Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Hỉ thần, kị thần từng cách cục và dụng thần điều hầu

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Hỉ thần, kị thần từng cách cục và dụng thần điều hầu

Hai người cùng nhật chủ vượng, một người ấn dày, một người tỉ kiếp nặng, thì thuốc dùng đã khác hẳn nhau. Lại có những lá số mùa đông đủ cả năm hành mà vẫn lạnh buốt, chỉ chờ một ngọn lửa nhỏ. Vậy mỗi thế cục cần ngôi nào làm hỉ, ngôi nào làm kị...


Cách tài tinh: thân vượng thì cần chế ấn, thân nhược thì cần giúp thân

Một Tứ trụ đã thành cách, bước kế tiếp là tìm xem trong tám chữ có những gì làm hỉ thần, những gì làm kị thần, và đại vận nào đi qua sẽ làm lợi hay làm hại cho chúng. Người xưa chia cách cục thành từng nhóm, mỗi nhóm lại tách theo hai điều kiện: nhật chủ đang vượng hay đang nhược, và trong lá số thứ gì đang nhiều nhất. Cách thiên tài và chính tài là nhóm đầu tiên.

Nhật chủ vượng mà Tứ trụ nhiều ấn tinh thì lấy tài tinh làm dụng thần, vì tài khắc ấn, ấn bớt đi thì thân không còn bị bồi thêm quá mức. Đại vận gặp tài là tốt nhất, gặp tài đi kèm thực thương cũng tốt. Gặp ấn, tỉ kiếp, quan, sát là đi ngược lại, rất xấu.

Nhật chủ vượng mà tỉ kiếp quá nhiều thì có hai đường. Đường thứ nhất là dùng thực thương làm cầu nối, đưa sức của thân sang sinh tài. Đường thứ hai là dùng quan sát để khắc tỉ kiếp. Vận gặp thực thương hay quan sát đều đẹp; vận gặp ấn hoặc tỉ kiếp thì xấu.

Nhật chủ nhược mà thực thương nhiều thì lấy ấn khắc chế thực thương. Điều kiện đi kèm là tài tinh và ấn tinh trong lá số không được cản trở nhau, nếu không thuốc sẽ bị phá. Vận gặp ấn hay tỉ thì tốt, gặp tài, quan, thất sát thì xấu.

Nhật chủ nhược mà tài tinh nhiều là cảnh người gánh không nổi của. Lúc ấy phải mượn tỉ kiếp để đỡ thân và chế tài. Vận tỉ kiếp thì tốt; vận tài, quan, thất sát, thực thương đều xấu. Vận ấn có chỗ phải xét kỹ: tài và ấn đứng riêng, không đụng nhau thì mới tốt; tài và ấn đan chéo nhau thì cả đời gặp hình hại, hao tổn.

Nhật chủ nhược mà quan sát nhiều thì lấy ấn để hóa quan sát. Vận gặp tài là xấu nhất, thậm chí có nguy cơ cho tính mạng; vận quan sát cũng xấu nhưng còn đỡ hơn vận tài.

Cách ấn tinh: ấn vượng thì cần tài phá, quan sát nhiều thì cần ấn

Ấn sinh thân, nên khi ấn làm chủ cách, câu hỏi luôn là thân đã đủ sức hay còn thiếu sức.

Nhật chủ vượng mà Tứ trụ nhiều tài tinh thì lấy quan sát để làm bớt tài, đồng thời sinh ấn, lấy đó làm dụng thần. Vận quan sát là tốt; vận thực thần, thương quan lại làm hại.

Nhật chủ vượng mà ấn tinh dày thì lấy tài phá ấn. Vận thực thương và tài đều tốt, còn vận quan sát, ấn, tỉ thì xấu.

Nhật chủ vượng mà tỉ kiếp nhiều thì xem trong lá số có quan sát hay không. Có quan sát thì để quan sát chế tỉ kiếp. Không có thì dùng tài đi kèm thực thương. Vận quan sát với thực thương là tốt; vận ấn, tỉ, kiếp là xấu.

Nhật chủ nhược mà quan sát nhiều thì lấy ấn làm dụng thần. Vận ấn, tỉ tốt; vận tài, quan xấu. Nhật chủ nhược mà thực thương nhiều thì dùng ấn để chế thực thương và sinh phù cho thân. Vận ấn, tỉ tốt; vận thực, thương, tài xấu.

Cách thực thần: lấy hơi tài, giữ thực thần, đừng để ấn đoạt thực

Thực thần là ngôi biết nhả hơi cho thân, nên điều đáng sợ nhất là thứ gì chặn đường nhả ấy.

Nhật chủ vượng mà tài tinh nhiều thì lấy quan sát để xì hơi tài. Vận quan, sát, tài đều tốt; gặp ấn hay tỉ là tai ương.

Nhật chủ vượng mà tỉ kiếp nhiều thì lấy thực thương làm dụng thần. Vận thực, thương, tài là tốt; vận ấn, tỉ, kiếp là xấu.

Nhật chủ vượng mà ấn tinh nhiều, đến mức phá hại thực thần, thì lấy tài chế ấn, đồng thời sinh phù cho thực thần. Vận thực, thương, tài tốt; vận ấn, kiếp xấu.

Thân nhược thì đổi chiều. Quan sát nhiều thì lấy ấn và tỉ để phù thân; vận ấn tỉ tốt, vận tài quan thất sát xấu. Tài tinh nhiều thì lấy tỉ kiếp trợ thân; vận ấn, tỉ kiếp tốt, vận thực, thương, tài xấu. Thực thương nhiều thì lấy ấn chế thực thương, sinh phù cho thân; vận ấn, tỉ, kiếp tốt, vận thực, thương, tài xấu.

Cách thất sát: nặng nhẹ do thực thương, ấn và tài quyết định

Thất sát là ngôi cứng nhất trong mười thần, cho nên cách chữa nó cũng phải thật dứt khoát.

Nhật chủ vượng mà quan sát nhiều thì lấy thực thương làm dụng thần; vận thực thương tốt, vận quan ấn xấu. Nhật chủ vượng mà ấn nhiều thì lấy tài để sinh sát, bỏ ấn đi; vận tài, sát tốt, vận ấn, tỉ xấu.

Nhật chủ nhược mà tài tinh nhiều thì lấy tỉ kiếp trợ thân; vận ấn, tỉ tốt, vận thương, tài xấu. Nhật chủ nhược mà thực thương nhiều thì lấy ấn tinh để chế thương, hóa sát; có ấn vận là tốt, gặp thực thương hay tài là xấu.

Cách thương quan: tài phá ấn khi thân vượng, ấn chế thương khi thân nhược

Thương quan sinh tài thì phát, thương quan gặp quan thì họa; thế nên mỗi lá số có một cách xử khác nhau.

Nhật chủ vượng mà ấn nhiều thì lấy tài phá ấn, vừa bớt ấn vừa hao bớt thân. Vận thực, thương, tài tốt; vận ấn, tỉ xấu. Nhật chủ vượng mà tỉ kiếp nhiều thì lấy thất sát; vận tài, sát tốt, vận ấn, tỉ xấu.

Nhật chủ nhược mà tài nhiều thì lấy tỉ kiếp; vận ấn, tỉ tốt, vận tài, quan xấu. Nhật chủ nhược mà quan sát nhiều thì lấy ấn và kiếp; vận ấn, kiếp tốt, vận tài, quan xấu. Nhật chủ nhược mà thực thương nhiều thì dùng ấn để phá thương; vận quan, ấn tốt, vận thực, thương, tài xấu.

Những cách đặc biệt: đi theo thế mạnh nhất của lá số

Có những lá số không chữa bệnh mà thuận theo bệnh, vì thế mạnh quá lớn, ngược lại là chuốc họa.

Cách tòng vượng gặp vận ấn, tỉ, kiếp, thực thương là tốt; gặp vận tài quan, tức những ngôi đi ngược với vượng khí của nó, là xấu. Cách tòng cường thì thế đứng không vững, hợp với vận tỉ, ấn thuận khí thế; vận thực, thương, tài là xấu.

Cách tòng sát mừng vận quan sát, kỵ nhất là ấn và tỉ phù thân. Cách tòng nhi mừng vận thực, thương, tài, kỵ vận ấn; vận tỉ kiếp thì không trở ngại gì. Cách tòng tài mừng vận thực thương và tài vượng, kỵ vận quan sát, ấn, kiếp.

Các cách thuần một hành thì tính theo hành ấy. Cách viêm thượng hợp vận mộc, hỏa, thổ, kỵ kim, thủy. Cách gia tường hợp vận thổ, kim, thủy, kỵ mộc, hỏa. Cách nhuận hạ hợp vận kim, thủy, mộc, kỵ hỏa, thổ.

Các cách hóa khí cũng theo một lẽ. Hóa thủy hợp vận kim, thủy, mộc, kỵ hỏa, thổ. Hóa kim hợp vận thổ, kim, thủy, kỵ hỏa. Hóa hỏa hợp vận mộc, hỏa, thổ, kỵ thủy. Hóa mộc hợp vận thủy, mộc, hỏa, kỵ kim. Hóa thổ hợp vận hỏa, thổ, kim, kỵ mộc.

Cách kiến lộc và cách kình dương: tám thế, sáu thế

Nhật chủ ngồi trên lộc hay trên kình dương thì đã mạnh sẵn, nên cái cần tìm là thứ để tiêu bớt sức ấy.

Cách kiến lộc có tám tình huống. Tài nhiều, thân nhược: lấy tỉ kiếp, vận tỉ kiếp tốt, tài quan xấu. Thân vượng, tài nhược: lấy thực thương, tài, quan; vận tài, quan, thực thương tốt, ấn tỉ xấu. Quan sát nhiều, thân nhược: lấy ấn; vận ấn, tỉ, kiếp tốt, tài quan xấu. Nhật chủ và sát cùng vượng: lấy tài; vận thực thương tài tốt, ấn tỉ xấu.

Thực thương nhiều, nhật chủ nhược: lấy ấn và kiếp; vận ấn kiếp tốt, kỵ thực thương và tài. Có thực thương, nhật chủ vượng: vận tài vượng và thực thương là tốt, kỵ ấn kiếp. Tỉ kiếp nhiều: lấy quan sát; vận tài quan tốt, kỵ ấn kiếp. Ấn nhiều: lấy tài làm hao ấn; vận tài, thực thương tốt, kỵ ấn kiếp.

Cách kình dương có sáu tình huống. Tài nhiều: lấy quan sát chế kiếp, vận tài quan tốt, kỵ ấn kiếp. Có quan sát: lấy tài để nuôi sát yếu, vận tài, quan, sát tốt, kỵ kiếp và ấn. Thực thương nhiều: lấy tài xì hơi thực thương, vận thực thương tài tốt, kỵ ấn kiếp. Tỉ kiếp nhiều: lấy quan sát chế tỉ kiếp, vận quan sát tốt, kỵ thực thương, ấn, kiếp.

Ấn nhiều: lấy tài phá ấn, với điều kiện tài và kiếp không cản nhau; vận tài quan tốt, kỵ ấn kiếp. Tài, quan, thực thương lẫn lộn: lấy ấn làm dụng thần, vận ấn kiếp tốt, kỵ tài quan thực thương.

Gặp vận lợi mà vẫn xấu, gặp vận hại mà vẫn qua

Mọi quy tắc trên đều xoay quanh một nguyên lý: vận nào lợi cho dụng thần là tốt, vận nào không lợi cho dụng thần là xấu. Nhưng thực tế biến hóa nhiều hơn bất kỳ bảng nào. Có khi đại vận đúng là vận dụng thần mà trong Tứ trụ lại có một thần khác khắc mất, hoặc hợp chặt dụng thần ấy; lúc đó điềm tốt hóa xấu, đôi khi rất xấu. Ngược lại, vận không lợi cho dụng thần nhưng trong lá số có thần khác khắc mất hoặc hợp chặt thứ gây hại, thì cái hung ấy không còn là hung, đôi khi còn đổi thành cát. Người đoán phải biết biến thông, không bám cứng vào một điều lệ.

Dụng thần điều hầu: lá số mùa đông cần lửa sưởi ấm

Có lá số năm hành đủ cả mà vẫn lạnh buốt, vì vật nào cũng đang đứng ở thế tù hãm.

Tứ trụ thành cách rõ ràng thì lấy dụng thần tương đối dễ. Nhưng có những lá số không thành cách, hoặc cách quá đặc biệt, hoặc cách mờ nhạt, hoặc không lấy dụng thần theo cách cục; khi ấy việc chọn dụng thần phức tạp hơn nhiều. Hơn nữa, chọn dụng thần không phải thấy nhiều thì chế, thấy ít thì thêm, vượng thì bớt, nhược thì bổ. Điều cần xét là nhật nguyên sinh vào mùa nào và mùa ấy đòi hỏi gì ở nó.

Ví dụ có người sinh năm Bính thân, tháng Canh tí, ngày Quý sửu, giờ Ất mão, được xếp vào cách kiến lộc. Trong tám chữ đủ cả kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, nhưng nước lạnh, gỗ giá, đất đóng băng, lửa bị nhốt. Mùa đông thì khí rét không lợi cho sự sinh trưởng của vạn vật, cho nên chắc chắn phải dùng hỏa để giải hàn. Bính hỏa trong lá số này lại đứng ở đất tù hãm, không có sức. May mà trụ giờ có Ất mộc, sinh sau tiết lập đông nên mộc còn có khí, đủ sinh cho Bính hỏa. Bính hỏa nhờ được sinh mà cháy lên, đuổi cái lạnh, sưởi ấm vạn vật, khiến chúng có dịp lớn lên. Vì vậy lấy Bính hỏa làm dụng thần. Đó là thực thần sinh tài, phú quý tự đến.

Bốn lá số lấy dụng thần theo mùa và theo thế cục

Mỗi lá số dưới đây là một cách đọc: khi thì kim cần lửa rèn, khi thì lửa cần kim hao bớt mộc, khi thì cây non cần hơi ấm.

Lá số thứ nhất: năm Đinh mão, tháng Canh tuất, ngày Kỷ tị, giờ Canh ngọ. Nhật chủ Kỷ thổ thuộc kim thần; can thấu hai Canh là thương quan, địa chi ngọ và tuất hội thành hỏa cục, thấu đỉnh lên là Đinh, tức ấn, thành cách thương quan thổ kim. Mùa thu kim nắm lệnh, thổ vượng, kim mạnh mà được hỏa chế ngự, nên lấy Đinh hỏa làm dụng thần. Người xưa gọi thế ấy là:

Thần kim nhập hỏa hương, chủ về võ quý.

Đây là lá số của Tưởng Giới Thạch.

Lá số thứ hai: năm Mậu thìn, tháng Giáp dần, ngày Đinh mão, giờ Kỷ dậu. Đinh hỏa sinh tháng giêng, hỏa mùa xuân là bản thể. Dần, mão, thìn hội thành mộc cục phương đông, Giáp mộc trong dần thấu ra thành ấn. Mộc nhiều đến mức hỏa bị đè nghẹt, nên lấy chính tài là dậu kim ở trụ giờ làm dụng thần, để hao bớt ấn. Khi vận nhập Canh thân, Tân dậu, dụng thần đắc địa, người này được thăng làm chủ tịch tỉnh.

Lá số thứ ba: năm Đinh mão, tháng Quý sửu, ngày Bính thân, giờ Mậu tí. Bính hỏa sinh tháng mười hai, hỏa mùa đông là bản thể. Thân, tí, thìn hội cục, Quý thủy trong sửu thấu ra. Hỏa suy thủy vượng, thành cách chính quan. Mão mộc trong Tứ trụ tuy lạnh nhưng có Đinh hỏa sưởi ấm. Quý thủy muốn khắc Đinh hỏa thì bị Mậu thổ hợp lại, cho nên lấy ấn tinh là mão mộc làm dụng thần để sinh Bính hỏa. Về sau người này được thăng chức viện trưởng một viện nghiên cứu.

Lá số thứ tư: năm Canh dần, tháng Mậu dần, ngày Giáp tí, giờ Bính dần. Bính và Mậu trong dần đều thấu ra, trời che đất chở, trên dưới có tình; tí và dần củng quý sửu. Lại gặp tam kỳ và quý nhân. Đầu xuân mộc còn đang nảy mầm, khí lạnh còn đó, nhờ Bính hỏa sưởi ấm, nên lấy Bính hỏa làm dụng thần.

Để việc chọn dụng thần theo mùa bớt khó, người ta dùng một bảng đối chiếu: lấy mười can sinh vào mười hai tháng, rồi căn cứ nhu cầu của từng can ngày mà ghi ra dụng thần. Bảng ấy là chỗ dựa khi tám chữ không cho thấy rõ cách cục.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc