Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Dụng thần điều hầu của mười can qua mười hai tháng

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Dụng thần điều hầu của mười can qua mười hai tháng

Cùng là Giáp mộc, sinh tháng giêng thì khát một ngọn lửa ấm, sinh tháng sáu lại khát giọt nước mát, sinh giữa đông thì chỉ còn trông vào ánh đinh hỏa. Mỗi can ngày, mỗi tháng sinh đòi một thứ riêng để sống cho trọn...


Chọn dụng thần theo nhu cầu của mùa sinh

Với lá số thành cách rõ ràng, việc lấy dụng thần còn dễ. Khó là những lá số không rõ cách, hoặc cách cục không dùng được. Khi ấy người xem mệnh có một lối đi khác: nhìn mười can ngày, mười hai tháng sinh, rồi hỏi xem vào mùa ấy can ngày cần gì để sống cho trọn. Dưới đây là lần lượt từng can ngày với mười hai tháng sinh của nó.

Mỗi dòng bên dưới liệt kê các can nên dùng, can đứng trước là can ưu tiên, can đứng sau là can phụ trợ hoặc để thay thế khi can đầu vắng mặt.

Giáp mộc: mùa xuân cần lửa ấm, mùa thu cần kim đẽo, mùa đông cần đinh sưởi

Giáp là cây lớn, nên đầu năm cần hơi ấm để lên, cuối năm cần lưỡi rìu để thành rường cột.

Tháng giêng dùng bính và quý, bính hỏa là chủ, quý thủy là phụ. Tháng hai gặp kình dương thêm sát, nên chuyên lấy canh kim; nếu thiếu canh thì dùng bính, đinh, kèm mậu và kỷ. Tháng ba dùng canh, đinh, nhâm; đã dùng canh thì phải có đinh đi cùng, không có canh mới chuyển sang nhâm.

Tháng tư dùng quý, đinh, canh; nếu cách điều hầu không đẹp thì lấy quý làm dụng thần. Tháng năm dùng quý, đinh, canh; không có quý thì dùng đinh, người mộc nhiều thì lấy canh. Tháng sáu dùng quý, canh, đinh, nửa tháng đầu lấy quý, nửa tháng sau lấy canh và đinh.

Tháng bảy dùng canh, đinh, nhâm; riêng cách thương quan có thể chuyên dùng nhâm. Tháng tám dùng canh, đinh, bính, trong đó bính để điều hầu còn canh là chủ. Tháng chín dùng canh, giáp, đinh, nhâm, quý; thổ nhiều thì lấy giáp, mộc nhiều thì lấy canh.

Tháng mười dùng canh, đinh, bính, mậu; canh, đinh, bính lo điều hầu, thủy nhiều thì dùng mậu. Tháng mười một dùng đinh, canh, bính; đinh đứng trước, canh theo sau nếu trong lá số có tị và dần. Tháng mười hai dùng đinh, canh, bính; lấy đinh thông được với dần, tị là tốt.

Ất mộc: gần như quanh năm chỉ cần nước và lửa

Ất mềm như cỏ dây, không nhờ rìu mà nhờ sương và nắng.

Tháng giêng dùng bính và quý, lấy bính làm điều hầu; quý thủy chỉ cần một ít là đủ, nhưng hỏa nhiều thì lại lấy quý. Tháng hai dùng bính, quý như tháng giêng, riêng người có mão thì kị kim mạnh. Tháng ba dùng quý, bính, mậu; nếu các chi hợp thành thủy cục thì phải lấy mậu thổ để chế thủy.

Tháng tư chuyên dùng quý thủy để điều hầu. Tháng năm dùng quý, bính, thượng tuần lấy quý, hạ tuần dùng cả bính lẫn quý. Tháng sáu dùng quý, bính; trong Tứ trụ nhiều kim thủy thì lấy bính hỏa trước, kị mậu thổ và kỷ lẫn vào.

Tháng bảy dùng bính, quý, kỷ; có canh thì dùng bính, quý để khắc và xì hơi, còn kỷ thổ dùng để tả bớt, chữ tả ở đây trái nghĩa với chữ bổ. Tháng tám dùng quý, bính, đinh; thượng tuần lấy quý trước bính sau, hạ tuần lấy bính trước quý sau. Không có quý có thể lấy nhâm; các chi thành kim cục thì chuyên lấy đinh. Tháng chín dùng quý và tân; quý, tân kim gặp giáp thì ví như dây leo quấn cây tùng, cây bách.

Tháng mười dùng bính, mậu, chuyên dùng bính, thủy nhiều thì dùng cả mậu. Tháng mười một chuyên dùng bính hỏa, kị quý thủy. Tháng mười hai cũng chuyên dùng bính; ví như gỗ mọc nơi thung lũng lạnh, chỉ có bính hỏa cứu được.

Bính hỏa: lấy nhâm làm chủ, canh làm tả, mậu để chặn thủy

Bính là mặt trời, nên điều cần nhất luôn là có nước để nắng khỏi cháy khô và có đất để nước khỏi tràn.

Tháng giêng dùng nhâm, canh; nhâm thủy là dụng thần, canh là tả. Tháng hai dùng nhâm, kỷ, thủy nhiều thì kiêm dùng mậu. Tháng ba dùng nhâm, giáp; chuyên dùng nhâm thủy, đất dày thì lấy giáp để tả.

Tháng tư dùng nhâm, canh, quý; lấy canh làm tả, kị mậu thổ lẫn vào, không có nhâm thì dùng quý. Tháng năm dùng nhâm, canh; người có canh thông được chi thân thì càng tốt. Tháng sáu dùng nhâm, canh, giống tháng năm.

Tháng bảy dùng nhâm, mậu; thủy nhiều thì lấy mậu thổ kiềm chế. Tháng tám dùng nhâm, quý; Tứ trụ bính nhiều thì chỉ một mình nhâm là tốt, không có nhâm thì lấy quý. Tháng chín dùng giáp, nhâm; kị thổ nhiều nên lấy giáp trước.

Tháng mười dùng giáp, mậu, canh, nhâm; thủy nhiều thì lấy giáp, hỏa vượng thì lấy nhâm, mộc vượng thì lấy canh. Tháng mười một dùng nhâm, mậu, kỷ; thủy nhiều thì lấy thổ của mậu, kỷ để kiềm chế. Tháng mười hai dùng nhâm, giáp; gặp thổ nhiều phải lấy giáp để vừa bổ vừa tả.

Đinh hỏa: giáp là củi, canh là rìu, hai thứ không thể rời nhau

Đinh là ngọn đèn, ngọn lửa nhỏ muốn sáng bền thì phải có củi và có kẻ chẻ củi.

Tháng giêng dùng giáp, canh; dùng giáp mộc thì phải kiêm cả canh kim. Tháng hai dùng canh, giáp; người có ất thì ưu tiên canh. Tháng ba dùng giáp, canh, mậu; mộc thịnh thì dùng canh, thủy nhiều thì dùng mậu.

Tháng tư dùng giáp, canh; người mộc nhiều thì lấy canh trước. Tháng năm dùng nhâm, canh, quý; người thành hỏa cục mà thấu cả nhâm và quý là quý cách; người không có nhâm có thể lấy quý. Tháng sáu dùng giáp, nhâm, canh; đã dùng giáp thì không được thiếu canh.

Tháng bảy dùng giáp, canh, bính, mậu; người có kỷ thì lấy kỷ làm dụng thần. Tháng tám dùng giáp, canh, bính, mậu; nếu có mậu thổ thành cục thì thương quan bị tổn hại hết. Tháng chín dùng giáp, canh, mậu, cách chọn giống tháng tám.

Tháng mười dùng giáp, canh; giáp là chủ, canh là phụ, còn có thể thêm mậu, quý để hỗ trợ. Tháng mười một và tháng mười hai đều dùng giáp, canh, lấy giống tháng mười.

Mậu thổ: bính và giáp luôn đứng đầu, quý và nhâm lo chuyện nóng lạnh

Mậu là núi đất dày, đầu xuân cần nắng, giữa hạ cần nước, cuối năm thì thiếu bính và giáp là thành người tầm thường.

Tháng giêng dùng bính, giáp, quý, cả ba không thể thiếu; chọn bính trước, rồi đến giáp, rồi đến quý. Tháng hai chọn như tháng giêng. Tháng ba dùng giáp, bính, quý; nếu thổ đang nắm lệnh thì chọn giáp trước, bính sau, quý cuối. Tháng tư chọn như tháng ba.

Tháng năm dùng nhâm, giáp, bính; điều hầu trước hết chọn nhâm thủy, giáp và bính chọn sau. Tháng sáu dùng quý, bính, giáp; nhâm thủy không đủ để điều hầu nên chọn quý thủy trước. Tháng bảy dùng bính, quý, giáp; đầu thu lấy bính hỏa trước, người thủy nhiều thì chọn giáp mà không chọn quý.

Tháng tám dùng bính, quý; giữa thu lấy bính hỏa là tốt nhất. Tháng chín dùng giáp, bính, quý; người có kim cục thì lấy quý trước, bính sau. Tháng mười dùng giáp, bính, cả hai đều không thể thiếu, nếu thiếu thì là người rất tầm thường.

Tháng mười một dùng bính, giáp; chọn bính trước, giáp là phụ. Tháng mười hai chọn giống tháng mười một.

Kỷ thổ: mùa hạ cần quý, mùa đông cần bính, kị giáp kỷ hợp thổ

Kỷ là đất ruộng, ẩm thì tốt, khô thì nứt, lạnh thì cứng, nên việc đầu tiên luôn là điều hòa nóng lạnh.

Tháng giêng dùng bính, canh, giáp; kị nhâm thủy có căn; nếu có thủy cục thì dụng thần là mậu thổ. Tháng hai dùng giáp, quý, bính; kị giáp và kỷ hợp thành thổ cục. Tháng ba dùng bính, quý, giáp; người thổ nhiều thì chọn giáp trước.

Tháng tư dùng quý, bính; điều hầu là việc trên hết, quý là tốt nhất. Tháng năm và tháng sáu cũng dùng quý, bính, chọn như tháng tư. Tháng bảy dùng bính, quý; canh kim nắm lệnh thì phải lấy bính hỏa để chế ngự.

Tháng tám dùng bính, quý, giống tháng bảy, nhưng cũng có thể tùy lá số mà chọn thêm tân kim. Tháng chín dùng giáp, bính, quý; thổ thịnh thì chọn giáp, thổ không thành cục thì dùng bính. Tháng mười dùng bính, giáp, mậu; điều hầu lấy bính làm đầu, nếu nhâm vượng thì kiêm dùng cả mậu. Tháng mười một và tháng mười hai đều dùng bính, giáp, mậu, chọn giống tháng mười.

Canh kim: mùa xuân cần lửa rèn, mùa đông không thể thiếu bính

Canh là kim thô, nên mùa nào cũng cần một thứ luyện cho nó thành dao kiếm, còn mùa lạnh thì cần cả hơi ấm.

Tháng giêng dùng mậu, giáp, bính, nhâm, đinh; hỏa nhiều thổ nặng, nếu hỏa thành cục thì chọn nhâm. Tháng hai dùng đinh, giáp, bính, canh; không có đinh có thể dùng bính thay. Tháng ba dùng giáp, đinh, nhâm, quý; chi hỏa vượng thì dùng quý, can hỏa vượng thì dùng nhâm.

Tháng tư dùng nhâm, bính, đinh, mậu; các chi thành kim cục thì lấy đinh làm chính. Tháng năm dùng nhâm, quý; người hỏa vượng mà không có nhâm, quý thì có thể chọn mậu, kỷ. Tháng sáu dùng đinh, giáp; các chi thành thổ cục thì lấy giáp trước, đinh sau.

Tháng bảy chuyên dùng đinh hỏa; đinh, giáp đi cùng nhau, nếu không có giáp thì không được chọn ất. Tháng tám dùng đinh, giáp, bính; nếu bính hỏa không thấu ra chi thì có thể chọn tạm. Tháng chín dùng giáp, nhâm; người chọn nhâm thì kị gặp kỷ thổ.

Tháng mười dùng đinh, bính. Tháng mười một dùng đinh, giáp, bính, trong đó không thể thiếu bính, người thiếu bính là người rất tầm thường. Tháng mười hai dùng bính, đinh, giáp, chọn như tháng mười một.

Tân kim: nước rửa sạch ngọc, lửa chỉ hiện diện khi trời lạnh

Tân là châu ngọc, nên điều sợ nhất là bụi đất che mờ, điều mừng nhất là dòng nước trong.

Tháng giêng dùng kỷ, nhâm, canh; chọn kỷ thổ sinh kim làm chính, kỷ và nhâm không nên tranh nhau. Tháng hai dùng nhâm, giáp; kị đinh thấu can và chi. Tháng ba dùng nhâm, giáp; nếu bính và tân hợp thành thủy cục thì phải dùng cả bính.

Tháng tư dùng nhâm, giáp, quý; người không có mậu là tốt nhất. Tháng năm dùng nhâm, kỷ, quý; nhâm và kỷ không nên thiên vượng, không có nhâm thì dùng quý, kiêng dùng đinh. Tháng sáu dùng nhâm, canh, giáp, kị thổ vượng.

Tháng bảy dùng nhâm, giáp, mậu; nhâm thủy là tốt nhất, nếu không kị lẫn lộn thì chọn quý thủy. Tháng tám dùng nhâm, giáp, đinh; thổ thịnh thì chọn giáp trước, kim vượng thì thêm đinh. Tháng chín dùng nhâm, giáp, sợ hỏa thổ vượng.

Tháng mười dùng nhâm, bính; đây là cách kim thủy thuần khiết. Tháng mười một dùng bính, mậu, nhâm, giáp; bính không được thiếu, còn các can khác thì tùy lá số mà chọn. Tháng mười hai dùng bính, mậu, nhâm, kỷ, cũng không được thiếu bính.

Nhâm thủy: mùa hè cần kim, mùa thu cần mộc, tháng nào cũng ngại thủy tràn

Nhâm là sông lớn, chảy được thì nuôi vạn vật, tràn bờ thì hóa lũ.

Tháng giêng dùng canh, bính, mậu; tỉ kiếp nhiều thì ưu tiên mậu. Tháng hai dùng mậu, tân, canh; có nhiều cách cục khác nhau thì mậu vẫn là tốt nhất. Tháng ba dùng giáp, canh, bính; nếu thành kim cục thì phải dùng thêm bính mới tốt.

Tháng tư dùng nhâm, tân, canh, quý; tỉ kiếp ẩn trong canh, tân. Tháng năm dùng quý, canh, tân; kị đinh thấu can nào đó mà chế mất quý. Tháng sáu dùng tân, giáp; gặp thổ nhiều thì chọn giáp trước, tân sau.

Tháng bảy dùng mậu, đinh; mậu phải đóng ở thìn, tuất, đinh phải đóng ở ngọ, tuất. Tháng tám dùng giáp, canh; nên chỉ có một ngôi thủy. Tháng chín dùng giáp, bính, tuất; người có hợp thì chọn bính trước, giáp sau.

Tháng mười dùng mậu, bính, canh; người mộc cục nhiều nên chọn canh trước. Tháng mười một dùng mậu, bính, cả hai không được thiếu cái nào. Tháng mười hai dùng bính, giáp, đinh; thượng tuần chọn bính, hạ tuần chọn cả đinh lẫn giáp.

Quý thủy: mùa đông nhất định cần bính, mùa hạ cần canh, tân giữ nguồn

Quý là mưa sương, nên mùa nóng cần nguồn nước từ kim, mùa lạnh cần ánh nắng làm tan băng.

Tháng giêng dùng tân, bính; người không có tân thì chọn canh, bính và canh đòi hỏi thế lực ngang nhau. Tháng hai dùng canh, tân; vì ất và mão hợp với canh nên ưu tiên chọn tân. Tháng ba dùng bính, tân, giáp; thượng tuần chọn bính, hạ tuần chọn cả tân lẫn giáp, không được chọn đinh.

Tháng tư chuyên dùng tân, có thể chọn canh thay. Tháng năm dùng canh, tân, quý, kị gặp đinh hỏa vượng. Tháng sáu chọn như tháng năm. Tháng bảy dùng đinh; người có kim cục thì đinh phải thông với ngọ, tuất, mùi.

Tháng tám dùng tân, bính; người có cả hai thì thủy ấm, kim ôn, nhưng không nên đứng sát liền nhau mà cách một ngôi thì tốt. Tháng chín dùng tân, giáp, quý, nhâm, kị thổ thịnh. Tháng mười dùng canh, tân, mậu, đinh; thủy nhiều thì chọn mậu trước, kim nhiều thì chọn đinh trước.

Tháng mười một dùng bính, tân; bính không thể thiếu, thiếu là thành tầm thường. Tháng mười hai dùng bính, đinh; nên sinh vào ban đêm. Người có căn thông với kỷ, ngọ, mùi, tuất thì quý, nếu có hỏa cục thì cần có canh, tân.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc