Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Mệnh đóng ở mười hai chi và bước đầu dựng lá số

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn02/10/202610 phút đọc4 lượt đọc
Mệnh đóng ở mười hai chi và bước đầu dựng lá số

Cùng là cung Mệnh, nhưng người đóng ở Dậu thích rong chơi non nước còn người đóng ở Dần lại mang số lao lực, hay tự chuốc phiền não. Mỗi chi để lại một nét tính riêng, và ba nhóm sinh – bại – mộ đã chia sẵn lối đi của đời người ngay từ trước khi đặt bút dựng lá số…


Mười hai chi của cung Mệnh, mười hai nét tính

Cung Mệnh nằm ở chi nào thì người ấy mang một sắc thái tính nết riêng, nói chung dù trong cung có sao gì. Đọc lần lượt từ Tý đến Hợi:

Mệnh ở Tý: hay nói quá sự thật, thích bàn chuyện học vấn với người cùng chí hướng, hợp đạo. Có óc sáng tạo và có đào hoa.

Mệnh ở Sửu: hay lấy giọng cao ngạo để dạy bảo người khác, sống cô độc, nên sớm rời nhà ra ngoài lập nghiệp. Tính khoa trương, tự phụ, thích lập công.

Mệnh ở Dần: hay tự tìm phiền não, mang số lao lực. Lòng nhiệt tình, ưa mạo hiểm, thích kiếm đường tắt để đạt mục đích và không chịu được ràng buộc. Tính hoạt bát, lời ăn tiếng nói để lại ấn tượng sâu cho người nghe.

Mệnh ở Mão: thần kinh quá nhạy, chỉ vì chuyện nhỏ mà cãi cọ nổi giận. Thích giao du, có đào hoa.

Mệnh ở Thìn: vui lòng đứng ra hòa giải tranh chấp cho người, cách xử trí cân bằng. Chuộng an nhàn, sợ khổ nhọc, thích ăn diện, nên sớm rời nhà ra ngoài phát triển.

Mệnh ở Tỵ: thích bới lông tìm vết, tỉ mỉ, tích nhỏ thành lớn, hay tự chuốc buồn phiền, hay chăm cái nhỏ mà mất cái lớn. Bù lại có óc quan sát và phân tích sắc bén, nhưng mệnh vất vả.

Mệnh ở Ngọ: kiêu hãnh, không thích cầu cạnh ai, nhưng lại biết chăm lo cho người khác.

Mệnh ở Mùi: không dễ nghe lời góp ý của người, hay bênh họ hàng thân thuộc, yêu ghét đều cực đoan.

Mệnh ở Thân: lúc đầy tự tin, lúc tự mâu thuẫn với mình. Hiểu việc nhanh nhưng dễ nóng ruột, dễ đắm vào một thú vui nào đó. Hợp lập gia đình muộn; mệnh vất vả.

Mệnh ở Dậu: thích du sơn ngoạn thủy, ưa nơi yên tĩnh, lòng tốt, nghiêng về thực tế. Khi thất ý biết tự an ủi mình.

Mệnh ở Tuất: chỉ gặp chút kích thích là nguội lòng nản chí. Không nói lời thừa, không nói lời giận dữ, ghét kẻ cãi cùn, hay giúp kẻ yếu, đỡ người nghiêng ngả.

Mệnh ở Hợi: đa sầu đa cảm, dễ rơi nước mắt, thích chia thành quả cho bạn bè người thân, lòng mềm, dễ tha thứ cho chính mình. Đối nhân tiếp vật một mực nhiệt tình; mệnh vất vả.

Cung dương, cung âm và chuyện Mệnh Thân hợp với tuổi, giờ sinh

Mười hai chi chia đôi thành cung dương và cung âm, và chuyện cát hung của cả đời xoay quanh việc cung Mệnh có hợp với âm dương của năm sinh và giờ sinh hay không.

Sáu cung dương là Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất; sáu cung âm là Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi. Việc an Mệnh và Thân vào cung dương hay cung âm mang lại ba điều sau.

Xem cát hung của Mệnh và Thân. Người sinh năm dương, Mệnh và Thân đều nên ngồi cung dương; được vậy thì có cát thêm cát, không cát thì hung cũng giảm. Nếu năm sinh dương mà Mệnh Thân đều rơi vào cung âm thì cả đời trắc trở, việc nhiều trái ý, có cát cũng giảm cát, không cát lại thêm hung. Người sinh năm âm thì ngược lại: Mệnh Thân đều nên ngồi cung âm, cát hung cũng tính như trên.

Giờ sinh cũng chia âm dương. Các giờ Dần, Ngọ, Tuất, Thân, Tý, Thìn là giờ dương, người sinh giờ ấy nên có Mệnh ở cung dương. Các giờ Tỵ, Dậu, Sửu, Hợi, Mão, Mùi là giờ âm, người sinh giờ ấy nên có Mệnh ở cung âm. Trái lại thì cả đời ít được toại ý.

Đoán đứa con sinh trước là trai hay gái. Thái Dương rơi vào cung dương thì con đầu lòng là trai; Thái Âm rơi vào cung âm thì con đầu lòng là gái.

Tứ sinh, tứ bại, tứ mộ: ba nhóm cung báo ba lối sống

Trên vòng hoàng đạo, mười hai cung lại được gom thành ba nhóm bốn cung, mỗi nhóm kéo theo một kiểu đường đời khá rõ.

CungTên theo hoàng đạoNhóm
TýBảo BìnhTứ bại
SửuMa KếtTứ mộ
DầnNhân MãTứ sinh
MãoThiên YếtTứ bại
ThìnThiên XứngTứ mộ
TỵXử NữTứ sinh
NgọSư TửTứ bại
MùiCự GiảiTứ mộ
ThânSong TửTứ sinh
DậuKim NgưuTứ bại
TuấtBạch DươngTứ mộ
HợiSong NgưTứ sinh

Ba nhóm ấy gồm: tứ sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi; tứ bại là Tý, Ngọ, Mão, Dậu; tứ mộ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Cung Phu Thê nằm ở cung tứ sinh thì dù sao trong cung tốt hay xấu, thường có điềm hôn nhân hai lần. Cung Sự Nghiệp nằm ở cung tứ sinh thì thường làm hai nghề, có nghề phụ. Cung Tài Bạch nằm ở cung tứ sinh thì thường có hai nguồn tiền đổ về.

Mệnh đóng ở cung tứ bại thì phần nhiều mê rượu sắc, phong lưu, vì đó chính là đất đào hoa. Mệnh đóng ở cung tứ mộ thì cô độc, hợp sớm xa quê bỏ xứ, ra ngoài mà gây dựng. Mệnh đóng ở cung tứ sinh thì mang số lao lực, hay tự tìm lấy phiền não.

Từ tờ giấy trắng đến bốn chữ ghi ngày sinh

Muốn dựng một lá số, trước hết phải có chỗ để viết và một cuốn lịch để tra, rồi mới đến chuyện rút ngày sinh thành những chữ cần dùng.

Việc thứ nhất là có một tờ giấy lá số in sẵn, chia mười hai ô cung. Việc thứ hai là có một cuốn vạn niên lịch ở bên cạnh. Cuốn lịch này giúp hai việc: đổi dương lịch sang âm lịch, và tra ra can chi của năm, tháng, ngày, giờ.

Can chi tương truyền do Thiên Hoàng Thị đặt ra; đến thời Hoàng Đế mới bắt đầu ghép can với chi để ghi năm, tháng, ngày, về sau người ta lấy đó làm căn cứ để tính toán. Thiên can có mười chữ nên gọi là mười can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Riêng chữ Mậu cần đọc đúng để khỏi lẫn với chữ Tuất của địa chi. Địa chi có mười hai chữ nên gọi là mười hai chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Việc thứ ba là lấy năm, tháng, ngày, giờ sinh của người cần xem, tra trong vạn niên lịch ra can chi tương ứng rồi viết lên tờ lá số.

Lấy một ví dụ: người nam sinh vào giờ Mão, mùng ba tháng Hai âm lịch, năm Canh Ngọ. Tra lịch ra năm Canh Ngọ, tháng Hai là tháng Kỷ Mão, mùng ba là ngày Tân Hợi, giờ Mão là giờ Tân Mão. Tám chữ của người ấy là Canh Ngọ – Kỷ Mão – Tân Hợi – Tân Mão.

Điều đáng nhớ là Tử Vi Đẩu Số không giống phép Tứ trụ. Tứ trụ phải dùng đủ tám chữ, còn Tử Vi chỉ cần bốn thứ trong tám chữ ấy: can chi của năm sinh, số của tháng sinh (chỉ cần biết tháng Một, tháng Hai, tháng Ba…), số của ngày sinh (chỉ cần biết mùng Một, mùng Hai, mùng Ba…) và chi của giờ sinh. Vì vậy ví dụ trên rút gọn lại còn: năm Canh Ngọ, tháng Hai, ngày mùng Ba, giờ Mão. Tuy chỉ dùng năm chữ ghi lên giấy, thói quen vẫn gọi chung là “bát tự”, và gọi như vậy cho thuận miệng, đỡ phải giải thích dài dòng.

NămThángNgàyGiờNamNữ
Canh NgọHaiMùng baMãoDương

Phân âm dương theo can của năm sinh

Năm sinh mang can dương hay can âm, kết hợp với giới tính, cho ra bốn nhóm người khác nhau và quyết định chiều đi của cả hệ thống sao về sau.

Muốn biết một người là dương nam, âm nữ, âm nam hay dương nữ, chỉ cần nhìn can của năm sinh rồi tra đối chiếu:

Thiên canGiápẤtBínhĐinhMậuKỷCanhTânNhâmQuý
Âm dươngDươngÂmDươngÂmDươngÂmDươngÂmDươngÂm

Người trong ví dụ sinh năm Canh, can Canh là dương, và đây là nam, nên ghi là dương nam.

An cung Mệnh và cung Thân từ tháng sinh, giờ sinh

Cung Mệnh và cung Thân không đứng yên một chỗ: chúng chạy theo tháng và giờ, và hai tin ấy gặp nhau ở đúng một ô trên bảng tra.

Cách tra: tìm tháng sinh ở cột bên trái, tìm giờ sinh ở hàng trên cùng, rồi đọc ô giao nhau. Mỗi ô cho hai chi, chi đầu là cung Mệnh, chi sau là cung Thân; riêng giờ Tý và giờ Ngọ thì Mệnh và Thân trùng nhau nên chỉ ghi một chi.

Tháng \ GiờGiờ TýGiờ SửuGiờ DầnGiờ MãoGiờ ThìnGiờ TỵGiờ NgọGiờ MùiGiờ ThânGiờ DậuGiờ TuấtGiờ Hợi
Tháng 1DầnSửu – MãoTý – ThìnHợi – TỵTuất – NgọDậu – MùiThânMùi – DậuNgọ – TuấtTỵ – HợiThìn – TýMão – Sửu
Tháng 2MãoDần – ThìnSửu – TỵTý – NgọHợi – MùiTuất – ThânDậuThân – TuấtMùi – HợiNgọ – TýTỵ – SửuThìn – Dần
Tháng 3ThìnMão – TỵDần – NgọSửu – MùiTý – ThânHợi – DậuTuấtDậu – HợiThân – TýMùi – SửuNgọ – DầnTỵ – Mão
Tháng 4TỵThìn – NgọMão – MùiDần – ThânSửu – DậuTý – TuấtHợiTuất – TýDậu – SửuThân – DầnMùi – MãoNgọ – Thìn
Tháng 5NgọTỵ – MùiThìn – ThânMão – DậuDần – TuấtSửu – HợiTýHợi – SửuTuất – DầnDậu – MãoThân – ThìnMùi – Tỵ
Tháng 6MùiNgọ – ThânTỵ – DậuThìn – TuấtMão – HợiDần – TýSửuTý – DầnHợi – MãoTuất – ThìnDậu – TỵThân – Ngọ
Tháng 7ThânMùi – DậuNgọ – TuấtTỵ – HợiThìn – TýMão – SửuDầnSửu – MãoTý – ThìnHợi – TỵTuất – NgọDậu – Mùi
Tháng 8DậuThân – TuấtMùi – HợiNgọ – TýTỵ – SửuThìn – DầnMãoDần – ThìnSửu – TỵTý – NgọHợi – MùiTuất – Thân
Tháng 9TuấtDậu – HợiThân – TýMùi – SửuNgọ – DầnTỵ – MãoThìnMão – TỵDần – NgọSửu – MùiTý – ThânHợi – Dậu
Tháng 10HợiTuất – TýDậu – SửuThân – DầnMùi – MãoNgọ – ThìnTỵThìn – NgọMão – MùiDần – ThânSửu – DậuTý – Tuất
Tháng 11TýHợi – SửuTuất – DầnDậu – MãoThân – ThìnMùi – TỵNgọTỵ – MùiThìn – ThânMão – DậuDần – TuấtSửu – Hợi
Tháng 12SửuTý – DầnHợi – MãoTuất – ThìnDậu – TỵThân – NgọMùiNgọ – ThânTỵ – DậuThìn – TuấtMão – HợiDần – Tý

Ở ví dụ trên, người sinh tháng Hai giờ Mão: tìm hàng tháng Hai, cột giờ Mão, được cung Mệnh ở Tý, cung Thân ở Ngọ. Hai chi ấy được ghi vào ô cung tương ứng trên tờ lá số.

Một lưu ý về tháng nhuận: người sinh vào tháng nhuận thì dời sang tháng kế tiếp mà luận. Chẳng hạn người sinh sáng sớm (khoảng năm giờ bốn mươi) ngày mùng Tám tháng Ba nhuận năm Bính Tý, thì tính như sinh vào tháng Tư, và bốn thứ cần ghi là: năm Bính Tý, tháng Tư, ngày mùng Tám, giờ Mão.

Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Kinh Điển.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn