Bài tổng quan
Dụng thần là kiêu thần hay chính quan: bốn số phận
Một người đàn bà giàu rất nhanh, có mấy biệt thự, rồi bại vận đến thì toàn bộ bị tịch thu, tiền cất trong nhà còn bị người giúp việc lấy mất. Một người đàn ông cả đời không gặp được vận giúp, một người khác thương tật từ thuở nhỏ. Cùng đặt cược vào một vị dụng thần, vậy điều gì làm kết cục khác nhau đến thế...
Mục lục · 5 phần
- 01Khi kiêu thần hay chính quan giữ vai dụng thần
- 02Người nữ ngày Bính tháng Sửu: giàu rất nhanh rồi trắng tay
- 03Người nam ngày Đinh tháng Sửu: cả đời không gặp vận
- 04Người nam ngày Quý tháng Tuất: vết thương chồng chất từ thuở nhỏ
- 05Người nam ngày Tân tháng Thân: quan trong sáng nhưng chỉ làm đến trưởng thôn
Khi kiêu thần hay chính quan giữ vai dụng thần
Thân nhược, quan sát vây quanh, lại có ấn tinh đứng giữa làm cầu nối, hóa quan sát thành sinh thân: đó là lúc ấn, thậm chí kiêu thần, được chọn làm dụng thần. Ba lá số đầu dưới đây thuộc loại ấy, lá số thứ tư thì chọn chính quan; cả bốn đều là người thật việc thật được thầy Thiệu Vĩ Hoa đoán từ nửa cuối năm 1993. Ngoài một số người địa vị cao không tiện nói rõ, phần lớn đều có tên tuổi cụ thể, bên cạnh những Tứ trụ bình thường để dễ so sánh. Điều đáng chú ý là ba người đầu cùng một dụng thần mà kết cục mỗi người một khác, và sự khác nhau ấy nằm ở vận trình cùng mức độ có cứu.
Người nữ ngày Bính tháng Sửu: giàu rất nhanh rồi trắng tay
Tứ trụ: năm Nhâm Dần, tháng Quý Sửu, ngày Bính Thìn, giờ Kỷ Hợi.
Nhật chủ Bính sinh tháng Sửu, đang ở thời kỳ dưỡng nên không được lệnh, cũng chẳng có trợ giúp. Bù lại, Bính có trường sinh ở Dần của chi năm nên đắc địa, có gốc; lại nhận thêm dư khí Ất mộc trong Thìn và Giáp mộc trong Hợi sinh phù. Dẫu vậy tính cho cùng vẫn là thân nhược.
Ngược lại, những sao khắc chế gồm quan sát vừa hỗn tạp vừa chung sức với thương quan, đều là kị thần. Thông thường quan vượng kị thất sát lẫn vào, lại kị thương khắc quan. Dụng thần mộc tuy có lực nhưng bốn bề nguy cơ rình rập. Quan nhiều mừng gặp thương, vì thương quan chế được quan tinh, nhưng ở đây thương nhược quan vượng nên chế không nổi, tổ hợp ấy báo hiệu họa lao tù.
Mệnh này thân nhược, quan sát nhiều, mừng có ấn tinh làm thông quan, hóa quan sát sinh ấn. Dụng thần là bản khí của Dần mộc, tức Giáp mộc, chính là kiêu thần. Giáp mộc sợ nhất Canh kim trong Thân khắc, nên năm Thân kim vượng sẽ không thuận.
Đại vận thời niên thiếu là sát vận đứng đầu vượng, quan lại hỗn tạp nên là kị vận; nhờ kiêu thần trong trụ hóa mà sinh thân nên chỉ có một số năm sức khỏe yếu, nhiều bệnh. Đến vận chính tài thì gia đình có nạn. Sang vận thiên tài Canh Tuất, Tuất là mộ khố của Bính, thân nhược gặp thiên tài khắc kiêu thần. Năm Nhâm Thân (1992), Canh kim vượng khắc thẳng dụng thần Giáp mộc trong Dần, và bà bị tù. Họa ấy do thân nhược không gánh nổi tài: vì muốn phát tài lớn, bà buôn lậu máy móc nên bị bắt giam. Trong vận này Thìn Tuất xung nhau nên không chỉ một tai họa, cung chồng bị xung nên còn sắp ly hôn, ứng vào năm Tuất 1994.
Năm 1994 bắt đầu lưu niên có thiên can sinh thân, vượng thân, tuy đại vận không hay lắm nhưng cuộc sống còn tạm được. Năm đó vừa ra tù, bà tìm đến thầy Thiệu Vĩ Hoa xin lời khuyên. Thầy nói thẳng rằng bà vì của cải mà ngồi tù, nhưng nhờ còn có lợi thế nên đừng tham giàu thì sau này còn vận may.
Bính hỏa giữa mùa đông và bài học cầu tài
Nét riêng của lá số này là Bính hỏa sinh mùa đông, có mộc sinh vượng cho nên người nhiệt tình, hướng ngoại. Thân tuy nhược nhưng ấn tinh vượng và có lực, không mất cái quý của nó. Tiếc là vận trình không có cứu, còn phải đợi qua đại vận thương thực thì các vận sau mới hanh thông phú quý.
Qua lá số này thấy rõ: nếu mù quáng cầu tài thì lúc được của cũng là lúc tai họa ập đến; đồng tiền không chính đáng thì họa đã phục sẵn trong đó. Người đàn bà này mấy năm liền dụng thần lâm vượng tướng, tiền của đến rất nhanh: có mấy biệt thự, vốn liếng dồi dào. Nhưng bại vận vừa đến là toàn bộ bị tịch thu và phạt, một khoản tiền lớn để trong nhà lại bị người giúp việc lấy trộm rồi bỏ trốn, rốt cuộc trắng tay. Cầu tài hợp đạo lý thì của cải mới bền. Hiểu được phương thuật, hiểu được mệnh vận là thấy lúc đáng được của thì nỗ lực, có rồi thì giữ được, đến phương phát tài mà cầu thì phát càng nhiều. Ngược lại, khi thân gặp bại vận mà không thắng nổi tài thì phát tài càng to, tai họa càng lớn.
Người nam ngày Đinh tháng Sửu: cả đời không gặp vận
Tứ trụ: năm Quý Tị, tháng Ất Sửu, ngày Đinh Mão, giờ Mậu Thân.
Mệnh này thân nhược, không được lệnh tháng lại không có trợ giúp. Kiêu thần nhược nên lực sinh phù yếu, nhưng vẫn tính là được sinh. Lộc Tị ở chi năm giúp thân, cũng xem là đắc địa nhưng lực rất yếu: can ngày âm sinh vào tháng mộ khố, chi tháng không tàng khí của nó nên không có khí gốc.
Ngược lại, can của trụ năm sát khí đằng đằng, thương quan hợp với sát mà không hóa được. Dù vậy sát có thể sinh kiêu ấn, ấn sinh thân, nên nếu gặp vận tốt thì vẫn còn chút quý khí; còn nếu vận không có cứu thì dù bản thân có cứu cũng khó che chở được người nhà.
Thuở nhỏ vận đầu là ấn vận, lợi cho học hành, lợi cho thân, nên hoàn cảnh gia đình và việc học đều tốt. Sang vận Quý Hợi, sát ở đầu vận. Thương quan chỉ hợp chặt được sát của can năm, khó hợp nổi sát của lưu niên, nên khi gặp tuế vận, mình không chết thì người thân chết. Năm Quý Sửu 1973, bà nội và anh cả lần lượt qua đời. Sang quan vận gặp thất sát của năm và thương quan của giờ nên cũng là bại vận. Thiên tài trong vận này càng không tốt vì tài sinh họa: năm 1993, sau ba năm liền nhập phụ tùng lậu, ông bị hải quan tịch thu hàng. Đúng là tài sinh thất sát khắc thân. Vì là kị thần của vận khắc dụng thần nên khó tránh tai nạn.
Kiêu thần vốn có thể hóa được sát nhưng bị đại vận khắc nên không vùng lên nổi. Ở vận này còn có năm khắc mẹ. Kiêu thần của ông có gốc nên mệnh cứng, và mẹ ông mất năm Kỷ Tị 1989. Thực thần của lưu niên sinh kị thần tài tinh, lại trực tiếp khắc dụng thần kiêu thần, tức người mẹ; kiêu và thực cùng gặp thì mẹ khó giữ. Sang vận thực thần lại gặp cả kiêu lẫn thực, hơn nữa là bại vận xì hơi thân. Vận thương cũng không có cứu, nhưng đã qua được tài vận. Mãi đến ngoài bảy mươi tuổi mới đỡ thì đã muộn. Đây là một người không gặp vận.
Cái khác với lá số trước
Thương, sát, kiêu trong Tứ trụ là tổ hợp không tốt; nhưng sát khắc thân mà có hợp có hóa, hóa kị thần là thần phúc. Trường hợp này nhất định phải có vận giúp đỡ; vận không giúp thì chắc chắn chẳng có tháng ngày nào vừa ý, người ấy sẽ long đong vất vả suốt đời. Rõ ràng kém hơn cuộc đời của người nữ ở lá số trước, dù cả hai cùng chọn kiêu làm dụng thần.
Người nam ngày Quý tháng Tuất: vết thương chồng chất từ thuở nhỏ
Tứ trụ: năm Giáp Thìn, tháng Giáp Tuất, ngày Quý Sửu, giờ Nhâm Tí.
Ở mệnh này các cách cục đánh nhau một cách vô tình. Nhật can Quý sinh vào suy địa của tháng Tuất; may nhờ có kiếp của trụ giờ giúp thân nên vẫn có trợ giúp. Tí thủy ở trụ giờ vốn nên đắc địa, nhưng Tí Sửu hợp hóa thành thổ nên lại mất.
Ba thổ là những sao khắc dày đặc; lệnh tháng bị xung, Sửu Tuất tương hình, quan sát hỗn chiến, thương quan nhiều lại lộ ở trụ năm và trụ tháng: cả đời vết thương chồng chất. Thương quan đi liền nhau như hình với bóng, nên nhất định gặp tai nạn thương tật.
Nhật can nhược mà thương nhiều, hay nhật can nhược mà quan sát nhiều, đều nên lấy ấn tinh làm dụng thần, vì ấn hóa được quan sát để sinh thân và cũng chế được thương quan. Dương hóa dương, dương chế dương, vốn nên chọn chính ấn là Canh kim. Nhưng nguyên cục không có chính ấn, chỉ lấy kiêu thần thay, lực kém hơn chính ấn. Kị nhất là gặp năm Thìn Tuất tương xung.
Phải qua tuổi năm mươi hai mới bình yên. Trong vận thực thương trước đó, năm Canh Tuất 1970 là năm thiên khắc địa xung, ông ngã bị thương ở cằm: Canh kim khắc Giáp mộc, Giáp mộc là đầu nên thương ở phần đầu. Đến vận tài, thiên can khắc dụng thần chính ấn, địa chi hợp với quan càng vượng, năm Nhâm Tuất 1982 ông vì đổ xe mà gãy tay trái, thương tay phải, suýt nguy đến tính mạng. Ấy là do đại vận hung; may nhờ thiên can lưu niên giúp thân nên còn được chút tiểu cát: Tí Sửu hợp với thổ của chi ngày, Sửu lại là Thiên Ất quý nhân, tóm lại là còn có cứu. Vận tài Đinh Sửu khắc kiêu dụng thần, nhờ Sửu thổ của chi vận là quý nhân của vận, nếu không thì đã tuyệt mệnh.
Năm Nhâm Thân, thân tí thìn hợp lại mà sinh cho thương quan, thương tật rơi sang người em trai; năm 1992 người em chết vì đổ xe. Người mà thương quan thấu nhiều là người mệnh cứng, gọi là đầu hoắt chân hoắt, nghĩa là anh chị phía trên và các em phía dưới khó bảo toàn. Cũng trong vận này, năm Giáp Tuất 1994 không những Thìn Tuất tương xung mà cả ba chữ Giáp đều sinh cho kị thần tài tinh, tai họa phục khắp nơi. Vận quan sát cũng khó qua; năm 1998 gặp cùng tuế vận nên còn phải đối mặt với cái chết.
Mệnh này không những trắc trở từ nhỏ mà ngũ hành lưu chuyển cũng vô tình. So với hai lá số trước, cùng lấy kiêu làm dụng thần, mệnh này nguy hiểm trùng trùng hơn cả.
Người nam ngày Tân tháng Thân: quan trong sáng nhưng chỉ làm đến trưởng thôn
Tứ trụ: năm Quý Tị, tháng Canh Thân, ngày Tân Dậu, giờ Quý Tị.
Nhật can Tân kim sinh tháng Thân, đúng đất đế vượng nên được lệnh; lại gặp lộc gắn liền kình dương nên đắc địa, thêm kiếp tài vượng giúp thân nên có trợ giúp. Trong các chi của Tứ trụ có bốn tỉ kiếp, bán hội thành kim cục, nhật nguyên gốc rễ sâu chắc.
Can thấu thực thần ở đất tử, lực xì hơi thân có hạn, lại chẳng có tài tinh để hao tổn thân; quan tinh ở đất bệnh, không đủ lực chế tỉ kiếp, hơn nữa còn nằm dưới thực thần. Quan tinh của lá số tuy trong sáng nhưng bị chế, không vượng, cho nên chỉ làm đến chức trưởng thôn.
Tứ trụ này tự thân đã quá vượng, không cần ấn tinh sinh thân, nên khuyết thổ cũng chẳng trở ngại. Tỉ kiếp lại thái quá: nếu tài thấu hoặc tài tàng đều sẽ bị kiếp cướp, vì thế không có tài cũng không phải xấu. Nhưng sau cùng ngũ hành thiên khô, tỉ kiếp là điều tối kị, kế đến là ấn và kiêu. Nhật chủ Tân vượng lại nhiều tỉ kiếp nên trước hết lấy chính quan làm dụng thần. Tai họa lớn nhất trong đời là khắc cha, khắc vợ, phá tài.
May đại vận của ông tốt, không có vận tỉ kiếp. Các vận kiêu, ấn là bại vận, tốt nhất là vận chính quan, thứ đến là các vận sát, thiên tài, chính tài. Trong đó kiêu vận sinh thân là kị, đoạt thực càng kị; thực là ngôi của người cha. Kiêu vận lại rơi vào tuổi thiếu niên nên chỉ khắc cha. Dự đoán cha mất năm 1969, là năm kiêu thần đoạt thực thần, quả nhiên ứng đúng năm ấy. Vượt qua vận kiêu ấn đầy gian khó, sang vận sát thì hoàn cảnh gia đình khá dần. Nhưng chi vận là Tị hỏa, cùng chi năm và chi giờ làm thành ba Tị hình Thân, lại là hình kình dương, hợp với vận kình dương. May hình khắc kị thần là tương hình tốt, hình khắc có ích; song năm nào đủ cả tam hình thì phải có một tai nạn, nhưng nhờ thực thần gặp thiên đức nên có cứu. Quả nhiên năm Giáp Dần (1974), lưu niên đủ Dần, Thân, Tị cùng lệnh tháng và chi vận, ông sinh được một đứa con nên khỏi nạn.
Với người này, vận thực thương xì hơi thân là vận tốt. Nhưng vì dụng thần là quan, thực thần tuy nhược mà nhờ gặp vận nên vượng, khắc dụng thần quan tinh ở phía dưới là điều kị; thương quan lại là sao khắc quan, nên vận thực thương chỉ được xem là bình thường. Đến lưu niên thực thương phải phòng chuyện tranh cãi về chức vụ và các tai họa khác.
Mệnh thiên khô vẫn có đường sáng
Nét riêng của Tứ trụ này là tuy ngũ hành thiên khô nhưng vô sinh, có xì hơi, có chế ngự; lúc dụng thần lâm vượng còn có thể quản một vùng nào đó. Mệnh thiên khô, trong mệnh không có tài, tỉ kiếp lại vượng, vốn là mệnh thầy tăng. Nhưng thiên khô mà không kị, lại là người có tình nghĩa, nên từ năm chuyển tốt đến lúc về hưu gặp các vận dụng thần, hỉ thần, dần dần có của, có chức. Từ năm 1984 về sau của cải khá lên, ông buôn lâm sản, con đường phát tài đúng hướng, phát một mạch đến tuổi trung niên. Chỉ tiếc đến những năm tỉ kiếp, kiêu, ấn vượng thì khó tránh vợ ốm, cha mất, hết của.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
