Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Cung Nô Bộc, Điền Trạch, Tật Ách, Huynh Đệ, Tử Tức Trong Toàn Thư

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn16/09/202618 phút đọc6 lượt đọc
Cung Nô Bộc, Điền Trạch, Tật Ách, Huynh Đệ, Tử Tức Trong Toàn Thư

Năm cung Nô Bộc, Điền Trạch, Tật Ách, Huynh Đệ và Tử Tức quyết định quan hệ với người dưới, gia sản, sức khỏe, anh em và con cái. Cung Nô Bộc theo phú nôm còn liên quan cả chuyện lứa đôi, không chỉ riêng thuộc hạ, bạn bè. Cung Điền Trạch coi nhà cửa, ruộng vườn, tổ nghiệp, và Tuần, Triệt đóng tại đây thì cơ nghiệp cha mẹ không truyền lại được cho con. Trước khi xem cung Tật Ách phải xem chính diệu cung Mệnh miếu hay hãm, có gặp Tứ Sát xung phá hay không. Với Huynh Đệ và Tử Tức, lời giảng của Toàn Thư khá tầm thường, quanh quẩn chuyện có hai, ba hay bốn người, nên phú nôm dài của tiền nhân được dùng thay vào. Cô Thần, Quả Tú ở cung Tử Tức thì gian truân về đường con cái.


Cung Nô Bộc

Cung Nô Bộc cho thấy quan hệ của đương số với người giúp việc, thuộc hạ và bạn bè.

Mười bốn chính tinh tại cung Nô Bộc

Tử Vi chủ đắc lực, sinh tài; nếu chỉ có Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì toàn gặp bọn láo khoét; bị Địa Không, Địa Kiếp thì dễ chuốc oán thù, phản bội.

Thiên Cơ ở miếu địa thì làm chủ được người, ở hãm cung thì bị người oán; cùng Thái Âm thì kẻ dưới rong chơi, lười nhác; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì toàn gặp loại phản phúc, khó chơi.

Thái Dương nhập miếu thì làm chủ được người; cùng Cự Môn thì dễ bị oán; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì luôn luôn bị phản.

Vũ Khúc ở miếu địa thì hô một tiếng cả trăm người thưa; cùng Thiên Phủ thì càng nhiều gia nhân; cùng Thất Sát thì bị bội chủ; cùng Tham Lang thì gia nhân chẳng giúp ích được việc gì.

Thiên Đồng chủ đắc lực; cùng Thái Âm càng hay; bị Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp thì phản chủ.

Liêm Trinh ở hãm địa thì gia nhân hay phản; ở đắc địa thì hô một tiếng trăm người đáp lại; cùng Thất Sát thì bội chủ; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì bị lừa gạt.

Thái Âm ở miếu địa thì nhiều kẻ hầu người hạ; cùng Thái Dương càng hay; cùng Thiên Cơ thì toàn phường vô dụng.

Thiên Phủ chủ hô một tiếng trăm người vâng dạ; cùng Tử Vi thì người dưới giúp chủ; cùng Vũ Khúc thì gia nhân nhiều.

Thiên Lương chủ nhiều gia nhân; cùng Thiên Đồng thì người thuộc hạ biết bảo vệ chủ; cùng Thiên Cơ thì gia nhân kém trung thành.

Thất Sát chủ có gia nhân lấn lướt chủ, thậm chí rình rập trộm cắp của chủ; cùng Vũ Khúc thì phản chủ; cùng Liêm Trinh thì bất đắc lực; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì phải hết sức cẩn thận với kẻ ăn người làm.

Phá Quân nhập miếu thì gia nhân đắc lực, ở hãm địa thì chuốc oán, bị bội chủ; cùng Vũ Khúc thì hay phản; cùng Tử Vi thì tốt; gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì nguy hiểm.

Các phụ tinh tại cung Nô Bộc

Văn Xương nhập miếu đứng một mình thì đắc lực, giúp chủ; thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì phản chủ. Văn Khúc ở miếu địa thì đắc lực; ở hãm cung mà thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì oán chủ mà bỏ trốn.

Tả Phụ đứng một mình thì hô một tiếng trăm người đáp, chỉ tối kỵ đi kèm Tứ Sát. Hữu Bật đứng một mình thì nhiều gia nhân; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì phản bội, ăn trộm rồi bỏ trốn.

Lộc Tồn chủ thuộc hạ đông, biết bảo vệ chủ; nếu gặp Tứ Sát cùng Đại Hao, Tiểu Hao thì toàn một lũ ăn hại.

Kình Dương chủ bội chủ, chuốc oán, bất đắc lực. Đà La chủ oán chủ; nếu nhập miếu thì bớt xấu hơn.

Hỏa Tinh đứng một mình thì dễ chuốc oán. Linh Tinh nhập miếu thì tốt, ở hãm địa thì xấu.

Phú nôm của tiền nhân ta về cung Nô Bộc

Cung Nô Bộc có Hoa Cái, Hồng Loan, Đào Hoa, cùng Tả Phụ, Hữu Bật chiếu vào, thì chuyện chính thê, thứ thiếp, tiền duyên đan xen vào nhau, chẳng khác nào dây cát quấn quanh gốc cây. Con em trong nhà lúc ở lúc đi cũng bởi Thái Dương, Thái Âm hãm địa nơi cung Nô Bộc. Đào Hoa gặp lại cung Nô thì dễ lừa dối vợ chồng, mang tiếng bất trung, phiền muộn. Cung Nô mà có Hóa Quyền thì e rằng vợ lẽ sẽ cướp mất quyền của chính thê. Kình Dương, Đà La kỵ gặp Phá Quân ở cung này, thì bạn bè, tôi tớ dễ trở mặt, khó lòng lường trước.

Bài phú nôm này cho thấy cung Nô Bộc có liên quan đến cả chuyện lứa đôi, chứ không phải chỉ riêng chuyện thuộc hạ, bạn bè — trong khi Tử Vi đẩu số toàn thư hoàn toàn không nói gì đến mối liên quan này.

Cung Điền Trạch

Cung Điền Trạch chủ về nhà cửa, ruộng vườn và phần tổ nghiệp để lại.

Mười bốn chính tinh tại cung Điền Trạch

Tử Vi chủ ruộng vườn tốt tươi; bị Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp thì lúc còn lúc mất; cùng Phá Quân thì dễ phá tổ nghiệp; cùng Thiên Đồng thì xây dựng được gia nghiệp, nếu hội thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc.

Thiên Cơ phải tự mình gây dựng nhà cửa, không được hưởng của tổ tiên; cùng Cự Môn tại cung Mão thì nhiều ruộng vườn, nhà cửa; ở cung Dậu thì thường không giữ nổi nghiệp ông cha, trước lớn sau nhỏ; cùng Thiên Lương thì đứng tuổi mới giàu; cùng Thái Âm thì tốt.

Thái Dương nhập miếu thì thừa hưởng tổ nghiệp; cùng Thái Âm thêm sao tốt thì ruộng vườn, nhà cửa nhiều; cùng Cự Môn ở cung Dần thì rất vượng; ở cung Thân thì làm hư tổ nghiệp; Thái Dương ở hãm địa mà gặp thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì chẳng có tấc đất cắm dùi.

Vũ Khúc đứng một mình ở vượng địa thì được hưởng di sản lớn của ông cha; ở hãm địa thì phá nghiệp; cùng Phá Quân, Đại Hao thì bán hết của cải tổ tiên; cùng Thiên Tướng thì phá rồi mới lập lại; cùng Thiên Phủ thì gìn giữ được gia nghiệp. Vũ Khúc gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh ở cung Điền Trạch thì cực tốt, ruộng vườn hưng thịnh; gặp Địa Không, Địa Kiếp thì thất thường, lúc còn lúc hết sạch.

Thiên Đồng trước ít sau nhiều; cùng Cự Môn thì kém; cùng Thái Âm nhập miếu thì nhà cửa đồ sộ; cùng Thiên Lương thì bình thường; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì chẳng bao giờ có nhà cửa.

Liêm Trinh chủ phá tổ nghiệp; cùng Tham Lang thì gìn giữ không được bao lâu; cùng Thất Sát thì tự mình gây dựng; cùng Thiên Phủ thì thành gia nghiệp.

Thiên Phủ chủ nhiều đất cát, vườn ruộng; cùng Tử Vi càng hay; cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc thì biết bảo vệ gia nghiệp.

Thái Âm nhập miếu thì nhà cao cửa rộng; ở hãm địa mà thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì suốt đời lêu bêu; cùng Thiên Cơ thì tự tay gây dựng; cùng Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Quyền, Hóa Lộc hay Lộc Tồn thì nhiều ruộng vườn.

Tham Lang ở hãm địa thì phá tổ nghiệp; ở miếu vượng thì về sau mới hay; cùng Liêm Trinh thì tầm thường; Tham Lang gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh thì cực tốt, nhưng phải cẩn thận kẻo bị cháy nhà.

Cự Môn ở miếu vượng thì bất ngờ phát; ở hãm địa thì khốn khổ vì chuyện nhà cửa, ruộng vườn; cùng Thái Dương ở hãm địa thì đỡ hại hơn; gặp Tứ Sát thì không có đất cắm dùi.

Thiên Tướng ở miếu vượng thì tốt; cùng Tử Vi càng thêm hay; cùng Liêm Trinh mà lại thấy cả Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì tổ nghiệp trôi giạt, tan tác.

Thiên Lương nhập miếu thì tổ nghiệp hưng vượng; cùng Thiên Đồng thì ban đầu gian truân, về sau mới tốt; cùng Thiên Cơ thì sẽ có nhà cửa của riêng mình.

Phá Quân ở cung Tí, Ngọ thì tổ nghiệp vinh xương, nhưng kỵ Đại Hao, Tiểu Hao.

Các phụ tinh tại cung Điền Trạch

Văn Xương chủ nhà cửa rộng rãi, nhưng chớ gặp Tứ Sát. Văn Khúc ở vượng địa thì tốt. Tả Phụ thừa hưởng tổ nghiệp, gặp Tứ Sát thì hư hoại.

Lộc Tồn chủ tổ nghiệp vinh xương, nếu hội Tứ Sát thì hư hoại. Kình Dương nhập miếu thì trước phá sau thành, ở hãm địa thì trôi giạt. Đà La rất xấu.

Linh Tinh đứng một mình thì điêu linh. Hỏa Tinh nhập miếu thì tốt; gặp Tứ Sát, Địa Không, Địa Kiếp thì chẳng ra gì.

Phú nôm của tiền nhân ta về cung Điền Trạch

Tuần, Triệt đóng tại cung Điền thì cơ nghiệp cha mẹ không truyền lại được cho con. Phá Quân đóng ở cung này thì tán tài, dựng nhà lên rồi lại bán đi, chỉ còn lưu lại chút ruộng tổ. Tang Môn gặp Hỏa Tinh là sao xấu, chiếu tới phương nào thì phương ấy dễ gặp họa cháy. An Quang gặp Đào Hoa, Hồng Loan tại cung Điền Trạch thì cô dì trong họ để lại ruộng nương. Long Trì, Địa Kiếp đồng cung thì giếng bị lấp, ao bị bồi ngay cạnh nhà. Thiên Cơ, Thiên Lương hội nhau tại Tuất, Thìn — nơi hành Mộc — thì cơ nghiệp gây dựng đến đời sau mới nảy nở. Thiên Khốc, Thiên Hư, Tang Môn hội nhau thì chẳng lành, tổn hại cả người lẫn của, khó mà yên ổn.

Cung Tật Ách

Trước khi xem cung Tật Ách, phải xem chính diệu của cung Mệnh ra sao — miếu hay hãm địa, có gặp Tứ Sát xung phá không — rồi mới kết hợp cả hai cung lại mà đoán bệnh tật.

Mười bốn chính tinh tại cung Tật Ách

Tử Vi ít tai họa, tật bệnh hiểm nghèo; cùng Thiên Phủ thì tốt; cùng Phá Quân thì huyết khí bất hòa; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thường có ám tật; bị Địa Không, Địa Kiếp thì hay có bệnh tim.

Thiên Cơ lúc còn nằm nôi đã lắm tật bệnh; ở hãm địa thì đầu và mặt hơi lệch; cùng Cự Môn thì bệnh tại huyết khí; cùng Thiên Lương thì tật bệnh nơi hạ bộ; cùng Thái Âm hay bị nhọt; gặp Kình Dương, Đà La ở hãm địa thì tứ chi dễ tê liệt hay đau mắt.

Thái Dương hay đau đầu; cùng Thái Âm thêm Tứ Sát thì thương tích nơi mắt hoặc mắt mờ.

Vũ Khúc chủ tai họa từ khi còn quấn tã, tay chân, đầu mặt dễ có sẹo; cùng Thiên Đồng thì có ám tật; cùng Tham Lang ở miếu vượng thì khỏe mạnh, nếu ở hãm địa thêm Tứ Sát thì hay có bệnh trĩ, nhọt.

Thiên Đồng ít tật bệnh, tai họa; cùng Cự Môn thì bệnh về tâm khí; cùng Thái Âm, Kình Dương, Hỏa Tinh thì bệnh về huyết khí; cùng Thiên Lương thêm Tứ Sát thì bệnh về tâm khí.

Liêm Trinh chủ lúc còn bú sữa đã lắm tật, hay nhọt mụn; cùng Thiên Lương ở hãm địa thì có bệnh về mắt; cùng Thất Sát, Phá Quân, Thiên Phủ thì ít bệnh tật.

Thiên Phủ chủ mạnh khỏe, gặp tai nạn dễ được cứu; cùng Tử Vi thì tốt; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì phong thấp; cùng Liêm Trinh thêm Địa Không, Địa Kiếp, Không Vong thì tàn tật.

Thái Âm ở vượng địa thì mạnh khỏe, không tật bệnh; ở hãm địa thì hay lao phổi, nữ mệnh dễ tàn tật; cùng Thái Dương thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì bị đau mắt; gặp Địa Không, Địa Kiếp thì mắc bệnh phong.

Cự Môn tuổi trẻ hay bị bệnh máu xám; cùng Thái Dương thì đau đầu; cùng Thiên Đồng thì bệnh nơi hạ bộ; thêm Kình Dương, Hỏa Tinh là bệnh do tửu sắc gây ra; gặp Hóa Kỵ nên cẩn thận con mắt, lỗ tai.

Thiên Tướng ít tai nạn, thường có bệnh ngoài da; cùng Tử Vi thì tốt; cùng Vũ Khúc thêm Tứ Sát, hoặc gặp Phá Quân, Liêm Trinh thêm Địa Không, Địa Kiếp thì tay chân dễ bị thương.

Thất Sát lúc nhỏ lắm tai nạn, lớn lên dễ bị trĩ; cùng Vũ Khúc thêm Tứ Sát thì tàn thương nơi tay chân; cùng Liêm Trinh thì có bệnh mắt; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì càng xấu.

Phá Quân lúc nhỏ hay ghẻ lở; cùng Vũ Khúc thì mắt đỏ; cùng Tử Vi thì đỡ hại hơn; cùng Liêm Trinh thì thương tích, tàn tật.

Các phụ tinh tại cung Tật Ách

Văn Xương đứng một mình thì sức khỏe tốt; gặp Tứ Sát xung phá thì lắm tai họa. Văn Khúc thêm cát tinh phù trợ thì suốt đời không tai không nạn; gặp Tứ Sát và Địa Không, Địa Kiếp ở hãm địa thì ngược lại.

Tả Phụ đứng một mình thì bình thường; gặp Tứ Sát thì dễ gặp tai nạn. Hữu Bật đứng một mình cũng luận như trên.

Lộc Tồn tuổi thiếu niên lắm tai nạn; nếu được cát tinh phù trợ thì đỡ hại; thấy Tứ Sát xung phá thì phải cẩn thận tay chân bị tàn tật.

Kình Dương chủ đau đầu, tay chân tê bại. Đà La chủ nhiều tai họa từ nhỏ, có vết thương ở đầu, ở miệng, ở mặt thì mới sống thọ được.

Hỏa Tinh đi cặp với Kình Dương thì lại là người khỏe mạnh phi thường.

Phú nôm của tiền nhân ta về cung Tật Ách

Tuần, Triệt đóng tại cung Ách thì tai nào cũng qua khỏi, nạn nào cũng vượt được. Thiên Hình, Kình Dương, Hoa Cái mà gặp Đà La thì năm hạn ấy phải phòng bệnh đậu mùa. Hỏa Tinh, Linh Tinh, Long Trì, Thiên Mã chiếu tới thì phải phòng lửa cháy, nước sôi làm hại thân. Bệnh đau mắt rất nặng thường bởi cung Tật Ách gặp Địa Kiếp, Thiên Cơ. Cung Ách gặp Bạch Hổ thì huyết khí hư hao; cung Ách gặp Thiên Khốc, Cự Môn, Thiên Hư thì bệnh về đờm, phong. Kình Dương, Đà La, Thiên Hình hội nhau thì mắt mờ đục; Thái Dương ám, Thiên Riêu, Hóa Kỵ thì mắt lòa. Cung Ách có Hóa Kỵ đứng riêng thì thường có chứng bệnh âm ỉ, hiếm con. Cung Giải Thần mà gặp Thiên Khôi, Thiên Hình thì số người ấy dễ mắc vòng lao lý, đau thương. Thiên Hình, Kình Dương ở cung Ngọ mà gặp Thất Sát thì phải ngồi tù mà chờ đợi. Cự Môn, Hóa Kỵ thì nên tránh đi đò, đi sông; Phục Binh, Thiên Hình, Thiên Việt thì dễ mắc vòng đao gươm. Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình, Thiên Việt hội nhau thì chẳng khác nào có ngày bị sét đánh, búa chém. Lộc Tồn mà mang bệnh âm ỉ, kéo dài thì Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc cũng nên đề phòng tai ương.

Phú nôm của tiền nhân ta tuy ít ỏi nhưng lời đoán nghe rất chắc chắn.

Cung Huynh Đệ

Về hai cung Huynh Đệ và Tử Tức, chính Tử Vi đẩu số toàn thư đưa ra những lời lẽ khá tầm thường, quanh đi quẩn lại chỉ là sao này gặp sao kia thì anh em có hai, ba hay bốn người, con cái có hai, ba hay bốn đứa. Xét cả về lý luận lẫn kinh nghiệm thực tế, những lời đoán kiểu này đều khó mà đúng được.

Riêng hai cung Huynh Đệ và Tử Tức thì phú đoán nôm của tiền nhân ta lại có nhiều điểm hay hơn Tử Vi đẩu số toàn thư rất nhiều. Vì vậy, thay cho những lời gượng ép của Tử Vi đẩu số toàn thư, xin chép lại đây những lời phú nôm về cung Huynh Đệ.

Phú nôm của tiền nhân ta về cung Huynh Đệ

Cung Huynh Đệ có Tuần, Triệt làm chủ thì như chim đầu đàn vỗ cánh bay cao, tách đàn mà đi riêng. Địa Kiếp, Địa Không — hai gã này cần phải đề phòng — lâm vào cung Huynh Đệ thì chỉ có một mình, đơn côi. Phá Quân gặp Thiên Hình, Hóa Kỵ ở cung Huynh Đệ thì anh em bất thuận, nhiều đường tranh chấp. Tướng Quân, Lộc Tồn, Thiên Mã đồng cung thì trong anh em có kẻ quý hiển chốn triều đình. Tử Vi, Tang Môn, Tả Phụ, Hữu Bật cùng ngôi thì chị em gái có duyên phận chẳng lành. Tang Môn gặp Thiên Mã thì mỗi người mỗi xứ, gia đình quạnh hiu, ly tán.

Đào Hoa, sao Thai, Thiên Hỷ trong cung mà Phá Quân, Tướng Quân, Phục Binh chiếm cung xung chiếu ở ngoài, thì trong chị em gái có người say mê theo trai đến nỗi mang thai ngoài ý muốn mà bỏ mình. Trong cung có Thiên Tướng, Thiên Phủ, Phục Binh; ngoài cung có Hoa Cái liên kết cùng Đào Hoa, Hồng Loan, đối chiếu tình tứ với bản cung, thì trong anh em có kẻ tư thông với người khác. Gặp Hóa Kỵ thì anh em bất hòa; Thiên Hình xung khắc thì trong nhà ghét nhau. Tử Vi, Tả Phụ, Hữu Bật lâm vào cung này thì có chị em gái say mê phấn son, ăn diện. Cung Huynh Đệ có Tử Vi, Thiên Phủ đóng tại Thìn thì trong họ hàng có người tìm cách cải giá, đổi chồng.

Cung Tử Tức

Cũng như cung Huynh Đệ, tiền nhân ta để lại một bài phú nôm dài về cung Tử Tức, được sách chọn dùng thay cho lời giảng khá tầm thường của Tử Vi đẩu số toàn thư.

Phú nôm của tiền nhân ta về cung Tử Tức

Cung Tử Tức gặp Địa Kiếp, Địa Không thì nuôi con chẳng yên, phải mất tới ba bốn lần. Thiên Khốc, Thiên Hư cùng gặp Kình Dương thì sinh nhiều mà nuôi được ít, gian truân khó nói hết. Hiếm muộn thường bởi Thiên Hình, Đại Hao; nếu có quý tinh trước cửa thì vẫn có hy vọng đông con. Thiên Hình, sát tinh, Bạch Hổ ở cung Tử thì đến già chẳng được tay bồng tay mang. Sinh con ngơ ngẩn thường bởi cung Tử bị sát tinh, Đà La, Địa Kiếp, Địa Không xung chiếu. Cung Tử gặp cả Địa Không lẫn Địa Kiếp thì dễ băng huyết lúc mang thai. Sao Quy Thần hội tại cung Thân, Dậu thì phải tới cửa Phật cầu tự mới sinh được con. Tràng Sinh, Đế Vượng đông con cháu; giáp cung có Thái Dương, Thái Âm thì có lần sinh đôi. Đế Vượng gặp sao Thai, Thiên Khôi cùng Thiên Tướng thì có anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha.

Sinh con hiếm hoi rõ ràng là bởi Đà La, Hóa Kỵ đóng ngay tại cung Tử. Bạch Hổ, Tham Lang, Địa Không, Địa Kiếp, Tang Môn giao hội thì nuôi con cũng chẳng yên, phải đến ba bốn lần. Sinh con hiển vinh nhờ Hóa Quyền, Hóa Lộc; sinh con đỗ đầu khoa bảng nhờ Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc. Sinh con sang giàu nhờ Long Trì, Phượng Các; Văn Khúc, Văn Xương giáp cung thì con cái được phong tước hầu. Hỷ Thần hội cùng Phúc Đức thì con cái dương danh, quý hiển, giàu sang.

Cung Tử có sao Thai, Thiên Tướng, Phục Binh thì e rằng vợ chồng có mối tư tình riêng. Cô Thần, Quả Tú hai sao thì gian truân, vất vả về đường con cái. Sao Thai cùng Tả Phụ, Hữu Bật hội tại cung này thì sinh con với người thiếp, người vợ lẽ. Vũ Khúc, Văn Xương hoặc Văn Khúc cùng ngồi thì con sinh ra xinh đẹp hơn người, không ngoa. Thiên Khốc, Thiên Hư gặp Kình Dương thì Thiên Tướng, Phục Binh xung phá dễ khiến mang thai ngoài ý muốn. Cung Tử có Văn Khúc, Văn Xương mà xấu thì con cái lại thuộc phường ăn chơi, không nên người. Kình Dương gặp Thiên Hư thì sinh mà khó nuôi, lo lắng suốt đời. Đẩu Quân ở cung Tử thì hiếm con, gặp cát tinh giao hội mới còn chút hy vọng. Kình Dương, Đà La gặp sao Tuyệt xung chiếu tại Mão, Dậu, Tị, Ngọ thì công sức sinh nuôi con cái coi như uổng phí. Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương hội vào thì có sinh con cũng dễ liệt vào hạng tật nguyền. Thất Sát ở hãm địa gặp Thiên Hình thì sinh con thuộc giống lưu manh, hoang đàng. Phá Quân thì ba lần sinh con đều bất tài; Lộc Tồn thêm sát tinh thì vô cùng hiếm muộn.


Nguồn: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư – Vũ Tài Lục

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn