Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Hóa Công, Thiên Nguyên Khí và Địa Nguyên Khí: ba dấu hiệu may mắn bẩm sinh

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Hóa Công, Thiên Nguyên Khí và Địa Nguyên Khí: ba dấu hiệu may mắn bẩm sinh

Có những người sinh ra đúng lúc trời đất rót vào họ thứ khí trong lành nhất, và dấu vết ấy hiện ngay trên quẻ số. Hóa Công đến từ tháng sinh, Nguyên Khí đến từ năm sinh, nhưng chúng chỉ hiện ra khi quẻ có mặt một quẻ đơn đúng như vậy...


Hóa Công: món quà của tháng sinh

Hóa Công hiểu nôm na là công năng của Tạo hóa. Cùng với Thiên Nguyên Khí và Địa Nguyên Khí, đó là sự gặp gỡ giữa ngày giờ sinh, năm sinh, mùa sinh và môi trường không gian, gồm những thứ ưu đãi của thiên nhiên; nói cách khác là sự ưu tiên về mặt năng lượng mà Trời Đất dành cho những người may mắn sinh vào thời điểm thuận lợi nhất trong bốn mùa của năm, mỗi mùa được đánh dấu bằng những tiết khí.

Ba danh từ này nghe có vẻ siêu hình. Chúng do tháng sinh và Can Chi năm sinh mà ra, và khi đứng riêng thì giống như ba vị Phúc Thân. Ai may mắn thấy một trong ba hiện lên trên quẻ số của mình thì thật là vinh dự. Người có Hóa Công là có tín hiệu về tiềm năng trí tuệ, đạo đức và sức mạnh nhiều mặt, vì vậy cũng là tín hiệu về danh giá: ân thưởng, vinh dự, đỗ đạt, thăng tiến trong cuộc đời. Thường người ấy gặp nhiều may mắn và thuận lợi trên đường phát triển. Với mệnh nữ, Hóa Công là tín hiệu có thể đạt tới một vị trí cao trong xã hội: ngày xưa là bậc hiền lương, mẫu nghi; ngày nay là người mẹ hiền, cô giáo giỏi, thầy thuốc, nghệ sĩ, hoa hậu.

Hóa Công mạnh yếu tùy vị trí

Có ý kiến cho rằng Hóa Công tuy tốt nhưng còn tùy vị trí và còn phải kết hợp với các tín hiệu khác. Hóa Công ở quẻ Tiên Thiên thì ảnh hưởng suốt cuộc đời. Hóa Công ở quẻ Hỗ Hậu Thiên thì thuộc về Đại vận cuối đời, đến chặng đó mới phát huy. Nhưng khi làm thực nghiệm trắc nghiệm thì thấy khác ý kiến trên: do tính thống nhất của cấu trúc Hà Lạc, Hóa Công (kể cả Thiên Nguyên Khí và Địa Nguyên Khí) dù nằm ở quẻ Hỗ Hậu Thiên vẫn tác động ngay từ những chặng đầu đời; tất nhiên tác động đến đương thời thì mạnh hơn.

Cách tìm Hóa Công theo mùa sinh

Quẻ Hà Lạc phối cùng ngày giờ sinh và năm sinh, lấy căn cứ ở thời gian sinh, nên mùa sinh là tín hiệu cho biết chủ thể có sự ưu tiên ấy hay không. Hóa Công chỉ liên hệ với tháng, không liên hệ gì với ngày, giờ hay năm sinh. Chia theo mùa như sau: sinh từ Đông Chí đến Xuân Phân thì Hóa Công là Khảm; từ Xuân Phân đến Hạ Chí là Chấn; từ Hạ Chí đến Thu Phân là Ly; từ Thu Phân đến Đông Chí là Đoài.

Chẳng hạn chủ thể sinh sau Đông Chí, hành Thủy Dương đang vượng, thì Hóa Công là Khảm, quản trị đến trước Xuân Phân một ngày mới hết nhiệm kỳ. Khi ấy tìm trong cấu trúc các quẻ Tiên Thiên, Hậu Thiên và hai quẻ Hỗ Tiên Thiên, Hỗ Hậu Thiên: nếu có quẻ đơn Khảm thì là số có Hóa Công, nếu không có Khảm thì là số không có Hóa Công. Suy ra các mùa khác cũng tương tự. Cần lưu ý là không dùng quẻ Hỗ Nhân Quả. Ghi chú thêm: Hóa Công nếu không có ở quẻ Tiên Thiên thì tìm ở quẻ Hỗ Tiên Thiên. Cách tìm quẻ hỗ là lấy các hào ba, bốn, năm làm quẻ thượng, và các hào hai, ba, bốn làm quẻ hạ.

Thiên Nguyên Khí và Địa Nguyên Khí: khí gốc của trời đất

Người xưa ví hiền tài là nguyên khí của quốc gia, và trên lá số, nguyên khí cũng chỉ hiện cho ai sinh đúng một thời điểm.

Nguyên Khí là khí gốc của trời đất, gồm những tố chất tốt đẹp nhất, trong lành nhất, tiêu biểu nhất, tạo thuận lợi cho sự sống, và chỉ xuất hiện vào những thời điểm nhất định trong năm. Người nào may mắn sinh đúng thời điểm ấy thì được ưu tiên hấp thụ nguyên khí vào người, tạo nên những khí chất ưu tú trong quá trình sống, nhờ đó mà thành đạt.

Thiên Nguyên Khí là nguyên khí của Trời, chủ về sang trọng. Địa Nguyên Khí là nguyên khí của Đất, chủ về giàu có. Có cả hai là có giàu sang, phú quý. Hai khí này chủ về cách phú quý, danh dự, nên còn được gọi bằng tên khác là Quan Lộc Tinh hay Cáo Mệnh Tinh. Bất luận nam hay nữ mà gặp được thì đều cát khánh; nếu tuổi lại được cả nạp âm tốt thì càng tốt thêm.

Chỉ Can Chi năm sinh mới được dùng để tìm hai khí này: hàng Can cho Thiên Nguyên Khí, hàng Chi cho Địa Nguyên Khí. Chúng không liên hệ gì với tháng, ngày hay giờ sinh.

Bảng nhận quẻ của Can và Chi

Thiên Can nhận quẻ như sau: Giáp và Nhâm nhận Càn; Ất và Quý nhận Khôn; Bính nhận Cấn; Đinh nhận Đoài; Mậu nhận Khảm; Kỷ nhận Ly; Canh nhận Chấn; Tân nhận Tốn.

Địa Chi nhận quẻ như sau: Tý nhận Khảm; Sửu và Dần nhận Cấn; Mão nhận Chấn; Thìn và Tị nhận Tốn; Ngọ nhận Ly; Mùi và Thân nhận Khôn; Dậu nhận Đoài; Tuất và Hợi nhận Càn.

Sau đó tìm quẻ ấy trong bốn quẻ kép: Tiên Thiên, Hậu Thiên, Hỗ Tiên Thiên và Hỗ Hậu Thiên. Cũng không dùng quẻ Hỗ Nhân Quả.

Hai tình huống đối chiếu

Giả dụ quẻ Thiên Trạch Lý. Người tuổi Giáp Tuất hoặc Nhâm Tuất có đủ cả Thiên Nguyên Khí và Địa Nguyên Khí, vì Giáp, Nhâm và Tuất đều thuộc Càn là Trời. Người tuổi Ất Hợi thì không có Thiên Nguyên Khí mà chỉ có Địa Nguyên Khí, vì Hợi cũng thuộc Càn là Trời còn Ất thì không.

Giả như năm sinh Giáp Tý đối chiếu với cấu trúc Hà Lạc. Nếu trong các quẻ Tiên Thiên, Hỗ Tiên Thiên, Hậu Thiên, Hỗ Hậu Thiên có quẻ Càn thì có Thiên Nguyên Khí; nếu có quẻ Khảm thì có Địa Nguyên Khí.

Năm lá số đã tính xong để so thử

Mười hai con số, hai phép trừ và một vài lượt đối chiếu quẻ: đó là cả hành trình của một lá số Hà Lạc.

Lá số Âm nữ: năm Đinh Tị, tháng Nhâm Dần, ngày Bính Thân, giờ Mậu Tuất

Số: Đinh 7, Tị 2 và 7; Nhâm 6, Dần 3 và 8; Bính 8, Thân 4 và 9; Mậu 1, Tuất 5 và 10. Hóa Công là Khảm. Tổng Dương: 7 + 1 + 7 + 3 + 9 + 5 = 32, trừ 25 còn 7, là Đoài (Trạch). Tổng Âm: 6 + 8 + 2 + 8 + 4 + 10 = 38, trừ 30 còn 8, là Cấn (Sơn). Âm nữ nên Dương trên Âm dưới: quẻ Trạch Sơn Hàm. Thiên Nguyên Khí là Đoài (có), Địa Nguyên Khí là Tốn (không).

Lá số Dương nữ: năm Canh Dần, tháng Mậu Tý, ngày Nhâm Ngọ, giờ Kỷ Dậu

Số: Canh 3, Dần 3 và 8; Mậu 1, Tý 1 và 6; Nhâm 6, Ngọ 2 và 7; Kỷ 9, Dậu 4 và 9. Hóa Công là Đoài. Tổng Âm: 6 + 8 + 6 + 2 + 4 = 26, bớt 20 còn 6, là Càn (Thiên). Tổng Dương: 3 + 1 + 9 + 3 + 1 + 7 + 9 = 33, trừ 25 còn 8, là Cấn (Sơn). Dương nữ nên Âm trên Dương dưới: quẻ Thiên Sơn Độn. Thiên Nguyên Khí là Chấn (không), Địa Nguyên Khí là Cấn (có).

Lá số Dương nam: năm Bính Tý, tháng Quý Tị, ngày Bính Ngọ, giờ Tân Mão

Số: Bính 8, Tý 1 và 6; Quý 2, Tị 2 và 7; Bính 8, Ngọ 2 và 7; Tân 4, Mão 3 và 8. Hóa Công là Chấn. Tổng Dương: 1 + 7 + 7 + 3 = 18, bớt 10 còn 8, là Cấn (Sơn). Tổng Âm: 8 + 2 + 8 + 4 + 6 + 2 + 2 + 8 = 40, trừ 30 còn 10, giữ lại 1, là Khảm (Thủy). Dương nam nên Dương trên Âm dưới: quẻ Sơn Thủy Mông. Thiên Nguyên Khí là Cấn (có), Địa Nguyên Khí là Khảm (có).

Lá số Dương nam: năm Canh Thìn, tháng Đinh Hợi, ngày Bính Thìn, giờ Kỷ Hợi

Số: Canh 3, Thìn 5 và 10; Đinh 7, Hợi 1 và 6; Bính 8, Thìn 5 và 10; Kỷ 9, Hợi 1 và 6. Hóa Công là Đoài. Tổng Dương: 3 + 7 + 9 + 5 + 1 + 5 + 1 = 31, trừ 25 còn 6, là Càn (Thiên). Tổng Âm: 8 + 10 + 6 + 10 + 6 = 40, trừ 30 còn 10, giữ lại 1, là Khảm (Thủy). Dương nam nên Dương trên Âm dưới: quẻ Thiên Thủy Tụng. Thiên Nguyên Khí là Chấn (không), Địa Nguyên Khí là Tốn (không).

Lá số Âm nam: năm Quý Sửu, tháng Nhâm Tuất, ngày Đinh Sửu, giờ Ất Tị

Số: Quý 2, Sửu 5 và 10; Nhâm 6, Tuất 5 và 10; Đinh 7, Sửu 5 và 10; Ất 2, Tị 2 và 7. Hóa Công là Đoài. Tổng Âm: 2 + 6 + 2 + 10 + 10 + 10 + 2 = 42, trừ 30 còn 12, bớt 10 còn 2, là Khôn (Địa). Tổng Dương: 7 + 5 + 5 + 5 + 7 = 29, trừ 25 còn 4, là Tốn (Phong). Âm nam nên Âm trên Dương dưới: quẻ Địa Phong Thăng.

Quẻ Hà Lạc mang áo của quẻ Dịch

Quẻ số tìm được chỉ là cái tên, còn thân quẻ thì phải đi vào tận gốc của Kinh Dịch.

Quẻ Hà Lạc về hình thức chính là quẻ Dịch: mỗi quẻ có sáu hào, sáu mươi bốn quẻ là ba trăm tám mươi bốn hào. Nội dung thì tuy cũng dựa vào nghĩa Kinh Dịch, nhưng được diễn đạt theo lề lối riêng của phép Hà Lạc để giải đoán mệnh vận con người. Vì vậy trước khi đi vào phần nội dung quẻ Hà Lạc, cần thuộc hết tên và hình thức sáu mươi bốn quẻ Dịch, lấy từ bộ Kinh Dịch hay Chu Dịch, một bộ kinh vào hàng cổ nhất, quý nhất trong nền học vấn tư tưởng của Á Đông xưa.

Bốn đời thánh nhân làm nên Dịch

Tám quẻ bát quái bắt đầu từ Phục Hy, có quẻ mà không có chữ; đó là Dịch Tiên Thiên. Sáu mươi bốn quẻ do Văn Vương lấy tám quẻ chồng lên nhau, dưới mỗi quẻ có lời; đó là Dịch Hậu Thiên. Nhưng mỗi hào chỉ là một biểu tượng mà không có chữ thì đạo Dịch vẫn chưa rõ ràng, nên Chu Công đặt lời tượng dưới từng hào. Đến Khổng Tử làm ra mười truyện, bao gồm cả Tiên Thiên lẫn Hậu Thiên mà tổng quát được hết ý nghĩa; đó là Dịch Trung Thiên.

Dịch khởi từ Phục Hy mà chỉ gọi là Chu Dịch, vì Dịch trải qua bốn đời thánh nhân đến Chu Công mới thật đầy đủ. Dịch là sự biến đổi của âm dương, theo nghĩa hội ý của hai chữ Nhật và Nguyệt. Dịch có hai nghĩa: giao dịch, tức âm dương đối đãi với nhau; và biến dịch, tức âm dương lưu hành. Quẻ là treo lên, như treo cao một vật làm biểu tượng cho người ta nhìn thấy. Quẻ có sáu vạch là theo khuôn phép lục khí của Trời Đất. Hào là do cái ý nghĩa cái nọ cái kia tương giao mà thành, và cũng là dấu hiệu của mọi sự dao động trong thiên hạ.

Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc