Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Phi hóa

Bài tổng quan

Mỗi việc một bộ cung: cách chọn cung để luận từng chuyện đời

Tử Vi Bắc Phái - Phi hóa03/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Mỗi việc một bộ cung: cách chọn cung để luận từng chuyện đời

Muốn biết một cuộc hôn nhân có giữ được không, phải nhìn vào những cung nào? Mỗi chuyện đời có một bộ cung riêng, từ tình duyên đến bệnh tật, từ tiền của đến thi cử. Chọn sai cung gốc thì mũi tên phi hóa đi đến đâu cũng đọc ra điều lạc đề…


Lập thái cực trước, rồi mới gọi các cung giúp sức

Trong Phi Tinh, mỗi câu hỏi đặt ra trên lá số đều có một "bộ cung" để trả lời. Người luận chọn một cung làm gốc của câu chuyện, gọi là lập thái cực, rồi mời thêm vài cung khác vào làm đối tượng, làm biểu hiện, làm hoàn cảnh. Chọn đúng bộ cung thì tứ hóa phi đi đâu cũng có chỗ để hiểu. Chọn sai, dù có thuộc nghĩa các sao cũng đọc ra những điều lạc đề.

Có một điều phải nhớ dưới mọi cách chọn: cung Mệnh luôn là thái cực tuyệt đối. Dù luận chuyện gì cũng không được coi nhẹ tứ hóa của Mệnh.

Vì sao bộ cung lại như vậy? Mỗi cung được chọn đều có lý từ chính nghĩa của nó. Chuyện cưới hỏi cần Điền Trạch vì đó là nhà, là nơi gia đình lập nên; cần Phụ Mẫu vì đó là cung giấy tờ. Chuyện đau ốm cần Tật Ách vì đó là thân xác, cần Phúc Đức vì đó là phúc phần, quyết định bệnh có qua khỏi hay không. Chuyện kiếm tiền lập nghiệp nhìn về Điền Trạch vì đó là kho cất giữ. Hễ biết nghĩa gốc của từng cung thì không cần học thuộc bảng này; chỉ cần tự hỏi việc này cần ai làm người trong cuộc, ai làm hoàn cảnh, ai làm kết quả.

Mỗi chuyện đời có một khuôn cung riêng, và khuôn ấy đổi hẳn khi câu hỏi chuyển từ tình duyên sang bệnh tật, từ tiền của sang danh vọng.

Chuyện tình cảm và hôn nhân

Luận tình cảm

Lấy Phu Thê lập thái cực. Giao Hữu là cung của đối tượng, người đang đứng bên kia. Phúc Đức là cung biểu hiện tâm tình, tức lòng người thực sự nghĩ gì. Cần xét thêm Điền Trạch, Phụ Mẫu, Thiên Di, Tật Ách. Có một mẹo: có thể tìm trực tiếp hai sao Liêm Trinh và Tham Lang, vì vào cung nào hai sao này cũng chủ chuyện tình cảm.

Luận kết hôn

Phu Thê lập thái cực. Điền Trạch là việc lập gia đình. Phụ Mẫu là cung văn thư, giấy tờ, thủ tục đăng ký. Xét thêm Phúc Đức và Thiên Di.

Luận ly dị

Phu Thê lập thái cực. Điền Trạch lúc này là sự chia rẽ của gia đình. Phụ Mẫu vẫn là giấy tờ, văn thư. Xét thêm Phúc Đức, nơi tình cảm thật hiện ra.

Phân phòng, phân giường và ở riêng

Hai chuyện gần nhau, đều lấy Phu Thê lập thái cực, Giao Hữu là thân thể của người phối ngẫu, Tật Ách là thân thể của mình, và cần xét Phúc Đức. Khác nhau ở cung thứ tư:

  • Phân phòng, giường: thêm Huynh Đệ, vì đó là phòng, là giường.
  • Ở riêng, khác phòng: thêm Điền Trạch, vì chuyện không cùng một nhà, một phòng.

Sức khỏe, sống chết và nghiệp quả

Đau ốm

Lấy Tật Ách lập thái cực. Phúc Đức là phúc phần. Huynh Đệ là vận của thân thể. Xét thêm Thiên Di (phúc vận) và Tử Nữ (cung cộng tông lục vị của Phúc Đức). Với bệnh ung nhọt, hãy tìm hai sao Cự Môn (ám diệu) và Liêm Trinh (độc tố).

Chuyện sống chết

Lấy Phúc Đức lập thái cực. Tật Ách cho thấy tình trạng sức khỏe. Thiên Di là phúc vận. Xét thêm Huynh Đệ (vận thân thể) và Tử Nữ (cộng tông lục vị của Phúc Đức).

Chuyện ngoài ý muốn và bệnh nhân quả

Lấy Thiên Di hoặc Phúc Đức lập thái cực. Tật Ách là tình trạng sức khỏe. Tử Nữ là cộng tông lục vị của Phúc Đức. Có thể xem thêm Huynh Đệ (vận thân thể).

Vận mệnh, giàu nghèo, giữ nghiệp và cơ duyên

Định mệnh cách: nghèo hay hiển

Lấy tam phương Điền Trạch làm chủ, vì đó là cung thu tàng. Lấy tam phương Phúc Đức làm chủ, vì đó là phúc phần. Tam phương Mệnh chỉ là phụ trợ, tượng trưng cho việc tận lực cố gắng.

Tế ngộ, tức kỳ ngộ

Thiên Di lập thái cực. Phúc Đức là phúc phần. Tam phương Mệnh là sự cố gắng của chính mình.

Thủ thành và an định

Tam phương Điền Trạch là chủ, vì là cung thu tàng. Tam phương Mệnh làm phụ, tức sự tận lực.

Dịch mã

Thiên Di lập thái cực. Tật Ách là thân thể người đi. Điền Trạch là nơi đóng trụ sở. Xét thêm Phụ Mẫu (cộng tông lục vị của Thiên Di) và Tử Nữ (vị trí dịch mã).

Nhà cửa, tài sản và vị thế

Chuyển nhà

Điền Trạch lập thái cực. Thiên Di và Tử Nữ đều là vị trí dịch mã. Tật Ách là gia vận.

Trí sản, tức mua sắm tạo tài sản

Điền Trạch lập thái cực. Tài Bạch và Phụ Mẫu là tiền mặt cùng chuyện cho vay. Huynh Đệ là vị trí kinh tế. Tật Ách là vận của tài sản. Xét thêm Phúc Đức và Thiên Di, tức phúc phận, để biết có được trợ giúp khi tạo sản nghiệp hay không.

Địa vị xã hội

Thiên Di lập thái cực. Giao Hữu là vị trí nhân tế, quan hệ với người. Tam phương Điền Trạch là vị trí thực lực. Tam phương Mệnh cũng được xét. Điều cần nhớ: muốn Thiên Di có Hóa Quyền nhập tam phương Mệnh hoặc tam phương Điền, lại được Giao Hữu Hóa Lộc nhập, đó là thế "củng giao".

Danh vọng, thi cử và nghệ thuật

Tranh cử

Thiên Di lập thái cực. Giao Hữu là vị trí cạnh tranh, tức đối thủ. Huynh Đệ là vị trí thực lực.

Thi cử

Phụ Mẫu lập thái cực. Giao Hữu là vị trí cạnh tranh. Mừng nhất khi Phúc Đức, Thiên Di cùng Phụ Mẫu có Lộc Quyền củng giao. Cách chọn cung thi cử này khác cách xem vận học tập qua cung Quan Lộc, mỗi lối soi vào một mặt của chuyện học hành.

Nghệ thuật

Thiên Di lập thái cực. Giao Hữu là người xem, khán giả. Phúc Đức là tài hoa.

Con cái, tính nết và căn khí

Con cái nhiều hay ít

Lấy Tử Nữ lập thái cực. Nhất định phải xem Điền Trạch, tức gia đình thịnh hay suy. Phúc Đức là phúc phận.

Tính hướng, thiên phú, căn khí

Phúc Đức làm chủ. Thiên Di cũng là chủ. Mệnh và Tật Ách đi kèm.

Vui vẻ, tính khí tốt

Mệnh, Phúc Đức, Tật Ách Hóa Lộc nhập Thiên Di hoặc Phụ Mẫu, tức bộ mặt ngoài của người đó.

Hay giận, nóng tính

Mệnh, Phúc Đức, Tật Ách có Kỵ tọa thủ; hoặc Mệnh, Phúc Đức, Tật Ách Hóa Kỵ nhập Thiên Di, Phụ Mẫu.

Bạc nhược, dạ mỏng, ý chí không bền

Dạng người tinh thần hao tổn, yếu ớt, hành vi lộn xộn. Dấu hiệu: hai cung Thiên Di và Phụ Mẫu, tức bộ mặt ngoài, gặp nhiều Kỵ.

Chọn thái cực nào thì Kỵ cũng đổi nghĩa

Việc chọn cung gốc quan trọng đến mức cùng một Hóa Kỵ, đứng ở hai cung gốc khác nhau, nói hai điều khác hẳn nhau.

Khi Kỵ xuất phát từ cung Mệnh, nó nói rằng người này cố chấp và dốc sức vào cung nhận. Người ấy tự đi tìm chuyện, nên thường khổ không dứt. Ví dụ Mệnh sinh Kỵ nhập Phu Thê: người này u mê trong tình cảm, biết là xấu vẫn không buông, làm quá mức hoặc không biết mệt.

Nhưng chẳng phải ai mang Kỵ cũng khổ như nhau. Nếu Kỵ xuất phát từ Phúc Đức rồi nhập Phu Thê, nó nói một chuyện khác: kiểu khăng khăng, ít bao dung. Tuy dụng tâm khổ cực, nhưng dễ thành yêu quá hóa hận. Những vụ tình sát nhiều dạng thường thuộc kiểu này: yêu thì muốn đối phương sống, hận thì muốn đối phương chết.

Đặc biệt, Phúc Đức Kỵ nhập Thiên Di hoặc Phụ Mẫu là dạng cá tính hướng ngoại rất bạo liệt. Nếu thêm Quyền thì thành can đảm. Khi Kỵ nhập Thiên Di, Phụ Mẫu thì ra ngoài thổ lộ thô lỗ, không nhẫn nhịn nổi. Phụ Mẫu và Thiên Di cùng gốc theo số một sáu: một cung biểu hiện tu dưỡng của một người, mở rộng ra là cung biểu hiện "đạo đức quy chuẩn" của xã hội.

Thế nên khi gặp một mũi tên Kỵ, câu đầu tiên không phải "Kỵ này xấu hay tốt", mà là "Kỵ này xuất phát từ cung gốc nào?". Cung gốc là người nói; cung nhận là điều người ấy nói tới.

Sáu cung ta tận sức, sáu cung theo mệnh trời

Mệnh bàn mười hai cung chia thành bốn tam phương: Mệnh, Điền Trạch, Phúc Đức, Giao Hữu. Trong đó, "tận nhân sự" là hai tam phương Mệnh và Điền Trạch, sáu cung; sáu cung còn lại là "tri thiên mệnh", biết mệnh trời. Người đời đều hiểu muốn tận nhân sự thì phải "hữu thủ" và "hữu vi". Thủ là dụng tâm vào tam phương Điền Trạch; vi là nỗ lực ở tam phương Mệnh.

Vậy tại sao hai người cùng dốc sức, cùng có thủ có vi mà thành tựu khác xa nhau? Vì mỗi người đi một con đường riêng, nghiệp lực thiện ác khác nhau nên gặp may rủi cũng khác, và nó lộ ra trong vận hạn. Nghiệp là điều không thể thay đổi, do tam phương Phúc Đức cai quản. Cái vốn có thì không ai đổi được.

Tam phương Giao Hữu gồm Giao Hữu, Phụ Mẫu, Tử Nữ. Cha mẹ và con cái là định nghiệp cố hữu. Trong quá trình giao tiếp với bạn bè, thành hay bại cũng không do ta chủ động, vẫn là một loại nghiệp lực đã định.

Nhất lục cộng tông: chuyện giản đơn hóa thành phức tạp

"Thiên nhất sinh Nhâm thủy, địa lục Quý thành chi": trời sinh số một, đất thành số sáu. Một và sáu cùng gốc, ấy là lý của "nhất lục cộng tông". Với tam phương Điền Trạch, nó dẫn đến ba cặp:

  • Mệnh (1) và Tật Ách (6). Tư tưởng, ý chí của ta cộng với thân xác hành động mới là "ta hoàn chỉnh". Thân xác biến mất thì mọi chuyện của ta tan như khói sương.
  • Tài Bạch (1) và Điền Trạch (6). Tiền mặt cộng với tài sản mới là cái nhìn trọn vẹn về tài phú.
  • Sự Nghiệp (1) và Huynh Đệ (6). Phương thức kiếm tiền cộng với tổng thể kinh tế mới được coi là thành tựu.

Lấy tam phương Điền Trạch ngang hàng với tam phương Mệnh nghĩa là: toàn bộ thành tựu của một kiếp người, đến khi người ấy qua đời mới luận định được. Cho nên tam phương Mệnh không quyết định được cách cục cao hay thấp. Khi xem cách cục, lấy tam phương Điền Trạch làm Thể, còn tam phương Mệnh làm Dụng.

Bảng tóm tắt cung gốc cho từng việc

Việc cần luậnCung lập thái cựcCung đi kèm
Tình cảmPhu ThêGiao Hữu (đối tượng), Phúc Đức (tâm tình)
Kết hônPhu ThêĐiền Trạch, Phụ Mẫu, Phúc Đức, Thiên Di
Ly dịPhu ThêĐiền Trạch, Phụ Mẫu, Phúc Đức
Phân phòng, giườngPhu ThêGiao Hữu, Tật Ách, Huynh Đệ, Phúc Đức
Ở riêngPhu ThêGiao Hữu, Tật Ách, Điền Trạch, Phúc Đức
Đau ốmTật ÁchPhúc Đức, Huynh Đệ, Thiên Di, Tử Nữ
Sống chếtPhúc ĐứcTật Ách, Thiên Di, Huynh Đệ, Tử Nữ
Ngoài ý muốn, bệnh nhân quảThiên Di hoặc Phúc ĐứcTật Ách, Tử Nữ, Huynh Đệ
Giàu nghèo, sang hènTam phương Điền Trạch và Phúc ĐứcTam phương Mệnh
Kỳ ngộThiên DiPhúc Đức, tam phương Mệnh
Giữ nghiệp, an địnhTam phương Điền TrạchTam phương Mệnh
Dịch mãThiên DiTật Ách, Điền Trạch, Phụ Mẫu, Tử Nữ
Chuyển nhàĐiền TrạchThiên Di, Tử Nữ, Tật Ách
Tạo tài sảnĐiền TrạchTài Bạch, Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Tật Ách, Phúc Đức, Thiên Di
Địa vị xã hộiThiên DiGiao Hữu, tam phương Điền Trạch, tam phương Mệnh
Tranh cửThiên DiGiao Hữu, Huynh Đệ
Thi cửPhụ MẫuGiao Hữu, Phúc Đức, Thiên Di
Nghệ thuậtThiên DiGiao Hữu (khán giả), Phúc Đức (tài hoa)
Con cái nhiều ítTử NữĐiền Trạch, Phúc Đức
Tính hướng, thiên phúPhúc Đức, Thiên DiMệnh, Tật Ách

Bảng này chỉ là bộ khung gọn của những điều đã nói. Mỗi dòng trong đó đều có nguyên do riêng từ nghĩa của từng cung, và luôn kèm với lời dặn không quên tứ hóa của cung Mệnh.

Nguồn: Lương Nhược Du, Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số 12 cung 672 tượng.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Phi hóa