Bài tổng quan
Mệnh phi Lộc, mệnh phi Kỵ và ba kiểu Kỵ đòi nợ
Mệnh hóa Lộc vào đâu thì ta trao niềm vui vào đó, mệnh hóa Kỵ vào đâu thì ta nguyện nhọc nhằn vì đó. Còn khi cung khác hóa Kỵ về tìm ta, món nợ ấy đòi bằng lao tâm, lao lực hay phiền não…
Mệnh phi Lộc: ta trao phúc cho cung nào
Lộc năm sinh là phần trời cho, còn Lộc phi ra từ cung Mệnh là chỗ ta chủ động trao niềm vui và sự khoan dung. Mệnh hóa Lộc vào cung nào thì nhìn cung ấy bằng con mắt thuận duyên. Mệnh phi Lộc vào từng cung cho các tượng như sau.
Vào Huynh Đệ
Ta có duyên tốt với anh em, hoặc với người cùng mẹ. Nhờ học tập và nỗ lực mà sự nghiệp dễ thành công, kinh tế linh hoạt. Nhờ rèn luyện mà thể chất khỏe mạnh. Nếu là Tham Lang hoặc Liêm Trinh, hai sao đào hoa, hóa Lộc thì công năng thận rất tốt, và cũng có tín hiệu đa tình.
Vào Phu Thê
Ta và người phối ngẫu có duyên lành; ta đa tình với người khác phái. Nếu chuỗi xâu đi qua Liêm Trinh, Tham Lang nhiều Lộc thì dễ lãng mạn, đa tình. Phu Thê là Phúc của Tài Bạch nên ta có phúc tài hỗ trợ, sự nghiệp sau khi kết hôn thuận lợi. Xâu với cung Tài có nhiều Lộc Quyền, lại giao với thiên tài tinh (Phá Quân, Tham Lang, Liêm Trinh), dễ được người khác phái trợ giúp mà phát tài. Xâu với Điền Trạch nhiều Lộc Kỵ thì dễ hưng gia vận.
Vào Tử Nữ
Lòng, tinh thần, suy nghĩ của ta tìm niềm vui nơi con cái, và ta cũng nhận được hạnh phúc từ con. Duyên với con cái dày, giáo dục khoan dung, dễ cưng chiều con. Có duyên giao tiếp, giao dịch dễ thành công. Sức khỏe tốt; nếu có sao đào hoa tọa Lộc thì công năng thận mạnh, đề phòng phóng dục quá độ.
Vào Tài Bạch
Tài Bạch chủ tiền mặt đang có trong tay, nghề mang lại tiền mặt (tam phương của Mệnh là tam phương cấp quản), trạng thái kiếm tiền (khổ cực hay dễ dàng). Ta có duyên với tiền mặt, kiếm tiền dễ, thu nhập tốt, hợp làm việc với tiền mặt hay thu nhập từ hoa hồng. Xem kiếm tiền cần chú ý cả tinh diệu, phối hợp với các cung liên quan đến tiền bạc, không thể từ một phi hóa mà kết luận trực tiếp. Mệnh hóa Lộc thì đương nhiên có duyên và thuận lợi, nhưng muốn biết giàu hay không phải luận cách cục xuyến liên liên quan.
Vào Tật Ách
Ta làm cho cơ thể mình khỏe, ít bệnh; có bệnh thì may gặp thầy gặp thuốc mà qua khỏi. Thân thể có da có thịt chứ không gầy gò, nhưng không thích vất vả nặng nhọc nên tương đối lười, ít vận động. Ta thích nơi công tác rộng rãi, thoáng mát (Điền Trạch của Sự Nghiệp). Cảm xúc của ta thường tốt, bạn bè ở chung thấy dễ chịu, thoải mái, vì Tật Ách là Giao Hữu của Phúc Đức.
Vào Thiên Di (Lộc xuất)
Thiên Di chủ xã hội gặp gỡ, năng lực xử thế ứng đối, dịch mã duyên. Lòng, tinh thần, suy nghĩ hiện ra ngoài, nên vẻ ngoài thân thiện, tính lạc quan tươi sáng, giao tiếp xã hội rất tốt, ra ngoài hay gặp quý nhân. Xử thế không câu nệ, hợp nghề có quan hệ xã hội. Dịch mã động cùng Điền Trạch, Tật Ách xâu nhiều Lộc Quyền thì hay phải đi xa, đi lâu. Cùng Tử Nữ, Phụ Mẫu xâu nhiều Lộc Quyền thì đi quãng gần hay đi ngắn ngày là về.
Vào Giao Hữu
Giao Hữu chủ duyên gặp gỡ, cạnh tranh thi cử, làm việc thiện tích đức (Phúc Đức của Điền Trạch). Ta giao tế đậm tình người nên nhân duyên tốt, thường có nhiều bạn tốt, cạnh tranh đắc lực, làm việc công đức dễ thành công.
Vào Sự Nghiệp
Sự Nghiệp chủ trạng thái làm việc, nghề kiếm tiền, vận khí. Ta xử lý công việc rất linh hoạt nên việc dễ trôi chảy như ý. Lộc là khoan dung, nên ta không phải người xét nét, cầu kỳ kỹ lưỡng trong công việc, vì vậy thường không phải chuyên gia hay nghệ nhân chuyên sâu. Sự Nghiệp là khí số vị nên vận khí thường tốt. Xem việc kiếm tiền cần phối hợp tinh diệu và các cung liên quan chứ không thể từ một phi hóa mà kết luận. Công việc có tượng trôi chảy thuận lợi, nhưng thành công cao thấp, nhiều ít thế nào thì phải luận cách cục xuyến liên với các cung khác.
Vào Điền Trạch
Ta và người nhà tình duyên nồng hậu; gia đình duyên tốt, hòa thuận vui vẻ. Ta làm cho gia đình dần thịnh vượng, kinh tế gia đình phát triển, hoàn cảnh sinh hoạt đầy đủ.
Vào Phúc Đức
Phúc Đức chủ tinh thần, linh tính, tư duy, hứng thú, ham mê hưởng thụ, là tiên thiên có phúc và hậu thiên có đức. Ta có tư tưởng khoan dung, lạc quan nên chủ ý tùy duyên tự tại, coi mọi sự nhẹ nhàng, rất dễ mãn nguyện. Tinh thần thường tốt. Ta là người phúc hậu, thường tâm tưởng sự thành, mọi sự hay được như ý nguyện, trời cũng chiều người.
Vào Phụ Mẫu
Phụ Mẫu chủ tình duyên với trưởng bối, thủ trưởng, người già; chuyện đọc sách, bằng cấp (IQ, tri thức); quan hệ tiền bạc với người khác (Giao Hữu của Tài Bạch). Ta có duyên với bề trên, dễ trò chuyện. Thông minh, ham đọc sách nhiều loại, nhiều lĩnh vực, không thích chuyên nhất một lĩnh vực. Dễ tham gia vay mượn tiền bạc nên có thể làm nghề cho vay, tín dụng, hoặc chơi hụi.
Lộc là bàn tay mở. Còn khi bàn tay nắm lại, mọi điều thành chấp nhất, và phải gọi bằng một cái tên khác.
Mệnh phi Kỵ: ta để tâm, ta nguyện vì ai mà nhọc
Mệnh hóa Kỵ vào cung B có thể giải thích bằng một câu: ta để ý tới cung B (người, việc và vật), và ta nguyện vì cung B mà nỗ lực. Mệnh là tâm, tinh thần, suy nghĩ; Hóa Kỵ biểu thị ta chuyên tâm, chú trọng ở nơi nào. Kỵ năm sinh là trách nhiệm, nghĩa vụ bẩm sinh của ta; còn Mệnh hóa Kỵ là tư duy, quan điểm chú trọng hậu thiên của ta đối với một người hay sự vật nào đó.
Số Kỵ xâu qua các cung liên quan cho biết mức độ nặng nhẹ:
- Một Kỵ là lao: lao lực, vất vả. Mỗi người ở đời hoặc nhiều hoặc ít đều phải nỗ lực.
- Hai Kỵ là bệnh: việc xấu đã phát triển tới mức báo động nhưng chưa ảnh hưởng tới thành bại. Như ốm đau thì cơ thể đau nhức, mặt mệt mỏi vô thần, cần nghỉ ngơi hồi sức. Như tiền tài thì bắt đầu phải giật gấu vá vai nhưng chưa đến nỗi đói rách, cần thắt lưng buộc bụng.
- Ba Kỵ là phá: việc xấu đã lộ ra hoặc đã có hiện tượng thất bại. Người bệnh đã cần điều trị; tiền tài đã xuất hiện tượng trống rỗng.
- Bốn Kỵ là bại: việc xấu tới mức vô cùng nghiêm trọng. Người bệnh nguy kịch, tính mạng ngàn cân treo sợi tóc; về tiền bạc như người phá sản phải chạy trốn nợ.
Vào Huynh Đệ
Ta chuyên chú ở Huynh Đệ, nguyện vì Huynh Đệ (còn là chi tiêu của gia đình) mà nỗ lực. Về quan hệ anh em, ta dễ là con trưởng và chủ động chăm sóc các em. Duyên phận dày hay mỏng phải xem xuyến liên Lộc và xuyến liên Kỵ để đoán. Đơn Kỵ chỉ là một loại chấp nhất; từ phía anh em thì là được chăm sóc. Ta để tâm vào thành tựu sự nghiệp, nguyện vì đó mà nỗ lực, là mẫu chuyên gia, việc mình làm thường phải tự giải quyết. Sẵn sàng làm thêm giờ, kiêm chức để gây dựng sự nghiệp. Kỵ nhập tam phương thu tàng Điền, Tật, Bào là người ưa an tĩnh, giữ nếp thường, ít ham hoạt động xã giao. Ta để ý sức khỏe mạnh yếu; nhưng khác Hóa Khoa thường giữ được cân bằng, dưới con mắt Hóa Kỵ thì có bệnh mới cuống cuồng chạy chữa và điều chỉnh.
Vào Phu Thê
Ta để ý Phu Thê, nguyện vì Phu Thê mà nỗ lực. Hơi cố chấp trong tình cảm với người phối ngẫu: có thì rất yêu, chăm lo, cưng chiều; không có thì rất muốn có, nên dễ kết hôn trước mà lập nghiệp sau. Dễ để chuyện tình cảm ảnh hưởng công việc. Gia vận dễ không hưng khi xâu từ 3 Kỵ trở lên.
Vào Tử Nữ
Ta để ý Tử Nữ, nguyện vì con mà nỗ lực: cưng chiều con, dụng tâm giáo dục con. Ta có để ý và dụng tâm giao tiếp, và giao tiếp cũng thành công. Sinh hoạt thiếu điều độ, sức khỏe không được điều độ. Nếu là Liêm Trinh, Tham Lang xâu nhiều Kỵ thì dễ lụy vào tình dục.
Vào Tài Bạch
Ta để ý Tài Bạch, vì kiếm tiền mà nỗ lực ra sức. Ta yêu tiền, cố gắng hoặc khổ cực kiếm tiền, hay so đo tính toán.
Vào Tật Ách
Ta để ý chăm sóc cơ thể mình. Ta nguyện ra sức làm việc, chủ động tìm việc. Kỵ năm sinh là nợ, nên công việc tự tìm tới làm ta lao lực, bận rộn. Nơi công tác tương đối nhỏ hẹp.
Vào Thiên Di (Kỵ xuất)
Vốn Mệnh hóa Kỵ vào cung nào thì ta có quan điểm cố chấp ở cung đó; Kỵ xuất thì trái lại, không chủ chấp nhất mà ngược lại bừa bãi. Ra ngoài không giỏi lấy lòng, xử thế ngay thẳng, cũng không chịu chau chuốt bề ngoài. Thiên Di là xã hội, Hóa Kỵ chủ thu liễm nên giao tiếp xã hội rất kém, ra ngoài không gặp quý nhân, xuất ngoại hay trở ngại, trời không chiều lòng người. Xử thế ứng đối ngay thẳng, bộc trực, dễ làm mất lòng người khác.
Vào Giao Hữu
Ta quan tâm bạn bè, là người trọng nghĩa khí, sẵn sàng vì bạn bè mà nỗ lực, sẵn sàng vung tiền cho bằng hữu (xung kho vị của Huynh Đệ). Nếu Giao Hữu lại tọa Kỵ năm sinh thì ta mắc nợ bạn bè, thường bị liên lụy vì bạn. Năng lực cạnh tranh kém, phải phó thác, phụ thuộc vào người ngoài.
Vào Sự Nghiệp
Ta để ý Sự Nghiệp, nguyện vì sự nghiệp mà nỗ lực. Thường là chuyên gia chuyên chú sự nghiệp mà làm ảnh hưởng tình cảm vợ chồng (xung Phu Thê).
Vào Điền Trạch
Ta để ý Điền Trạch, nguyện vì Điền Trạch mà nỗ lực; là mẫu người của gia đình, lấy gia đình làm trọng, dễ là con trưởng. Điền Trạch tọa Kỵ năm sinh thì gia đình là trách nhiệm của ta. Tình cảm gia đình bấp bênh, kinh tế không dư dả, hoàn cảnh sinh hoạt không tốt; cần cải thiện ánh sáng và thông gió cho ngôi nhà, vì Hóa Kỵ tượng là bế khí và tối.
Vào Phúc Đức
Ta để ý Phúc Đức, nguyện vì Phúc Đức mà nỗ lực, nên ham hưởng thụ tinh thần mà cam lòng tiêu tiền. Phúc Đức tọa Kỵ thường lo phiền; hay nghi ngờ, xoi mói, nên không thoải mái tinh thần, tùy duyên tự tại.
Vào Phụ Mẫu (Kỵ xuất)
Ta để ý cha mẹ, nguyện vì cha mẹ mà nỗ lực: là người con hiếu thuận. Thích đọc sách, nhưng là sách chuyên ngành hẹp, hoặc chuyên sâu vào một vài lĩnh vực hẹp mà ta quan tâm. Giao dịch tài chính với người khác thì dễ thiệt, vì cung ta phi Kỵ vào cung người thì tất nhiên mất. Phải cẩn thận xử lý công văn, khế ước, vì Phụ Mẫu chủ công văn. Tham gia tín dụng, chơi hụi dễ bị vỡ hụi. Dễ nghiêm túc thái quá, mặt không biểu cảm, vì Phụ Mẫu là sắc mặt, là Tật Ách của Thiên Di.
Khi cung khác hóa Kỵ về Mệnh, Tật, Phúc: ba kiểu đòi nợ
Hễ cung nào hóa Kỵ vào Mệnh, Tật Ách hay Phúc Đức đều là tìm đến ta đòi nợ, nhưng mỗi nơi một kiểu.
- Hóa Kỵ vào Tật Ách: cung ấy làm ta bận rộn, việc tới bắt ta phải giải quyết, phải làm, vì đó là một phần trách nhiệm, nghĩa vụ, thế nào cũng không thoái thác được. Kỵ nhập Tật thuộc về lao lực.
- Hóa Kỵ vào Mệnh: cung ấy làm ta phải quan tâm, bận tâm. Dù ta không thèm nghĩ tới nó, nó vẫn chủ động hiện ra trong lòng, trong đầu ta, khiến ta ghi nhớ không nguôi, phải nghĩ cách giải quyết, vì đó là trách nhiệm và nghĩa vụ của ta. Kỵ nhập Mệnh thuộc về lao tâm.
- Hóa Kỵ vào Phúc Đức: cung ấy làm ta than phiền. Tật Ách là thân, Mệnh là tâm, Phúc Đức là linh. Linh là một loại bản tính, còn gọi là phúc tiên thiên cùng đức hậu thiên. Thân, tâm, linh không tách rời nhau, đều là phản ứng tâm tình; nhưng linh và tâm khó nhận biết. Thầy Trương Thế Hiền hay dùng một chữ để hình dung: chữ phiền. Phúc Đức thuộc cấp độ tâm linh, giống tâm nhưng ở mức cao hơn, nên dù không muốn nghĩ tới nó, nó vẫn chủ động xuất hiện trước mắt hoặc trong đầu, làm ta nhiều phiền não, phải nghĩ cách giải quyết vì đó là trách nhiệm và nghĩa vụ của ta. Thuộc về làm phiền.
Tự hóa: phản ứng tức thời, thường bất ổn
Tự hóa có tính phản ứng, tức thời và thường không ổn định. Khi có tự hóa trong tam hợp Mệnh, Tài, Quan thì mệnh chủ thường trải nhiều biến động, nên mệnh cách này thường không hợp kinh thương. Nếu tam hợp Điền, Tật, Bào có tự hóa thì duyên phận với gia đình không tốt, thiếu sự hỗ trợ từ gia đình, thu nhập không ổn định. Tự hóa nói chung không nên xuất hiện ở các cung lục thân, đặc biệt ở cung Phu Thê trong đa số trường hợp.
Nguồn: Alex Alpha, Giáo trình Phi Tinh Lương phái.
