Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Cách sắp đại vận, tính tuổi khởi vận, mệnh vận một thể

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Cách sắp đại vận, tính tuổi khởi vận, mệnh vận một thể

Mệnh như con thuyền, vận như dòng nước; nước đưa thuyền đi, cũng có thể lật thuyền. Nam sinh năm dương xếp vận thuận, nữ sinh năm dương xếp nghịch, và tuổi bước vào vận đầu tiên lại đếm bằng ngày. Cùng một lá số, đếm lệch một ngày là đời đã khác…


Mệnh và vận như thuyền với nước

Tứ trụ là mệnh, vận trình là vận. Mệnh và vận hợp lại làm thành vận mệnh cả cuộc đời, và chỉ khi hai thứ kết hợp mới biết được cát hung họa phúc. Mệnh và vận như thuyền với nước, gắn chặt với nhau: nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền.

Người xưa có câu: "Mệnh tốt không bằng vận tốt, vận tốt không bằng lưu niên tốt." Qua kiểm nghiệm thực tiễn, có thể kết luận ngược lại: có lúc mệnh tốt hơn vận tốt, vận tốt hơn lưu niên tốt. Lưu niên tốt mà mệnh nghèo đói thì đi đâu được? Lưu niên tốt mà đại vận không tốt thì lưu niên đi đến đâu được? Vì vậy mệnh, vận và lưu niên là một chỉnh thể không tách rời. Không có mệnh tốt thì đại vận chưa ăn thua, lưu niên tốt cũng không giàu nổi. Không có vận tốt thì mệnh tốt cũng chẳng ích gì, lưu niên tốt cũng bị đại vận xấu hạn chế. Không có lưu niên tốt thì dụng thần của Tứ trụ không gặp được điều tốt, đại vận tuy tốt nhưng thời gian ứng nghiệm cũng không xuất hiện.

Sắp xếp đại vận thuận hay nghịch

Đại vận được sắp xếp từ trụ tháng của Tứ trụ. Nam xếp thuận, nữ xếp nghịch, và cách tính số đại vận cũng theo nguyên tắc thuận nghịch ấy. Cái "thuận nghịch" ở đây phụ thuộc vào năm sinh là năm dương hay năm âm.

Các chi dương của năm là tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất. Nam sinh năm dương thì sắp đại vận thuận, lấy trụ tháng làm chuẩn. Ví dụ nam sinh năm bính tý, tháng canh dần: tý là năm dương, nên lấy canh dần làm chuẩn rồi xếp thuận như sau: tân mão, nhâm thìn, quý tị, giáp ngọ, ất mùi, bính thân, đinh dậu, mậu tuất. Thường xếp tám đại vận, không có quy định chặt chẽ mà nói chung theo số tuổi thọ để xếp. Mỗi vận chỉ xu thế và mức độ tốt, xấu hay trung bình trong vòng mười năm. Vận luôn là tổ hợp của can dương với chi dương, hoặc can âm với chi âm.

Nữ sinh năm dương thì xếp nghịch. Ví dụ nữ sinh năm bính tý, tháng canh dần: tý là năm dương nên phải đếm ngược, lấy canh dần làm chuẩn xếp ngược như sau: kỷ sửu, mậu tý, đinh hợi, bính tuất, ất dậu, giáp thân, quý mùi, nhâm ngọ.

Các năm sửu, mão, tị, mùi, dậu, hợi là năm âm. Nữ sinh năm âm thì xếp thuận. Ví dụ nữ sinh năm đinh sửu, tháng nhâm dần: lấy nhâm dần làm chuẩn xếp thuận như sau: quý mão, giáp thìn, ất tị, bính ngọ, đinh mùi, mậu thân, kỷ dậu, canh tuất. Còn nam gặp năm âm là nghịch: nam sinh năm đinh sửu, tháng nhâm dần, lấy nhâm dần làm chuẩn xếp ngược như sau: tân sửu, canh tý, kỷ hợi, mậu tuất, đinh dậu, bính thân, ất mùi, giáp ngọ.

Cách tính tuổi bắt đầu vào đại vận

Có thể từ một tuổi đã bước vào đại vận; có cách lấy từ một đến mười một tuổi. Chẳng hạn vận thứ nhất là vận từ hai tuổi, vận thứ hai từ mười hai tuổi, cứ vậy đến vận thứ tám là từ bảy mươi hai tuổi. Dù xếp thuận hay nghịch, số của đại vận đều tăng dần theo từng bước năm tháng tự nhiên, mỗi vận mười năm.

Phương pháp lấy số đại vận là cứ ba ngày gộp thành một tuổi, tức một ngày tương đương bốn tháng, hai ngày tương đương tám tháng. Ví dụ tổng số ngày cần tính là mười tám ngày, chia cho ba được sáu, tức sáu tuổi bắt đầu vào đại vận. Khi tổng số không chia hết cho ba thì mỗi ngày thừa tính thêm bốn tháng: mười chín ngày là sáu tuổi bốn tháng, hoặc chỉ tính tròn sáu tuổi; hai mươi ngày là sáu tuổi tám tháng, hoặc tính tròn bảy tuổi.

Tổng số ngày được tính theo lệnh tháng của ngày sinh. Nam sinh năm dương, nữ sinh năm âm tính thuận, tức đếm từ ngày sinh đến lúc hết lệnh tháng. Nữ sinh năm dương, nam sinh năm âm tính ngược, tức đếm lùi về tiết lệnh đầu tháng. Chẳng hạn người sinh tháng dần, lệnh tháng là lập xuân, khi hết lập xuân là giao với tiết kinh trập của tháng mão.

Ví dụ một nam sinh năm 1994, ngày mùng tám tháng giêng âm lịch, là năm dương nên tính thuận. Từ ngày tám đến ngày hai mươi lăm, là ngày hết lệnh lập xuân, giao với kinh trập tháng mão, tất cả có mười tám ngày. Mười tám chia ba được sáu, tức sáu tuổi bắt đầu hành đại vận thứ nhất. Nếu là ngày sinh của nữ, vì nữ sinh năm dương nên đếm ngược từ ngày tám về ngày lập xuân, tức ngày hai mươi bốn tháng chạp âm lịch năm 1993, được mười bốn ngày. Mười bốn chia ba được bốn dư hai, tức bốn tuổi tám tháng bắt đầu hành đại vận. Khi tính có thể làm tròn: chưa đến nửa năm thì bỏ, qua nửa năm thì tăng lên cho tròn. Nữ sinh năm âm thì tính như nam sinh năm dương.

Mười thần làm chủ từng vận

Khi đã lấy số và xếp đại vận, thiên can của mỗi vận phải kết hợp với nhật can của Tứ trụ để xét sinh khắc, rồi nêu ra mười thần để cùng xét chung với lá số. Mười thần của đại vận xuất hiện từ sự sinh khắc giống hệt mười thần lộ ra hoặc tàng trong các chi của Tứ trụ. Mười thần của đại vận là hỉ của dụng thần thì vận ấy tốt; là kị của dụng thần thì vận ấy xấu. Tốt hay xấu đến mức nào thì không nói được chung chung, mà phải căn cứ quan hệ sinh khắc hình xung của các tổ hợp để đoán cho chính xác. Nắm càng vững mức độ sinh khắc hình xung ấy thì sự dự đoán càng chính xác.

Hỉ kị của mười thần đại vận lại liên quan đến vận khí tốt xấu của từng năm, tức lưu niên. Nắm vững hỉ kị của đại vận cũng tức là nắm được mạch chính của mệnh. Chỉ có như thế mới gọi là biết mệnh và vận một cách chân chính, và chỉ khi cảm nhận được chắc chắn sự tồn tại của vận mệnh thì mới nói được chuyện hướng về điều tốt, tránh xa điều xấu.

Lấy một ví dụ nhật can giáp, năm ất hợi, tháng mậu dần, ngày giáp ngọ, giờ mậu thìn. Nếu là nữ sinh năm âm, đại vận lấy trụ tháng mậu dần làm chuẩn xếp thuận, bắt đầu từ một tuổi, mỗi vận mười năm: kỷ mão, canh thìn, tân tị, nhâm ngọ, quý mùi, giáp thân, ất dậu, bính tuất. Đối chiếu với nhật can giáp, mười thần của các vận lần lượt là chính tài, thất sát, chính quan, thiên ấn, chính ấn, tỉ, kiếp, thực thần. Nếu là nam sinh năm âm thì xếp ngược, bắt đầu từ mười tuổi: đinh sửu, bính tý, ất hợi, giáp tuất, quý dậu, nhâm thân, tân mùi, canh ngọ, với mười thần lần lượt là thương quan, thực thần, kiếp tài, tỉ, chính ấn, thiên ấn, chính quan, thất sát. Đến đây các bước căn bản của việc đoán Tứ trụ đã hoàn thành: dựng lá số, ghi mười thần lộ và mười thần tàng, lấy số, xếp đại vận, ghi mười thần của từng vận. Những dự đoán cát hung về sau đều tính trên nền đó.

Tuế vận phải đọc cùng lá số thành một thể

Khi đã xác định nhật can mạnh hay yếu và định được dụng thần, phải tổng hợp với đại vận và lưu niên thành một thể để đoán sự việc. Phần lớn những lời bàn về mệnh lý từ trước tới nay đều né vấn đề làm sao từ đại vận, lưu niên mà đoán ra cát hung họa phúc cả đời. Nơi nào có bàn thì cũng chỉ từ góc độ cách cục có ích hay hao tổn của Tứ trụ, kiểu bàn ấy không những không đáng tiếp thu mà còn làm người mới học rối thêm, trong dự đoán cũng chẳng tìm ra đầu mối phân biệt cát hung. Người cần đoán chỉ mong biết việc là cát hay hung, nên nói hàm hồ, chung chung thì không đạt được mục đích. Vậy điều cơ bản nhất là phải biết bắt đầu từ đâu: mỗi đại vận quản năm năm hay quản mười năm?

Can chi của đại vận không thể xẻ đôi

Mọi cách tính đều giống nhau ở chỗ mỗi đại vận mười năm, lấy lệnh tháng làm chuẩn, nam nữ tính thuận hay ngược, và điều đó phù hợp với nguyên lý âm dương. Nhưng chia mỗi vận thành mười năm liền có thật hợp tình, hợp lý, hợp thực tế không?

Trong các thuyết phân tách can chi của đại vận, có cách chia thiên can quản năm năm đầu, địa chi quản năm năm sau, trong đó bàn thiên can thì địa chi chiếm ba phần, bàn địa chi thì thiên can chiếm ba phần. Lại có cách chia: trọng chi, không trọng can, thiên can quản bốn năm, địa chi quản sáu năm. Còn có cách thiên can quản ba năm, địa chi quản bảy năm. Những cách chia này đều nói khi bàn can phải chú ý chi, khi bàn chi phải chú ý can, tuyệt đối không bàn riêng. Điều ấy chứng tỏ can chi không thể phân khai, nhưng trong thực tế lại bị chia tách bạch. Can không thể rời chi, chi không thể rời can, như cần cân với quả cân không thể rời nhau, như vợ không thể rời chồng.

Hành đại vận bắt đầu từ lệnh tháng; tính thuận thì tính đến nguyệt khí của tháng sau, tính ngược thì tính đến lệnh tháng của tháng trước. Phàm can chi của lệnh tháng đều quản chung sự việc của cả một tháng, không có chuyện can quản nửa tháng, chi quản nửa tháng. Đại vận tất nhiên tham chính chung với Tứ trụ, cho nên không có chuyện can hoặc chi của đại vận quản mấy năm.

Thiên can là lộ, địa chi là ẩn

Thiên can trong mệnh cục Tứ trụ là thiên tượng, là chủ tượng, nên gọi là thiên nguyên. Địa chi là địa tượng, là tượng bổ trợ, nên gọi là địa nguyên. Giữa chúng là quan hệ thiên địa, âm dương, quân thần, phu thê. Đại cục do trời định, hợp tình hợp lý vì dựa trên một đạo lý chung mà ai cũng biết: thấu lộ thì rõ, ẩn tàng thì kín, nên gọi là minh hiển hay ám tàng.

Thiên can thấu ra thì việc thấu lộ rất rõ, trước hết bị khắc hoặc được sinh trợ, sự xung đột lợi hại tự nhiên cũng rõ ràng, dễ thấy. Còn các can tàng trong địa chi thì khó nhìn rõ hơn. Trong thực tế, người tài vượng mà lộ rõ nhất định khẳng khái, đại phóng, nhưng nếu gặp tỉ kiếp thì sẽ bị cướp đoạt trước tiên. Người có tài tàng mà lại có mộ kho thì càng giàu càng biển lận, nhỏ nhen. Nếu vừa có can tàng vừa có can lộ thì người ấy vừa tích lũy được lại vừa không mất sự đại phóng. Có người địa chi tàng sát, thiên can thấu ấn thì mặt mũi hiền từ nhưng thực ra tâm dạ độc ác.

Vì thế phải kết hợp thiên can của đại vận và lưu niên với thiên can của Tứ trụ để xét quan hệ sinh khắc chế hóa, từ đó trong việc cần đoán mới đoán ra được giai đoạn phát sinh. Địa chi của đại vận kết hợp với địa chi của Tứ trụ để bổ trợ cho phán đoán, giúp thấy được cát hung tăng hay giảm.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc