Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Xác định cung Mệnh, cung Thân và tìm Cục của tuổi

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn27/09/20263 phút đọc4 lượt đọc
Xác định cung Mệnh, cung Thân và tìm Cục của tuổi

Chỉ từ hai con số — tháng sinh và giờ sinh — Hi Di đã nghĩ ra một phép đếm hai chiều để định vị chỗ đứng của cả Mệnh lẫn Thân trên khung mười hai cung. Nhưng lá số còn thiếu một hành nữa, không phải hành của tuổi mà là hành của toàn cục, thứ sẽ quyết định luôn cả vị trí của ngôi sao đứng đầu bảng số…


Có ngày giờ, có Bản Mệnh rồi, nhưng lá số vẫn còn là một khung mười hai ô trống trơn — phải định được chỗ đứng của Mệnh và Thân thì mọi thứ khác mới có chỗ bám vào.

Xác định vị trí cung Mệnh và cung Thân, căn cứ vào tháng và giờ sinh

Cung Mệnh và cung Thân đều được tìm ra từ hai dữ kiện duy nhất: tháng sinh và giờ sinh. Cách tìm bắt đầu từ cùng một điểm xuất phát là cung Dần, rồi tách ra hai hướng khác nhau.

Muốn tìm cung Mệnh: khởi từ cung Dần, đếm theo chiều thuận — tức là theo đúng thứ tự Dần, Mão, Thìn, Tỵ… — một số bước bằng đúng số thứ tự của tháng sinh, kể tháng Giêng là bước khởi đầu, chưa dịch chuyển. Đến cung ứng với tháng sinh rồi, từ đó lại đếm tiếp theo chiều nghịch, một số bước bằng đúng số thứ tự của giờ sinh, kể giờ Tý là chưa dịch chuyển. Cung dừng lại sau cùng chính là cung Mệnh.

Muốn tìm cung Thân: cũng khởi từ cung Dần, cũng đếm thuận theo tháng sinh y hệt như trên. Nhưng đến bước thứ hai thì khác: từ cung ứng với tháng sinh, lại đếm tiếp theo chiều thuận — chứ không phải nghịch — một số bước bằng số thứ tự giờ sinh. Cung dừng lại sau cùng chính là cung Thân.

Ví dụ: người sinh tháng hai, giờ Tý, Mệnh và Thân đồng cung ở Mão. Người sinh tháng chạp, giờ Tỵ, Mệnh ở cung Thân và Thân ở cung Ngọ. Sau khi biết được vị trí cung an Mệnh, Thân rồi, bắt đầu từ cung Mệnh, theo chiều thuận, ghi các cung kế tiếp theo đúng thứ tự: Mệnh, Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc, Nô Bộc, Thiên Di, Tật Ách, Tài Bạch, Tử Tức, Phu (Thê), Huynh Đệ.

Tìm Cục của tuổi: hành thứ hai quyết định vị trí sao Tử Vi

Có Mệnh, có Thân rồi, còn thiếu một hành nữa — không phải hành của tuổi như Bản Mệnh, mà là hành của toàn cục lá số.

Cục của tuổi tuỳ thuộc vào can của năm sinh và cung mà Mệnh vừa an được, theo bảng kê dưới đây:

Can năm sinhMệnh tại Tý, SửuMệnh tại Dần, MãoMệnh tại Thìn, TỵMệnh tại Ngọ, MùiMệnh tại Thân, DậuMệnh tại Tuất, Hợi
Giáp, KỷThủyHỏaMộcThổKimHỏa
Ất, CanhHỏaThổKimMộcThủyThổ
Bính, TânThổMộcThủyKimHỏaMộc
Đinh, NhâmMộcKimHỏaThủyThổKim
Mậu, QuýKimThủyThổHỏaMộcThủy

Ví dụ: tuổi Kỷ, Mệnh đóng tại cung Mão, thì Hỏa cục. Tuổi Nhâm, Mệnh đóng ở cung Mùi thì Thủy cục. Biết được tên Cục, ghi ngay vào khoảng giữa lá số, dưới chỗ ghi Bản Mệnh, tuổi Dương Âm. Cục dùng để tìm vị trí an sao Tử Vi — chính tinh đứng đầu bảng số, và cũng là ngôi sao mà mọi chính tinh, phụ tinh khác đều lấy làm điểm quy chiếu khi an vào lá số.

Đến đây, ba con số hành quan trọng nhất của một lá số đã đủ mặt: Bản Mệnh — hành của riêng tuổi mình; Cục — hành của toàn cục lá số; và vị trí Mệnh, Thân đã định. Bước kế tiếp, an Tử Vi và mười ba chính tinh còn lại, sẽ dựa trọn vào Cục vừa tìm được đây.

Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn, NXB Lao Động)

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn