ sửu | Tân sửu | Quý sửu |
| Dần | Bính dần | Mậu dần | Canh dần | Nhâm dần | Giáp dần |
| Mão | Đinh mão | Kỷ mão | Tân mão | Quý mão | Ất mão |
| Thìn | Mậu thìn | Canh thìn | Nhâm thìn | Giáp thìn | Bính thìn |
| Tỵ | Kỷ tỵ | Tân tỵ | Quý tỵ | Ất tỵ | Đinh tỵ |
| Ngọ | Canh ngọ | Nhâm ngọ | Giáp ngọ | Bính ngọ | Mậu ngọ |
| Mùi | Tân mùi | Quý mùi | Ất mùi | Đinh mùi | Kỷ mùi |
| Thân | Nhâm thân | Giáp thân | Bính thân | Mậu thân | Canh thân |
| Dậu | Quý dậu | Ất dậu | Đinh dậu | Kỷ dậu | Tân dậu |
| Tuất | Giáp tuất | Bính tuất | Mậu tuất | Canh tuất | Nhâm tuất |
| Hợi | Ất hợi | Đinh hợi | Kỷ hợi | Tân hợi | Quý hợi |
Hai ví dụ xếp trọn Tứ trụ
Nắm xong cách xác định trụ năm, trụ tháng, trụ ngày, trụ giờ và nhớ quy luật của chúng thì xếp được Tứ trụ chính xác. Tứ trụ là dấu hiệu nhận biết vận mệnh cả cuộc đời, nên xếp đúng mới là bước thứ nhất của dự đoán.
Ví dụ thứ nhất: ngày 1 tháng 10 năm 1949, ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đương nhiên là ngày hoàng đạo, rất tốt. Đổi sang âm lịch được giờ thân ngày 10 tháng 8 năm kỷ sửu. Theo cách xếp trụ năm, năm 1949 có tiết lệnh tháng tám nằm giữa Bạch lộ và Hàn lộ nên trụ tháng là quý dậu. Tra lịch vạn niên, ngày 10 tháng 8 là ngày giáp tý. Qua câu "Giáp, kỷ còn thêm giáp", giờ thân là nhâm thân. Vậy Tứ trụ là: giờ nhâm thân, ngày giáp tý, tháng quý dậu, năm kỷ sửu.
Ví dụ thứ hai là kiểu thường xếp sai: người sinh trước lập xuân năm 1966. Ngày 2 tháng giêng năm 1966, nhiều người cho rằng đã sang mồng một tháng giêng tức là năm mới. Điều đó không đúng, vì lập xuân năm ấy rơi vào ngày 15 tháng giêng. Ngày 2 tháng giêng là sinh trước lập xuân, nên can chi năm vẫn lấy theo năm trước là ất tỵ, người này cầm tinh con rắn chứ không phải con ngựa. Tháng ấy nằm giữa Tiểu hàn và Lập xuân, tức thuộc tiết lệnh tháng mười hai, nên can chi tháng phải là kỷ sửu của năm trước. Tra lịch vạn niên được ngày tân tỵ. Nếu sinh buổi trưa thì theo cách xếp trụ giờ, can ngày tân gặp giờ ngọ ta có giáp ngọ. Tứ trụ người ấy là: giờ giáp ngọ, ngày tân tỵ, tháng kỷ sửu, năm ất tỵ.
Nhật nguyên là trung tâm của Tứ trụ
Mỗi người sống trên đời, vì giờ sinh rơi vào các trạng thái khác nhau của vũ trụ, nên hưởng khí âm dương bẩm sinh trong đục, vượng suy khác nhau. Tứ trụ lấy sự vượng suy của can ngày làm trung tâm; các can chi còn lại sinh khắc, phù trợ hay kìm chế can chi ngày sinh để tạo thành một hệ thống. Tổ hợp của can ngày với các can chi khác trong Tứ trụ là biểu tượng âm dương ngũ hành tạo nên đặc điểm của một con người cụ thể. Phú quý, phúc họa của người ấy đều xuất phát từ can ngày và thông qua nó thể hiện trạng thái được kết lại của người đó trong vũ trụ. Vì vậy can ngày sinh gọi là "nhật nguyên", hay "nhật chủ", hay "thân".
Năm mối quan hệ và mười thần
Nhật chủ là tôi, là thân mình. Quan hệ giữa tính ngũ hành của nhật chủ với tính ngũ hành của các can chi khác trong Tứ trụ không ngoài hai điều: chính hay thiên, và sinh hay khắc. Can ngày dương gặp các can dương khác là gặp đồng tính, gọi là thiên; can ngày dương gặp can âm là gặp dị tính, gọi là chính. Can ngày âm cũng vậy: gặp can âm là đồng tính, thiên; gặp can dương là dị tính, chính. Các can khác so với nhật chủ còn có năm mối quan hệ: sinh tôi, tôi sinh, khắc tôi, tôi khắc, ngang vai.
Cái sinh ra tôi là cha mẹ, nên gọi là ấn thụ. Ấn tức là che chở, thụ tức là được nhận. Cha mẹ có ân đức thì che chở con cháu, tức con cháu được phúc của cha mẹ. Nhà nước cho làm quan, phong chức tước là trao quyền ấn, quyền quản lý vào tay; quan không có ấn thì không có chỗ dựa, cũng như người không được nương tựa cha mẹ.
Cái tôi sinh ra là con cái, gọi là thực thần. Côn trùng ăn hoa quả thì làm tổn thương cây, còn con người ăn của cải thì lại tạo ra của cải.
Cái khắc tôi là cái khống chế, ràng buộc tôi, gọi là quan sát. Nhà nước phong quan cho mình tức mình thuộc người của nhà nước, phải phục vụ đến già mới thôi; vừa được chức quan vừa bị ràng buộc.
Cái tôi khắc là cái bị tôi khống chế, ràng buộc, gọi là thê tài. Như người lấy vợ lại được của hồi môn là ruộng vườn, tài sản cấp cho mình dùng, tức vợ đãi mình; vợ làm nội trợ trong nhà cũng đỡ khó khăn cho mình.
Cái ngang tôi là anh em, gọi là ngang vai.
Trong các mối quan hệ sinh khắc chế hóa ấy, khi nhật chủ dương gặp can âm khác thì gọi là chính, gặp can dương thì gọi là thiên. Ví dụ nhật chủ là can dương, gặp can âm của một trụ khác sinh ra mình là chính ấn, tức mẹ đẻ; gặp can dương của một trụ khác sinh ra mình thì gọi là thiên ấn, tức mẹ kế hay mẹ nuôi. Cho nên ngoài năm mối quan hệ còn có sự chia thành mười thần, cụ thể:
- Cái sinh tôi là cha mẹ: can âm sinh tôi dương, hay can dương sinh tôi âm, là chính ấn; can dương sinh tôi dương, hay can âm sinh tôi âm, là thiên ấn.
- Cái tôi sinh là con cái: tôi âm sinh can dương, hay tôi dương sinh can âm, là thương quan; tôi âm sinh can âm, hay tôi dương sinh can dương, là thực thần.
- Cái khắc tôi là quan sát: can âm khắc tôi dương, hay can dương khắc tôi âm, là chính quan; can âm khắc tôi âm, hay can dương khắc tôi dương, là thất sát.
- Cái tôi khắc là thê tài: tôi âm khắc can dương, hay tôi dương khắc can âm, là chính tài; tôi âm khắc can âm, hay tôi dương khắc can dương, là thiên tài.
- Cái ngang tôi là anh em: can âm gặp tôi dương, hay can dương gặp tôi âm, là kiếp tài; can âm gặp tôi âm, hay can dương gặp tôi dương, là ngang vai.
Tóm lại, tôi là nhật chủ. Khắc tôi, khống chế tôi là quan sát, đồng tính là thiên quan, dị tính là chính quan. Sinh tôi, phù trợ tôi là ấn tinh, đồng tính là thiên ấn, dị tính là chính ấn. Ngang tôi, giúp tôi là tỉ kiếp, đồng tính là ngang vai, dị tính là kiếp tài. Tôi sinh, làm tôi hao khí là thực thương, đồng tính là thực thần, dị tính là thương quan. Tôi khắc, làm hao mòn tôi là tài tinh, đồng tính là thiên tài, dị tính là chính tài. Cách tra mười thần của thiên can như sau: nhật chủ là giáp thì can khác trong Tứ trụ gặp giáp là ngang vai, gặp ất là kiếp tài, gặp bính là thực thần... các can khác suy theo cách ấy. Bảng dưới gom cả mười hàng, mỗi hàng là một nhật chủ:
| Nhật chủ | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân | Nhâm | Quý |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Giáp | Ngang vai | Kiếp tài | Thực thần | Thương quan | Thiên tài | Chính tài | Thất sát | Chính quan | Thiên ấn | Chính ấn |
| Ất | Kiếp tài | Ngang vai | Thương quan | Thực thần | Chính tài | Thiên tài | Chính quan | Thất sát | Chính ấn | Thiên ấn |
| Bính | Thiên ấn | Chính ấn | Ngang vai | Kiếp tài | Thực thần | Thương quan | Thiên tài | Chính tài | Thất sát | Chính quan |
| Đinh | Chính ấn | Thiên ấn | Kiếp tài | Ngang vai | Thương quan | Thực thần | Chính tài | Thiên tài | Chính quan | Thất sát |
| Mậu | Thất sát | Chính quan | Thiên ấn | Chính ấn | Ngang vai | Kiếp tài | Thực thần | Thương quan | Thiên tài | Chính tài |
| Kỷ | Chính quan | Thất sát | Chính ấn | Thiên ấn | Kiếp tài | Ngang vai | Thương quan | Thực thần | Chính tài | Thiên tài |
| Canh | Thiên tài | Chính tài | Thất sát | Chính quan | Thiên ấn | Chính ấn | Ngang vai | Kiếp tài | Thực thần | Thương quan |
| Tân | Chính tài | Thiên tài | Chính quan | Thất sát | Chính ấn | Thiên ấn | Kiếp tài | Ngang vai | Thương quan | Thực thần |
| Nhâm | Thực thần | Thương quan | Thiên tài | Chính tài | Thất sát | Chính quan | Thiên ấn | Chính ấn | Ngang vai | Kiếp tài |
| Quý | Thương quan | Thực thần | Chính tài | Thiên tài | Chính quan | Thất sát | Chính ấn | Thiên ấn | Kiếp tài | Ngang vai |
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
