Bài tổng quan
Địa chi xung, hại, hình: vô lễ, vong ơn và cậy thế
Hai chi đang hợp nhau êm ấm, bỗng một chi thứ ba chen vào xung tan, và từ đó sinh ra lục hại. Cổ nhân còn đặt cho mỗi cặp hình một cái tội cụ thể: vô lễ, vong ơn, cậy thế, hay tự mình làm hại mình. Có một cặp chi mà người này gặp thì xấu còn người kia gặp lại vô sự...
Tam hội: bốn phương, mỗi phương một cục
Ba chi cùng một phương thì hội lại thành một cục. Dần, Mão, Thìn hội thành mộc ở phương đông; Tị, Ngọ, Mùi hội thành hỏa ở phương nam; Thân, Dậu, Tuất hội thành kim ở phương tây; Hợi, Tý, Sửu hội thành thủy ở phương bắc. Sức của tam hội lớn hơn tam hợp, vì khí của ba chi cùng tụ về một phương.
Lục xung: đối diện nhau thì khắc nhau
Sáu cặp xung là Tý với Ngọ, Sửu với Mùi, Dần với Thân, Mão với Dậu, Thìn với Tuất, Tị với Hợi. Xung thực chất là đối xung, nhìn trên hình Bát quái là thấy ngay: Mão là mộc ở đông, Dậu là kim ở tây, Ngọ là hỏa ở nam, Tý là thủy ở bắc, các chi khác cũng nằm ở hai phương đối lập nhau. Tương xung nghĩa là tương khắc. Trong Tứ trụ, gặp xung có lúc cát có lúc hung: xung mất thần phúc là hung, xung mất thần khắc là cát.
Lục xung là ngũ hành xung nhau và khắc nhau, nhưng ngoài chuyện đối phương, bên trong mỗi chi còn có những can ẩn đang khắc nhau. Tý Ngọ xung: Quý thủy trong Tý khắc Đinh hỏa trong Ngọ, Kỷ thổ giấu trong Ngọ lại khắc Quý thủy trong Tý. Sửu Mùi xung: Tân kim trong Sửu khắc Ất mộc trong Mùi, Kỷ thổ và Đinh hỏa trong Mùi khắc Quý thủy và Tân kim trong Sửu. Dần Thân xung: Giáp mộc trong Dần khắc Mậu thổ trong Thân, Canh kim và Nhâm thủy trong Thân khắc Giáp mộc và Bính hỏa trong Dần. Mão Dậu xung: Tân kim trong Dậu khắc Ất mộc trong Mão. Thìn Tuất xung: Quý thủy trong Thìn khắc Đinh hỏa trong Tuất, Tân kim trong Tuất khắc Ất mộc trong Thìn. Tị Hợi xung: Canh kim trong Tị khắc Giáp mộc trong Hợi, Nhâm thủy trong Hợi khắc Bính hỏa trong Tị.
Trong lục xung có một chiều mạnh một chiều yếu. Tý Ngọ xung thì Tý thủy xung khắc Ngọ hỏa, còn Ngọ hỏa chỉ xung mà không khắc. Mão Dậu xung thì Dậu kim xung khắc Mão mộc, Mão mộc chỉ xung. Dần Thân xung thì Thân kim xung khắc Dần mộc, Dần mộc chỉ xung. Tị Hợi xung thì Hợi thủy xung khắc Tị hỏa, Tị hỏa chỉ xung.
Xung trong Tứ trụ có xung nằm sát nhau và xung cách ngôi, có xung thuận và xung ngược. Giả sử sinh năm Bính Ngọ, tháng Canh Tý, ngày Đinh Mão, giờ Kỷ Dậu: Tý Ngọ xung nhau, Mão Dậu xung nhau, đó là tượng không tốt, trừ người rất đặc biệt, đắc thế đắc địa, mới thành đại quý. Xung cách ngôi thì nạn nhẹ, xung liền nhau thì nạn nặng hơn, vì xung liền nhau lực lớn, xung cách ngôi lực nhỏ.
Lục hại: cái hợp bị kẻ khác xung tan
Sáu cặp hại là Tý Mùi, Sửu Ngọ, Dần Tị, Mão Thìn, Thân Hợi, Dậu Tuất. Vì sao Tý Mùi lại hại nhau? Vì Tý vốn hợp với Sửu, nhưng Mùi tới xung tan cái hợp ấy, nên Tý Mùi tương hại. Sửu hợp với Tý, Ngọ tới xung tan nên Sửu Ngọ hại nhau. Dần hợp Hợi, Tị tới xung tan nên Dần Tị hại nhau. Mão hợp Tuất, Thìn tới xung tan nên Mão Thìn hại nhau. Thìn hợp Dậu, Mão tới xung tan; Tị hợp Thân, Dần tới xung tan; Ngọ hợp Mùi, Sửu tới xung tan; Mùi hợp Ngọ, Tý tới xung tan; Thân hợp Tị, Hợi tới xung tan; Dậu hợp Thìn, Tuất tới xung tan; Tuất hợp Mão, Dậu tới xung tan; Hợi hợp Dần, Thân tới xung tan. Mỗi cặp hại đều sinh ra từ một cái hợp bị phá.
Từng cặp có ý nghĩa riêng. Người có Tý Mùi hại, Mùi thổ vượng, Tý thủy vượng, gọi là gia thế tương hại, không có lợi cho người thân trong nhà. Người có Sửu Ngọ hại, Ngọ là hỏa vượng lăng nhục tử kim trong Sửu, nên gọi là bị quan quỷ tương hại. Người có Dần Tị hại thì được thăng quan mà lại bất lợi. Người có Mão Thìn hại, Mão lấy mộc vượng coi thường thổ tử trong Thìn, lấy trẻ lừa già nên bị hại. Người có Thân Hợi hại thì được đặc cách thăng quan, nhưng rốt cuộc vì ganh ghét tài năng, tranh giành nhau mà bị hại. Người có Dậu Tuất hại, vì Tuất hỏa tử làm hại kim vượng của Dậu, là chuyện đố kỵ tương hại; cho nên nói người Dậu gặp Tuất thì xấu, còn người Tuất gặp Dậu thì vô sự.
Gọn lại thì Tý Mùi là cái hại của gia thế, Sửu Ngọ là cái hại do quan quỷ, Dần Tị là thăng chức mà bất lợi, Mão Thìn là trẻ lừa già, Thân Hợi là ganh ghét tài năng, còn Dậu Tuất là nỗi đố kỵ chỉ đi một chiều.
Sáu điều hại ấy chủ về cô độc cho bản thân, người thân trong nhà tổn thất, của cải mất mát. Phụ nữ rất không nên gặp. Lạc Lộc Tử có câu: người có lục hại thì mệnh thường gặp bảy điều tổn thương. Kim Thư Quyết nói: người gặp lục hại kiêng nhất là phạm vào ngày giờ; người già, người tàn tật thì không nơi nương tựa; nếu còn gặp kình dương thì không bị tên đạn cũng dễ gặp hổ. Cho nên mệnh gặp lục hại thì điều cần tránh nhất là can chi của ngày và giờ.
Tương hại là bị hại, tức là tương khắc. Giả sử sinh năm Bính Thân, tháng Ất Mùi, ngày Mậu Tý, giờ Đinh Tị, trong Tứ trụ đã có Tý Mùi hại. Hại đương nhiên không tốt, nhưng còn phải xem có bị chế ngự hay không: gặp chế ngự thì không đáng ngại, không có chế ngự thì bất lợi.
Tam hình: bốn thứ tội của lòng người
Tý hình Mão và Mão hình Tý là hình phạt do vô lễ. Dần hình Tị, Tị hình Thân, Thân hình Dần là hình phạt do vong ơn. Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi, Mùi hình Sửu là hình phạt do cậy quyền cậy thế. Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi là hình phạt tự mình gây ra, gọi là tự hình. Ân sinh ra hại, hại lại sinh ra ân. Tam hình sinh ra từ tam hợp, lục hại sinh ra từ lục hợp. Nếu tam hợp Thân Tý Thìn lại gặp thêm ba ngôi Dần Mão Thìn thì Thân hình Dần, Tý hình Mão, Thìn gặp Thìn là tự hình. Dần Ngọ Tuất mà thêm Tị Ngọ Mùi thì Dần hình Tị, Tuất hình Mùi, Ngọ gặp Ngọ là tự hình. Tị Dậu Sửu thêm Thân Dậu Tuất thì Tị hình Thân, Dậu gặp Dậu là tự hình, Sửu hình Tuất. Hợi Mão Mùi thêm Hợi Tý Sửu thì Hợi gặp Hợi là tự hình, Mão hình Tý, Mùi hình Sửu. Trong cái hợp sinh ra hình là do vợ chồng hợp nhau mà dẫn đến hình hại, gây tổn thương.
Tý hình Mão: hình phạt do vô lễ
Tý thuộc thủy, Mão thuộc mộc; thủy sinh mộc, Tý thủy là mẹ, Mão mộc là con. Nay con hình mẹ nên gọi là vô lễ. Con đi hình mẹ là trái cả chữ lễ và chữ hiếu.
Dần, Tị, Thân: hình phạt vì vong ơn
Giáp mộc trong Dần hình phạt Mậu thổ trong Tị. Mậu lấy Quý thủy hợp làm vợ; Quý thủy là mẹ của Giáp mộc, Mậu thổ là cha của Giáp mộc; Giáp mộc hình khắc cha chính là tội vong ơn. Bính trong Tị hình phạt Canh trong Thân, Canh trong Thân hình phạt Giáp trong Dần, cũng cùng nghĩa ấy. Hỏa sinh ở Dần hình phạt kim sinh ở Tị; thổ ở Tị hình phạt thủy sinh trưởng ở Thân; thủy sinh trưởng ở Thân lại hình phạt hỏa trường sinh ở Dần. Chúng không sinh nhau mà còn hình khắc, sát phạt nhau, nên gọi là hình phạt vong ơn.
Sửu, Mùi, Tuất: hình phạt vì cậy thế
Trong Sửu có thủy vượng, ỷ thế vượng mà hình phạt hỏa mộ trong Tuất. Tuất ở ngôi tôn quý trong lục giáp, còn Mùi là kẻ hèn yếu nhất trong lục quý, nên Tuất ỷ thế cao sang mà hình phạt Mùi kém cỏi. Mùi nhờ có vượng thổ mà hình phạt thủy vượng trong Sửu; Mùi nhờ vượng hỏa mà hình phạt Tân kim trong Sửu; Tuất nhờ có Tân kim mà hình phạt Ất mộc trong Mùi. Tất cả đều lấy mạnh hiếp yếu, nên gọi là hình phạt do cậy quyền cậy thế. Đó chính là sự tiếm vượt: kẻ mạnh lấn át người yếu thế.
Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi: tự mình hình phạt mình
Nhìn vào ba nhóm chi thì thấy rõ chuyện này. Trong bốn chi Dần, Thân, Tị, Hợi thì ba chi đầu hình nhau, riêng Hợi không dự vào. Trong bốn chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì Tuất, Sửu, Mùi hình nhau, riêng Thìn đứng ngoài. Trong bốn chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì chỉ Tý và Mão hình nhau, Ngọ và Dậu không có đối thủ. Bốn chi bị bỏ ngoài là Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi, và chúng quay sang tự hình. Thìn là kho nước, Ngọ là hỏa vượng, Dậu là kim vượng, Hợi là thủy vượng; khí vượng quá, thái quá thì sinh tai họa, nên gọi là hình phạt tự gây. Lẽ đầy thì hao của Dịch ứng đúng ở chỗ này.
Tự hình kiêng nhất là Thìn gặp Thìn, Ngọ gặp Ngọ, Dậu gặp Dậu, Hợi gặp Hợi. Xưa có câu: tự hình có thêm sát là không tốt. Năm sinh và tháng sinh mà tự hình thì nhất định bị tổn thương, nếu không bị giam cầm thì cũng chết cháy, hoặc gặp nạn binh đao mất đầu. Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi tự hình thì đến tuổi trung niên không rõ ràng, khó đoán.
Có hình phạt chưa chắc là xấu
Tam hình có cát có hung. Nếu ngôi của tam hình có kèm tam kỳ, có thiên Ất, lại kiêm được ngày giờ, tuy có hình phạt nhưng nếu gặp thiên đức, nguyệt đức, chức quan lại ở bậc cực phẩm thì không xấu. Cho nên nếu ba hình bằng nhau lại gặp tam kỳ quý nhân hay thiên đức, nguyệt đức thì tốt. Phụ nữ gặp tam hình thường hay tổn thai, cả đời không có lợi cho người thân, nhưng tính cách khiêm nhường, chính trực.
Người bị hình là người bị hình phạt. Hình phạt chủ yếu chỉ việc phạm pháp, hoặc bệnh tật, đau khổ, bị thương. Tứ trụ gặp hình phạt đều không tốt, vì vậy nên tuân thủ pháp luật, đừng làm điều xấu thì may ra tránh được. Ngay cả chuyện bệnh tật nhiều, nếu biết đề phòng và kiên trì luyện tập thì cũng giảm bớt nỗi lo, nỗi khổ.
Gom lại ý nghĩa của bốn loại hình: có hai chi Tý, Mão trong Tứ trụ là hình phạt do vô lễ, tức vì chuyện vô lễ mà phạm pháp hoặc sinh ra tai họa. Hình phạt do cậy quyền cậy thế là mình có quyền thế mà làm bậy, làm càn, lừa dối hay áp đảo người khác, dẫn đến phạm pháp hoặc tai họa. Hình phạt vong ơn là chịu ơn, biết ơn mà không báo đáp, ngược lại còn hại hoặc giết ân nhân, gây ra tội lỗi. Tự hình là tự mình có âm mưu hay mưu đồ nào đó mà dẫn đến phạm tội.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
