Bài tổng quan
Hợp hóa, xung, hình, hại và quy tắc hội cục trong Tứ trụ
Hai thiên can kề nhau hợp lại, nhưng không phải cặp hợp nào cũng hóa thành ngũ hành mới, có cặp chỉ hợp mà vẫn giữ nguyên bản tính. Địa chi xung nhau thì người ấy hay dời chỗ ở, đổi nghề, hay rời xa quê tổ. Điều kiện nào quyết định một cuộc hợp là hóa thật hay hóa giả…
Hợp hóa thật và hợp mà không hóa
Điều đầu tiên khi xét can chi hợp hóa là phân biệt hợp mà hóa với hợp mà không hóa.
Thiên can có hợp hóa được hay không phải lấy can ngày làm chủ. Can tháng hoặc can giờ, tức hai can kề bên can ngày, hợp với can ngày, và chi tháng cùng ngũ hành với kết quả hóa thì mới gọi là hợp hóa. Ví dụ giáp hợp kỷ hóa thổ: can ngày là giáp, can tháng hoặc can giờ là kỷ; hoặc can ngày là kỷ, can tháng hoặc can giờ là giáp; mà chi tháng sinh là thìn, tuất, sửu, mùi, tức tháng thổ, ngũ hành đều là thổ, thì đó là sự hợp có hóa.
Còn hai trường hợp khác cũng hợp hóa được. Một là thiên can của năm và tháng cùng hợp, chi năm cũng có gốc ở ngũ hành hợp hóa nên hóa được; chẳng hạn năm canh tháng ất hợp thành kim, chi năm là thân kim. Hai là can ngày hợp với can tháng, hoặc can ngày hợp với can giờ, chi tháng không hóa nhưng ngũ hành được hóa lại nằm trong ba chi còn lại hợp thành cục hoặc hội thành cục, thì cũng nói được là hợp có hóa. Ví dụ ngày canh với tháng ất hợp kim, chi tháng không phải thân hay dậu, nhưng ba chi của năm, ngày, giờ hợp thành thân tý thìn hoặc thân dậu tuất, thì sự hợp ấy có hóa.
Địa chi có hợp hóa được hay không thì do hai chi kề sát nhau, hơn nữa thiên can phải lộ ra ngũ hành đúng với kết quả hóa thì mới hóa được. Ví dụ mão hợp tuất hóa hỏa, trên thiên can phải lộ bính hỏa hoặc đinh hỏa cùng ngũ hành địa chi thì mới thành hóa. Hợp với những chi không nằm sát bên gọi là hợp xa, lực rất yếu, không đủ thành khí. Hợp với chi ngay bên cạnh nhưng không hóa thì gọi là hợp mà không hóa.
Ngoài ra, phàm thiên hợp hay địa hợp, sau khi hợp hóa mà bàn theo ngũ hành đã hóa thì ngũ hành ban đầu coi như mất tác dụng. Với sự hợp mà không hóa thì ngũ hành vẫn đứng độc lập, không sinh khắc hay hình xung với các can chi khác. Nhưng khi đến đại vận hay lưu niên nào đó lại hiện ra ngũ hành ấy thì lực hợp của nó tăng lên.
Quy tắc sinh khắc giữa các thiên can
Tương sinh. Can sinh với can ở bên cạnh có lực mạnh hơn với can cách xa. Tương sinh đồng tính mạnh hơn khác tính. Can đem sinh cho người thì khí bị giảm, can được sinh thì khí mạnh thêm.
Tương khắc. Hai cát thần khắc nhau là hung; hai hung thần khắc nhau lại là cát. Hai can khắc nhau đều bị tổn thương, và can bị khắc tổn thương nhiều hơn. Khắc cách một can mà can ở giữa hóa giải thì không còn gọi là khắc nữa. Chẳng hạn bính hỏa khắc cách can canh kim, can ở giữa là thổ: thổ làm hỏa xì hơi, sinh ra kim khí, nối nhau tương sinh nên gọi là sinh chứ không gọi là khắc. Trong khắc có hợp, hợp mất sự khắc thì cũng không còn là khắc: bính hỏa khắc canh kim, nhưng trong Tứ trụ có tân, bính tân hợp thành thủy, thủy khắc hỏa, nên bính hỏa khắc không nổi canh kim. Lại nữa, can ngày bị một can khác khắc, mà can khắc ấy lại bị một can khác chế ngự, thì không gọi là can ngày bị khắc. Ví dụ can ngày là canh, bị can tháng bính khắc, bính lại bị can năm nhâm chế phục, như vậy gọi là nhâm bính khắc nhau chứ không phải bính canh khắc nhau.
Thiên can hợp hóa chủ về những việc gì
Thiên can hợp hóa mà là hóa thật, Tứ trụ được vậy thì người ấy phú quý tới bậc công hầu khanh tướng. Nếu hợp hóa là hóa giả thì người ấy hoặc mồ côi, hoặc cả đời đi tu. Can mà hợp là điềm hôn nhân sớm. Dưới đây là một số trường hợp hợp hóa để bạn đọc tham khảo và kiểm nghiệm; vì số Tứ trụ khảo sát chưa nhiều, chưa đủ để khái quát, lại thêm người xưa bàn vấn đề này rất phức tạp, nên còn cần qua thực tiễn kiểm nghiệm thêm.
Giáp hợp kỷ hóa thổ là sự hợp trung chính, chủ về yên phận thủ thường, trọng chữ tín. Nếu mệnh cục không có thổ mà có thất sát thì là người thiếu tình nghĩa, gian giảo nhiều, không biết liêm sỉ, tính thô thiển.
- Can ngày giáp hợp kỷ: gặp ất mộc thì thê tài ngầm hao tổn; gặp đinh hỏa thì có lộc cũng như không; gặp tân kim thì cao sang, nhà cao cửa rộng; gặp mậu thổ thì nhà cửa lộng lẫy giàu sang; gặp quý thủy thì cuộc đời dần hạnh phúc; gặp canh kim thì nhà hưng thịnh; gặp bính hỏa thì hưởng lộc dồi dào.
- Can ngày kỷ hợp giáp: gặp đinh hỏa thì bị người lăng nhục; gặp ất mộc thì tự mình gặp nạn; gặp tân kim thì giàu sang cự phú; gặp canh kim thì cô đơn nghèo khổ; gặp quý thủy thì quan cao chức trọng.
Ất hợp canh hóa kim là sự hợp chủ về nhân nghĩa; người ấy có cả cương lẫn nhu, trọng nhân nghĩa. Nếu Tứ trụ có thiên quan, hoặc vận kém, tử tuyệt thì tính cố chấp, không nhân nghĩa.
- Can ngày ất hợp canh: gặp bính hỏa thì cuộc sống khó khăn; gặp nhâm thủy thì vinh hoa; gặp đinh hỏa thì cuộc sống vui vẻ, tươi đẹp như mùa xuân; gặp tân kim thì cuộc đời như cỏ mùa thu gặp sương gió; gặp giáp mộc thì lúa gạo đầy kho.
- Can ngày canh hợp ất: gặp đinh hỏa thì như rồng gặp mây; gặp nhâm thủy thì tài lộc ngày càng tiến; gặp mậu thổ thì không giàu sang nổi tiếng.
Bính hợp tân hóa thủy là sự hợp uy nghiêm; người ấy nghiêm trang, trí lực dồi dào. Nếu Tứ trụ có thất sát, hoặc gặp vận tử tuyệt thì tính thô bạo, vô tình.
- Can ngày bính hợp tân: gặp mậu thổ thì công thành danh toại; gặp ất mộc thì quyền cao chức trọng; gặp quý thủy, kỷ thổ thì cửa nhà nổi tiếng; gặp nhâm thủy, thìn thổ thì tai họa đại bại.
- Can ngày tân hợp bính: gặp mậu thổ, canh kim thì công thành danh toại.
Đinh hợp nhâm hóa mộc là sự hợp chủ về nhân nghĩa và thọ; người ấy hiền từ, tuổi thọ cao. Phụ nữ mà trong mệnh thủy cục vượng quá làm mộc xì hơi thì đó là sự hợp dâm loạn. Nếu đóng ở chỗ tử tuyệt thì là người phá nhà vì rượu và sắc.
- Can ngày đinh hợp nhâm: gặp bính hỏa thì quanh năm nhàn nhã; gặp tân kim thì gặp may, phú quý song toàn; gặp mậu thổ thì cuộc sống an nhàn; gặp quý thủy thì lẻ loi nơi chân trời góc biển; ất mộc trùng trùng thì cả đời không tài lộc; trong trụ nhiều canh kim thì không có danh vọng; gặp giáp hoặc thìn thì chức lộc dồi dào; gặp kỷ cùng dậu thì chức lộc vẹn toàn.
- Can ngày nhâm hợp đinh: gặp giáp mộc thì hay thất bại; gặp tân kim thì ruộng vườn bạt ngàn; gặp bính hỏa thì thành anh hùng hào kiệt; gặp quý thủy thì buôn bán vất vả; gặp kỷ thổ thì có chức có quyền; gặp mậu thổ thì bồng bềnh trôi nổi; gặp canh kim thì mọi việc không thành; gặp ất mộc thì chết yểu.
Mậu hợp quý hóa hỏa là sự hợp vô tình, như người diện mạo tuấn tú mà trong lòng không có tình nghĩa. Nam giới thường hay lang thang chơi bời; nữ giới thường lấy được chồng đẹp.
- Can ngày mậu hợp quý: gặp ất mộc thì cuối đời có thể thành đạt; gặp nhâm thủy thì tự lập làm giàu; gặp bính hỏa thì khó có phúc lộc; gặp canh kim thì thường suôn sẻ; gặp kỷ thổ thì vợ con bị tổn hại; gặp tân kim là người nhiều mưu lược.
- Can ngày quý hợp mậu: gặp bính tân thì cuộc đời nhiều thành đạt mà cũng nhiều thất bại; gặp giáp kỷ thì suốt đời vất vả, lao tâm lao lực; gặp đinh hỏa thì kho tàng đầy ắp; gặp canh kim thì nhiều ruộng vườn của cải; gặp ất mộc thì chức cao quyền quý; gặp nhâm thủy thì tài lộc song toàn; gặp tân kim thì tài lộc lúc được lúc mất; gặp kỷ thổ thì tiền đồ học hành tăng tiến.
Địa chi lục xung chủ về những việc gì
Kỵ thần bị xung là tốt, hỉ thần bị xung là xấu. Cụ thể từng cặp:
- Tý ngọ xung nhau thì thân thể không yên ổn.
- Mão dậu xung nhau thì thất tín bội ước, lo buồn nhiều, tình cảm bị chia rẽ.
- Dần thân xung nhau là người đa tình, hay quản những việc không đâu.
- Tỵ hợi xung nhau là người ham làm, ham giúp đỡ người khác.
- Thìn tuất xung nhau là khắc người thân, làm tổn hại con cái, đoản thọ.
- Sửu mùi xung nhau thì việc gì cũng hay gặp trắc trở.
Xét theo vị trí trong lá số: chi năm xung chi tháng là người rời xa đất tổ quê hương; chi năm xung chi ngày là người bất hòa với người thân; chi năm xung chi giờ là người bất hòa với con cái; chi năm xung cả chi tháng, chi ngày, chi giờ là người tính thô bạo hoặc hay bệnh tật; chi ngày xung chi tháng là người hay xúc phạm cha mẹ anh em. Tứ trụ gặp xung phần nhiều là người không ở nhà của cha mẹ. Nếu tý ngọ mão dậu xung nhau thì hay đổi chỗ ở, còn nghề vẫn như cũ; dần thân tỵ hợi xung nhau là xung về nghề nghiệp, chỗ ở và nghề đều đổi; thìn tuất sửu mùi xung nhau là xung về nghề nghiệp, chỗ ở không đổi nhưng nghề đổi.
Địa chi tương hình và tương hại chủ về những việc gì
Dần hình tỵ, tỵ hình thân, thân hình dần là hình phạt do vong ân. Người có tương hình này trong Tứ trụ, hoặc gặp tuế vận tương hình, thì tính lãnh đạm, khô khan, bạc nghĩa, hoặc bị người hại hay gặp việc xấu; nếu lại đóng vào các cung tử tuyệt thì càng nặng. Phụ nữ gặp loại hình này thường hay sẩy thai.
Mùi hình sửu, sửu hình tuất, tuất hình mùi là hình phạt do đặc quyền đặc thế gây nên. Người có loại hình này thường cậy quyền thế làm quá nên dễ thất bại. Nếu rơi vào cung trường sinh, mộc dục, quan đái, lâm quan, đế vượng thì tinh thần cương nghị; nếu trong trụ có tử tuyệt thì thấp hèn hoặc giảo quyệt, hay gặp bệnh tật hoặc chuốc lấy tai họa. Phụ nữ thì cuộc đời thường cô độc.
Tý hình mão, mão hình tý là hình phạt do vô lễ. Trong Tứ trụ có hình này thì người ấy thường thiếu độc lập tự chủ, hành động có đầu không có đuôi, cố chấp, thành kiến, thường rơi vào hoàn cảnh khó khăn, dung mạo xấu xí, nội tâm ác độc. Gặp tử tuyệt thì suy nghĩ nông cạn, nặng thì có thể bệnh tật. Ngày sinh gặp hình này thì vợ hoặc chồng có bệnh; giờ sinh gặp hình này thì con cái bệnh tật yếu đuối. Trong Tứ trụ có hai loại tương hình thì điềm xấu càng nặng; nhưng nếu mệnh của Tứ trụ tốt thì ngược lại càng thêm tốt.
Về tương hại: tý mùi hại nhau thì da thịt khô khan. Sửu ngọ, mão thìn hại nhau thì hay giận dữ, ít kiên nhẫn, nếu đồng ở những cung xấu thì e dễ bị tàn tật. Dần tỵ hại nhau mà Tứ trụ nhiều kim thì bệnh tật đầy thân. Dậu tuất hại nhau nếu nặng thì bị câm điếc, hoặc mặt nhiều nhọt độc. Chi tháng bị tương hại thì cô độc, bạc mệnh, nữ càng nặng hơn. Chi ngày, chi giờ bị tương hại thì về già thường tàn tật.
Quy tắc chung của hội cục, hợp, xung
Thiên can hóa hợp là khí tốt, địa chi hợp cục là phúc đức. Can hợp chi hợp là hòa thuận, nói chung tốt nhiều hơn xấu. Tứ trụ có hình, hại, xung là biểu hiện can chi của mệnh cục không hòa thuận, xấu nhiều hơn tốt. Đi vào cụ thể thì phải phân tích sự hợp ấy tốt hay có hại cho dụng thần, hình, hại, xung có ích hay làm tổn thương dụng thần.
Trong các cách cục, tam hình và lục hại gặp hợp không nhiều. Nói chung hình, hại, xung chỉ đi từng cặp, hoặc một cái hình, xung, hại đối với ba cái. Dưới đây là nguyên tắc cho các trường hợp trong cách cục có tam hội, tam hợp cục, bán hợp cục, lục xung và lục hợp.
- Lực của tam hội cục lớn hơn các loại khác, vì tam hội thành khí của cùng một phương; sau đó đến tam hợp cục. Hễ ba chi của hội cục hay hợp cục đã đầy đủ thì những chi còn lại không thể gây trở ngại gì.
- Tam hội gặp lục xung thì vẫn coi là hội cục mạnh hơn. Tam hợp cục gặp lục xung thì chỉ trừ trường hợp tý, ngọ, mão, dậu trong hợp cục bị chi liền kề xung phá, còn lại đều coi là hợp.
- Các chi vượng của tam hợp cục hợp với nhau thì coi là trường sinh, đế vượng; đế vượng hợp với bán mộ kho (như hợi với mão, mão với mùi) thì được; trường sinh và mộ kho gặp nhau thì không phải bán hợp vượng (hợi bán hợp với mùi thì gần như không hợp).
- Khi chi vượng bán hợp với chi liền cạnh, mà lại gặp chi vượng liền cạnh xung thì coi là xung. Bán hợp bị chi vượng bên cạnh xung nhưng xung không động thì vẫn coi là bán hợp. Bán hợp gặp chi cách ngôi xung thì coi là xung.
- Trong bán hợp cách ngôi, nếu chi ở giữa không quan trọng mà ngũ hành do bán hợp thấu ra có ích thì bán hợp ấy được coi là có ích, ngược lại là vô dụng. Chẳng hạn bán hợp hợi mão, chi ở giữa không quan trọng thì bán hợp ấy vô dụng; nhưng tam hợp cục hóa mộc, nếu can thấu giáp hoặc ất thì có thể dùng được.
- Bán hợp mà chi vượng gặp lục hợp thì lấy bán hợp làm chính. Lục xung gặp lục hợp, trừ khi lục hợp có lực, còn không vẫn coi là xung. Ví dụ năm mùi, tháng ngọ, ngày tý: ngọ mùi hợp thổ, nếu mùi có lực thì không coi là tý ngọ xung.
- Trong các chi xung nhau, tý ngọ và mão dậu là xung khí gốc: tý xung ngọ thì tý là bên khắc, ngọ là bên bị khắc; mão xung dậu thì dậu là bên khắc, mão bị khắc. Đó là sự xung có nghĩa tương tranh, rất kịch liệt. Lực xung của dần thân tỵ hợi yếu hơn. Sự xung của thìn tuất, sửu mùi là xung khí gốc của thổ, được kích lên mà vượng nên có nghĩa là xung chứ không khắc; nhưng quan hệ giữa khí gốc và dư khí của can tàng bên trong thì vẫn coi là sinh hoặc khắc. Xung cách ngôi là xung không có lực nên không đáng kể.
Tóm lại, lực tam hội cục lớn hơn tam hợp cục; tam hợp cục lớn hơn bán hợp vượng; bán hợp vượng lớn hơn bán hợp không vượng. Khi hợp cục có lợi cho Tứ trụ thì xem là hỉ thần, ngược lại là kỵ; khi xung có lợi cho Tứ trụ thì xem là hỉ, ngược lại là kỵ.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
