Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Phép An Sao Trung Châu: Chuẩn Giờ Sinh, Can Chi Và Lục Thập Giáp Tí

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái17/09/202616 phút đọc4 lượt đọc
Phép An Sao Trung Châu: Chuẩn Giờ Sinh, Can Chi Và Lục Thập Giáp Tí

Thuộc lòng phép an sao là nền móng của việc nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số. Phái Trung Châu của Vương Đình Chi có trình tự an sao riêng, không phân cấp sao như Trương Khai Quyển, nhưng sắp theo thứ tự giúp nhận thức tinh bàn nhanh hơn. Muốn an sao đúng phải định ngày giờ sinh chính xác: Vương Đình Chi lấy giờ Lạc Dương làm chuẩn, kèm cách chuyển đổi năm, tháng, ngày, giờ sinh theo Tây lịch và ba thuyết tính tháng nhuận. Nền tảng kế đó là quan hệ giữa mười thiên can và mười hai địa chi, với ngũ hành của từng chi, địa chi lục hợp, lục xung và tam hội cục. Can chi phối nhau thành sáu mươi cặp Lục Thập Giáp Tí, mỗi cặp mang một tên nạp âm riêng, từ Hải Trung Kim tới Đại Hải Thủy.


Tầm Quan Trọng Của Phương Pháp An Sao

Học Tử Vi Đẩu Số cần phải biết rõ phương pháp an sao, khi luận đoán tinh bàn mới cảm thấy dễ dàng, không cần phải để tinh thần phân tán trong việc tra cách an sao. Ví dụ như "Thiên Lương, Kình Dương, Thiên Hình" là một tinh hệ trọng yếu, thường thường dự báo mắc bệnh phải phẫu thuật, hoặc liên quan tới pháp luật, kiện tụng; nếu không thuộc "phương pháp an sao", khi luận đoán về lưu niên hoặc lưu nguyệt, sau khi thấy Thiên Lương, sẽ tìm khắp tinh bàn xem có Thiên Hình hoặc Kình Dương, và lưu vận Kình Dương, lưu niên Kình Dương, cho tới lưu nguyệt Kình Dương, như vậy thường sẽ khiến tinh thần phân tán, ảnh hưởng đến cách luận đoán.

Do đó thuộc lòng phép an sao là cơ sở của việc nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, đồng thời cũng là sự hiểu biết cần phải có để nhận thức các tổ hợp tinh hệ, vì vậy người xưa khi trước tác sách Đẩu Số, đều rất chú ý việc truyền thụ "phương pháp an sao".

Danh gia Bắc phái Đẩu Số Trương Khai Quyển khi biên soạn Tử Vi Đẩu Số mệnh lí nghiên cứu, đã dùng gần nửa thiên để bàn về phép an sao; danh gia Lục Bân Triệu biên soạn Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa, toàn bộ quyển thượng cũng thảo luận về "phương pháp an sao", quyển hạ mới luận tới tính chất của 12 cung, do đó có thể thấy sự trọng yếu của việc truyền thụ phép an sao.

Trương Khai Quyển là người đầu tiên lập ra bảng tra phép an sao bằng cách liệt kê các sao thành các hệ như niên can, niên chi, tháng, ngày, giờ; đương nhiên với mục đích giúp người học tiện lợi trong việc tra cứu. Nhưng cũng vì vậy đã gây ra tác dụng phụ, điều này không nằm trong dự liệu của Trương Khai Quyển.

Quan điểm của phái Trung Châu là không nên lệ thuộc vào bảng tra phép an sao, vì ngoại trừ khuyết điểm không cách nào thuộc lòng các tổ hợp tinh hệ, còn bị một tệ hại khác, đó là dễ bị sự phân loại "Giáp cấp tinh" (sao cấp 1), "Ất cấp tinh" (sao cấp 2)... cho đến "Mậu cấp tinh" (sao cấp 5), tạo ấn tượng, gây ảnh hưởng đến cách luận đoán. Bởi vì có lúc cả một tinh hệ, thường sẽ vì hội hợp một sao thuộc "Mậu cấp tinh" mà thay đổi tính chất của toàn bộ tinh hệ, trong khi người học dễ bị cấp số quá thấp của sao mà dẫn đến ngộ nhận, như không xem trọng "Mậu cấp tinh". Lục Bân Triệu truyền thụ phép "an sao", không phân cấp số, là thuộc truyền thống phái Trung Châu, đương nhiên khác với Trương Khai Quyển.

"Phương pháp an sao" của phái Trung Châu Vương Đình Chi có sự khác biệt so với các phái, cũng hơi khác với "phương pháp an sao" của Lục Bân Triệu giới thiệu trong Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa. Vì vậy người học cần chú ý. Nhất là về phương diện "niên can Tứ Hóa", ba can Mậu, Canh, Nhâm của "Tứ Hóa" đều khác với các phái, ngoài ra, "Giải Thần" chia thành "Niên Giải" và "Nguyệt Giải", v.v... đều thuộc phái Trung Châu Vương Đình Chi, bạn đọc cần chú ý so sánh.

Như đã thuật ở trước, phái Trung Châu Vương Đình Chi không phân chia thành các cấp sao, lúc an sao cũng không theo thứ tự hệ năm, hệ tháng... Thoạt nhìn có vẻ lộn xộn, nhưng khi an sao theo một thứ tự nhất định sẽ có ưu điểm là vừa an sao vừa quan sát theo thứ tự, trình bày tinh bàn vừa xong là đã có một ấn tượng đại khái. Ví dụ như sau khi an 14 chính diệu trong "Hệ sao Tử Vi" và "Hệ sao Thiên Phủ", lập tức an 6 sao "Tả Phụ Hữu Bật, Văn Xương Văn Khúc, Không Kiếp", sau đó lập tức an "tứ hóa diệu", khung cấu tạo cả tinh bàn đã thành hình. An sao một loạt sau đó chỉ là biểu thị sự mạnh thêm hoặc yếu đi của tính chất cơ bản. Như sau khi an Thiên Khôi, Thiên Việt, liền an Lộc Tồn và tứ sát (tức Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương và Đà La), sau đó an Thiên Quan, Thiên Phúc, là có thể có ấn tượng đại khái về "quan" và "lộc" của người đó. Cho nên, thuộc lòng thứ tự an sao của phái Trung Châu Vương Đình Chi sẽ trợ giúp khá nhiều trong việc nhận thức tinh bàn.

Định Ngày Giờ Sinh Chính Xác

Muốn luận đoán Tử Vi Đẩu Số, trước tiên phải biết chính xác năm sinh, tháng sinh, ngày sinh, giờ sinh; sau đó mới có thể trình bày đúng mệnh bàn. Theo Vương Đình Chi, do nguyên nhân lịch sử, Tử Vi Đẩu Số lấy thời gian của khu vực Trung Châu Lạc Dương cổ đại làm chuẩn. Thời gian Lạc Dương chính xác là nói theo múi giờ kinh tuyến, không phải các nước tự định ra tiêu chuẩn thời gian, do đó thời gian Lạc Dương và thời gian Thượng Hải, theo tiêu chuẩn thời gian hiện hành thì không có phân biệt, nhưng khi luận đoán Tử Vi Đẩu Số, thì chênh lệch 35 phút. Thông thường, bởi vì lịch pháp Trung Quốc chia một ngày thành 12 thời thần (giờ thời xưa), một thời thần tương đương 2 giờ theo lịch pháp hiện hành, ngoại trừ một số ít trường hợp đặc biệt, phần lớn khu vực Hoa Đông, Hoa Trung người ta đều có thể dùng tiêu chuẩn thời thần (giờ thời xưa) để tính. Nhưng có rất nhiều tình huống, bạn đọc luận đoán mệnh bàn không đúng, là tại vì thời gian sinh ra vào đầu giờ hoặc cuối giờ, so với giờ Lạc Dương có lúc bị chênh lệch, vì vậy dẫn đến bị sai lầm. Quan điểm lấy giờ của khu vực Trung Châu Lạc Dương làm chuẩn của Vương Đình Chi bị nhiều nhà nghiên cứu Đẩu Số phản bác, đa số đều chủ trương sinh ở đâu thì tính theo giờ ở đó.

Phái Trung Châu có một phương pháp dùng để nhận ra tướng mạo và hình dạng con người trong mệnh bàn, để xác định mệnh bàn có chính xác hay không. Phương pháp này sẽ tường thuật ở sau.

Căn cứ theo lịch pháp hiện đại, nếu đã biết ngày giờ sinh theo Tây lịch, có thể dùng phương pháp dưới đây để chuyển đổi.

1.6.1. Chuyển đổi năm sinh

Muốn luận đoán Đẩu Số, cần phải biết can chi của năm sinh, bạn đọc có thể dùng lịch vạn niên để tra tìm; sau khi biết can chi của năm sinh, như năm sinh là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là thuộc dương, nam mệnh là dương nam, nữ mệnh là dương nữ; năm sinh Ất, Đinh, Kỉ, Tân, Quý là thuộc âm, nam mệnh là âm nam, nữ mệnh là âm nữ.

1.6.2. Chuyển đổi ngày tháng sinh

Bạn đọc có thể dùng lịch vạn niên để tra tìm, nhưng cần chú ý, trên thị trường có một số sách lịch vạn niên không phân biệt cách tính múi giờ trong Âm lịch của Việt Nam và Âm lịch của Trung Quốc, nên thiếu chính xác nếu dùng cho người Việt Nam, nên chọn loại sách có sự phân biệt này.

1.6.3. Chuyển đổi giờ sinh

Muốn trình bày mệnh bàn Đẩu Số, điều tối trọng yếu là định thời gian sinh ra, Vương Đình Chi lấy giờ của khu vực Lạc Dương làm tiêu chuẩn tuyệt đối; khác với quan điểm của Lục Bân Triệu và Lục Tại Điền.

Liên quan đến việc phân chia khoảng thời gian trong "giờ Tí", cũng có nhiều tranh luận. Có thuyết lấy từ 11 giờ tối đến 1 giờ sáng, đều quy thuộc về giờ Tí của ngày đó; tức lúc giao vào 11 giờ là bắt đầu ngày mới. Theo Vương Đình Chi, lúc giao vào 12 giờ đêm (tức 0 giờ), mới là bắt đầu ngày mới, đến 12 giờ đêm (tức 24 giờ) là kết thúc một ngày.

1.6.4. Phương pháp tính tháng nhuận

Trung Quốc tính toán lịch pháp là phối hợp lịch mặt trăng (lấy chu kì của mặt trăng làm tiêu chuẩn) và lịch mặt trời (lấy chu kì của mặt trời làm tiêu chuẩn). Sự vận chuyển của mặt trời và mặt trăng khi chuyển đổi thành giờ sẽ có sự chênh lệch cố định. Tính theo chu kì của mặt trăng thì một năm là 10 tháng 21 giờ 12 phút, vì có sự chênh lệch này nên phải đặt ra tháng nhuận để bù vào, cứ mỗi ba năm là nhuận một lần, và cứ 19 năm thì tính 7 tháng nhuận. Hạ lịch của Trung Quốc chia một năm thành 12 tháng, mỗi tháng có một tiết và một khí. Tháng nhuận tức là tháng không có trung khí. Khoa Tử Bình tính toán bát tự, là lấy ngày sinh không qua tiết để định tháng trước hoặc tháng sau, cho nên không xảy ra vấn đề tháng nhuận. Ví dụ như người nào đó sinh vào ngày Mùi trong tháng giêng, năm Đinh, nhưng vì ngày Mùi chưa qua tiết Lập Xuân, cho nên tính thuộc về tháng 12 (tháng Hợi), năm Bính; nhưng Tử Vi Đẩu Số lại lấy Âm lịch làm cơ sở, và lại việc bày bố các sao đã bao gồm nhân tố này bên trong, cho nên lấy Hạ lịch để trực tiếp tính toán thì tiện hơn. Ví dụ như sinh vào tháng giêng, thì lấy ngay tháng giêng để tính toán, bất kể đã giao tiết hay không. Vì vậy mỗi khi gặp tháng nhuận thì xảy ra vấn đề phải tính toán xem thuộc tháng nào.

Liên quan đến phương pháp tính toán tháng nhuận, hiện nay có ba thuyết: một là, thuyết của Lục Bân Triệu chủ trương trong Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa, lấy tháng nhuận tính thành tháng sau, như tháng ba nhuận thì tính thành tháng tư. Một thuyết khác là, lấy tháng nhuận chia thành hai phần, nửa phần đầu tính thuộc về tháng trước, nửa phần cuối tính thuộc về tháng sau. Như nhuận tháng ba, từ ngày 1 đến ngày 15 tính thuộc về tháng ba; từ ngày 16 đến ngày 29 (hoặc ngày 30) tính thuộc về tháng 4. Thuyết thứ ba là, căn cứ vào tiết khí để tính thuộc vào tháng nào (như cách tính của Tử Bình).

Thuyết thứ hai là thuyết được nhiều người chấp nhận, phái Trung Châu Vương Đình Chi theo thuyết thứ hai. Nhưng Vương Đình Chi còn chủ trương, hễ ngày sinh vào tháng nhuận, thì nên lập hai mệnh bàn để kiểm tra một số sự kiện thực tế xem mệnh bàn nào ứng nghiệm.

Tương Quan Giữa 10 Thiên Can Và 12 Địa Chi

Tiết này trình bày một số nội dung cơ sở của Tử Vi Đẩu Số, liên quan tới ngũ hành can chi, hội cục, hợp cục, phải học thuộc lòng. Nếu không sẽ không cách nào thuộc phép "an sao", thậm chí khi nghiên cứu phép luận đoán cũng sẽ gặp phiền phức.

Thiên can và địa chi là phù hiệu cơ bản của thuật số, hai hệ thống này không tương đồng, nhưng nhất định có tương quan. Mỗi hệ thống lại có âm dương riêng của chúng.

Thông thường can chi đi cặp với nhau, cũng chính là nói, thông thường một thiên can có một địa chi đi kèm. Thiên can có 10 đơn vị, còn địa chi thì có 12 đơn vị; do đó một vòng tuần hoàn của can chi là 60 đơn vị (10 x 12 = 60), Lục thập Giáp Tí trong thuật số Trung Quốc sản sinh từ đây.

Mười thiên can

Mười thiên can theo thứ tự như sau: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thuộc dương. Người có năm sinh thuộc nhóm can này gọi là "dương mệnh". Cho nên nam mệnh thì gọi là dương nam, nữ mệnh thì gọi là "dương nữ", như sinh vào những năm Giáp Tí, năm Canh Thìn, v.v...

Ất, Đinh, Kỉ, Tân, Quý thuộc âm. Người có năm sinh thuộc nhóm can này gọi là "âm mệnh". Nam mệnh thì gọi là "âm nam", nữ mệnh thì gọi là "âm nữ", như sinh vào những năm Đinh Tị, năm Ất Mùi, v.v...

Giáp, ẤtBính, ĐinhMậu, KỉCanh, TânNhâm, Quý
Ngũ hànhMộcHỏaThổKimThủy

Mười hai địa chi

Địa chi có 12 đơn vị, chia ra thuộc ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Chỉ có thổ là chiếm 4 đơn vị: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; gọi là "Tứ Mộ Khố", trong đó Thìn gọi là "Thiên La", Tuất gọi là Địa Võng. Địa chi còn lấy 12 con giáp làm đại biểu, xin xem bảng liệt kê dưới đây:

Địa chiNgũ hành
TíThủy
SửuThổ
DầnMộc
MãoMộc
ThìnThổ
TịHỏa
NgọHỏa
MùiThổ
ThânKim
DậuKim
TuấtThổ
HợiThủy

Địa chi lục hợp

Mười hai địa chi chia thành sáu tổ, mỗi tổ có hai địa chi mang ngũ hành khác nhau, hợp lại thành một, hóa khí biến thành một ngũ hành khác, chỉ có "Ngọ" và "Mùi" sau khi hóa hợp thì không thuộc ngũ hành nào, mà lấy "Ngọ" làm Thái Dương, "Mùi" làm Thái Âm. Các tổ hợp này gọi là "địa chi lục hợp".

Địa chiTí SửuDần HợiMão TuấtThìn DậuTị ThânNgọMùi
Hóa hợpThổMộcHỏaKimThủyThái DươngThái Âm

Địa chi lục xung

Mười hai địa chi có "lục hợp", còn có "lục xung", "lục xung" trong Tử Vi Đẩu Số khác với "lục xung" trong "Tử Bình". Trong thuật Tử Bình, hễ đối cung ắt phải tương xung; như Tí Ngọ, Sửu Mùi, v.v... Lục xung trong Tử Bình có ý nghĩa phá hoại và xung khai, nhưng Tử Vi Đẩu Số "lục xung" có ý nghĩa hơi khác.

Đẩu Số muốn luận đoán tình hình cát hung của mệnh bàn, phải tra xét tam phương tứ chính. "Tam phương" chính là địa chi tam hội cục (sẽ giải thích ở sau). Còn "tứ chính" là cộng thêm cung đối nhau với bản cung. Đây chính là "lục xung". Trong Đẩu Số bất kể là cát tinh hay hung tinh, khi luận đoán lưu niên hay đại vận, không xung thì bất động, tức cát tinh không thành cát, hung tinh cũng không thành hung. Vì vậy lục xung không quan hệ đến vấn đề cát hung, mà chỉ mang ý nghĩa "kích hoạt", còn ý nghĩa cát hung là do tính chất của sao quyết định.

Địa chi tam hội cục

Mười hai địa chi hội hợp ở cách nhau 3 cung vị, tổ hợp thành một cục, cả mệnh bàn tổng cộng có 4 cục, mỗi cục cũng là "tam phương" trong "tam phương tứ chính". "Tam phương" tổ hợp thành một cục, cũng tức là tổ hợp "Sinh Vượng Mộ", ví dụ như thủy cục: Thân là Trường Sinh, Tí là Đế Vượng, Thìn là Mộ Khố.

Thân, Tí, Thìn hợp thủy cục.
Dần, Ngọ, Tuất hợp hỏa cục.
Hợi, Mão, Mùi hợp mộc cục.
Tị, Dậu, Sửu hợp kim cục.

Lục Thập Giáp Tí

Mười thiên can lấy Giáp làm đứng đầu, mười hai địa chi lấy Tí làm đứng đầu, một thiên can phối với một địa chi, mà thành 60 cặp can chi, theo thứ tự đi giáp một vòng thành Lục thập Giáp Tí. Như sau:

Giáp Tí, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỉ Tị, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu.

Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tí, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỉ Mão, Canh Thìn, Tân Tị, Nhâm Ngọ, Quý Mùi.

Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tí, Kỉ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tị.

Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỉ Hợi, Canh Tí, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão.

Giáp Thìn, Ất Tị, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỉ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tí, Quý Sửu.

Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tị, Mậu Ngọ, Kỉ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi.

Vì Giáp là đứng đầu thiên can, Tí là đứng đầu địa chi, nên gọi là "Lục thập Hoa Giáp Tí", gọi tắt là "Lục thập Giáp Tí".

Nạp âm ngũ hành

Can chi tổ hợp thành 60 Hoa Giáp, mỗi tổ hợp lại biến thành ngũ hành khác, gọi là "Nạp âm ngũ hành", như sau:

Giáp Tí, Ất Sửu là Hải trung kim; Bính Dần, Đinh Mão là Lô trung hỏa; Mậu Thìn, Kỉ Tị là Đại lâm mộc; Canh Ngọ, Tân Mùi là Lộ bàng thổ; Nhâm Thân, Quý Dậu là Kiếm phong kim.

Giáp Tuất, Ất Hợi là Sơn đầu hỏa; Bính Tí, Đinh Sửu là Giản hạ thủy; Mậu Dần, Kỉ Mão là Thành đầu thổ; Canh Thìn, Tân Tị là Bạch lạp kim; Nhâm Ngọ, Quý Mùi là Dương liễu mộc.

Giáp Thân, Ất Dậu là Tuyền trung thủy; Bính Tuất, Đinh Hợi là Ốc thượng thổ; Mậu Tí, Kỉ Sửu là Phích lịch hỏa; Canh Dần, Tân Mão là Tùng bá mộc; Nhâm Thìn, Quý Tị là Trường lưu thủy.

Giáp Ngọ, Ất Mùi là Sa trung kim; Bính Thân, Đinh Dậu là Sơn hạ hỏa; Mậu Tuất, Kỉ Hợi là Bình địa mộc; Canh Tí, Tân Sửu là Bích thượng thổ; Nhâm Dần, Quý Mão là Kim bạc kim.

Giáp Thìn, Ất Tị là Phúc đăng hỏa; Bính Ngọ, Đinh Mùi là Thiên hà thủy; Mậu Thân, Kỉ Dậu là Đại trạch thổ; Canh Tuất, Tân Hợi là Thoa xuyến kim; Nhâm Tí, Quý Sửu là Tang đố mộc.

Giáp Dần, Ất Mão là Đại khê thủy; Bính Thìn, Đinh Tị là Sa trung thổ; Mậu Ngọ, Kỉ Mùi là Thiên thượng hỏa; Canh Thân, Tân Dậu là Thạch lựu mộc; Nhâm Tuất, Quý Hợi là Đại hải thủy.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái