Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Bài toán 512.640: đếm bảng số từ hoa giáp, giờ sinh và Âm Dương

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề27/09/20267 phút đọc5 lượt đọc
Bài toán 512.640: đếm bảng số từ hoa giáp, giờ sinh và Âm Dương

Sáu mươi năm một hoa giáp, mười hai giờ một ngày, hai loại tuổi Âm Dương — chỉ chừng ấy dữ kiện mà Hi Di đã khoanh vùng được toàn bộ vận mệnh nhân loại vào một con số cụ thể. Phép nhân tưởng đơn giản ấy, khi lần theo từng bước, lại hé ra vì sao một bảng số không bao giờ có thể là của riêng một người…


Con số 512.640 không phải từ trên trời rơi xuống — nó là kết quả của một phép đếm tỉ mỉ mà chính Hi Di, nếu còn sống, có lẽ cũng phải ngồi tính lại nhiều lần mới ra.

Năm dữ kiện dựng nên một bảng số Lý số học

Muốn biết một bảng số Lý số học có thể xuất hiện tối đa bao nhiêu dạng, việc tính toán đi theo ba chặng: trước hết kê ra các dữ kiện, tức những yếu tố chi phối phép đếm cùng lời giải thích cho từng yếu tố; kế đó đặt nguyên tắc tính; sau cùng mới bày kỹ thuật thực hiện.

Phép đếm này dựa trên năm yếu tố: Âm Dương, giờ sinh, tháng sinh, năm sinh và ngày sinh trong tháng. Mỗi yếu tố như một chiếc bánh xe nhỏ trong cùng một cỗ máy, và tổng số bảng số chỉ hiện ra khi ta biết mỗi bánh xe ấy quay được bao nhiêu nấc.

Về Âm Dương, tuổi chia làm hai loại là tuổi Dương (Dương Nam, Dương Nữ) và tuổi Âm (Âm Nam, Âm Nữ), ứng với hai chiều an sao, một thuận một nghịch. Về giờ sinh, một ngày âm lịch có mười hai giờ. Về tháng sinh, năm thường có mười hai tháng, năm nhuận thì có mười ba; song tháng nhuận không tính riêng, bởi bảng số Lý số học chỉ an theo tháng, dù tháng thường hay tháng nhuận, nên cứ coi mỗi năm là mười hai tháng.

Ngày sinh trong tháng mới thật lắm điều rắc rối. Tháng thiếu có hai mươi chín ngày, tháng đủ có ba mươi ngày, mà các tháng đủ thiếu nối nhau trong năm chẳng theo trật tự nào: không hẳn tháng đủ luôn kế sau tháng thiếu, có khi hai ba tháng thiếu liền nhau, rồi cũng không nhất thiết sẽ có hai ba tháng đủ đi liền theo sau. Tỷ lệ đủ thiếu cũng khác nhau giữa các năm: có năm bảy tháng đủ năm tháng thiếu, có năm sáu đủ sáu thiếu đều nhau. Do những nét riêng ấy, việc tính ngày trong năm buộc phải đếm trực tiếp: năm có tỷ lệ bảy trên năm thì được ba trăm năm mươi lăm ngày để lấy số, còn năm sáu trên sáu thì được ba trăm năm mươi tư ngày.

Năm sinh là yếu tố phức tạp nhất. Năm sinh gồm can và chi. Mười can, mười hai chi ghép với nhau theo một quy tắc đặc biệt: không phải can nào cũng đi được với chi nào. Phép ghép ấy chỉ cho ra sáu mươi cặp là hết, chứ không phải mười nhân mười hai thành một trăm hai mươi cặp. Vòng sáu mươi năm này gọi là hoa giáp. Điểm bắt đầu của một hoa giáp có thể chọn ở năm nào cũng được; chẳng hạn lấy Bính Thìn (1796) làm năm đầu cho hoa giáp Bính Thìn – Ất Mão (1796-1855), qua năm Ất Mão lại trở về Bính Thìn (1856). Trong hoa giáp nào cũng vậy, tên các năm và thứ tự ghép can chi không hề đổi. Tóm lại, từ những đặc điểm trên, mỗi hoa giáp chỉ có đúng sáu mươi loại tuổi để lập số Lý số học cho con người, không hơn không kém.

Nguyên tắc tính: năm hệ số nhân với nhau, hoặc gộp lại còn ba

Có đủ năm dữ kiện rồi, việc còn lại chỉ là chọn một phép nhân sao cho vừa đúng, vừa gọn.

Tổng số có hai cách tính: dùng năm hệ số hoặc dùng ba hệ số. Theo cách năm hệ số, tổng số bảng số sao cung trong một hoa giáp bằng tích của năm con số: hệ số Âm Dương (2), hệ số giờ trong ngày (12), hệ số ngày trung bình trong tháng, hệ số tháng trong năm (12) và hệ số năm trong hoa giáp (60). Cách ba hệ số giản dị hơn: tổng số bảng số Lý số học trong giáp bằng tích của hệ số Âm Dương (2), hệ số giờ trong ngày (12) và số ngày trong hoa giáp, gọi tắt là z. Ở cách này, tháng và năm không còn được kể riêng, vì số ngày trong giáp đã được tính từ số tháng mỗi năm và số năm mỗi giáp. Thành ra bài toán quy về việc đi tìm z, tức số ngày của một hoa giáp nhất định. Hai cách tính rốt cuộc dẫn đến cùng một kết quả; cách sau chỉ là lối đi tắt, bỏ bớt những bước mà số ngày đã ngầm chứa sẵn.

Tính thử cho một hoa giáp cụ thể: Canh Tý – Kỷ Hợi (1840-1899)

Để tìm z, hãy lấy làm mẫu hoa giáp Canh Tý – Kỷ Hợi (1840-1899). Giáp này dài sáu mươi năm và gồm hai loại năm: loại thứ nhất có ba mươi ba năm, mỗi năm bảy tháng đủ, năm tháng thiếu; loại thứ hai có hai mươi bảy năm, mỗi năm sáu tháng đủ, sáu tháng thiếu.

Loại thứ nhất (bảy đủ, năm thiếu) cho ba trăm năm mươi lăm ngày mỗi năm; nhân với ba mươi ba năm được mười một nghìn bảy trăm mười lăm ngày. Loại thứ hai (sáu đủ, sáu thiếu) cho ba trăm năm mươi tư ngày mỗi năm; nhân với hai mươi bảy năm được chín nghìn năm trăm năm mươi tám ngày. Cộng lại, cả giáp sáu mươi năm có 11.715 + 9.558 = 21.273 ngày để lấy số. Đó là trị số chính xác của z riêng cho hoa giáp này.

Từ đó Y = 2 × 12 × 21.273 = 510.552 bảng số Lý số học. Nghĩa là hoa giáp Canh Tý – Kỷ Hợi chứa tất cả 510.552 bảng số. Hiểu theo nghĩa đời thường, mọi người trên thế giới sinh ra từ giờ Tý ngày mồng một tháng Giêng năm Canh Tý (1840) cho đến giờ Hợi ngày ba mươi tháng Chạp năm Kỷ Hợi (1899) chỉ chia nhau có 510.552 kiểu vận mệnh mà thôi. Một con số hữu hạn và khá nhỏ như vậy đủ cho thấy rằng, trong cách nhìn của Lý số học, những đời người tưởng như muôn hình vạn trạng thực ra phải xếp vào một số khuôn nhất định.

Khái quát cho mọi hoa giáp: vì sao mức tối đa là 512.640

Nhưng 510.552 chỉ là con số của riêng một giáp — muốn biết giới hạn tuyệt đối của cả khoa Lý số học, phải đi thêm một bước nữa.

Kết quả 510.552 chỉ đúng riêng cho hoa giáp 1840-1899. Không thể mở rộng nó ra mọi hoa giáp, giản dị vì số ngày z của giáp này chưa chắc đã là nhiều nhất so với các giáp khác. Muốn khái quát, phải xác định số ngày tối đa của một hoa giáp, tức là giả định một hoa giáp tưởng tượng có số ngày cao nhất; nhưng đừng giả định cao quá xa mà phải sát thực tế đến mức có thể.

Trong các năm đã được ghi nhận, năm nhiều ngày nhất là 1944, năm Giáp Thân, với tám tháng đủ và bốn tháng thiếu, vị chi ba trăm năm mươi sáu ngày để lấy số. Giả sử một hoa giáp tưởng tượng gồm toàn những năm ba trăm năm mươi sáu ngày như thế, thì hoa giáp ấy có 356 ngày × 60 năm = 21.360 ngày. Khi đó Y = 21.360 × 2 × 12 = 512.640 bảng số sao cung. Đây là tổng số bảng số Lý số học tối đa có thể chấp nhận. Chọn năm dài ngày nhất làm chuẩn cho cả sáu mươi năm là cách đặt một trần cao hơn thực tế đôi chút, nhưng vẫn không xa thực tế, nên con số thu được đủ làm giới hạn trên đáng tin cậy cho mọi hoa giáp.

So con số 512.640 với hơn sáu tỷ dân trên thế giới sẽ thấy vì sao khoa Lý số học chỉ là một chuyên khoa đặc thù chứ không thể bao trùm tất cả: dù có kể thêm Bản Mệnh hay bất kỳ chi tiết nào khác, bảng số cũng chỉ chia nhân loại vào chừng ấy khuôn vận mạng, không hơn không kém.

Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn, NXB Lao Động)

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề