Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Cả nhà đồng bộ thông tin, người cùng giờ sinh vẫn khác mệnh

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202615 phút đọc2 lượt đọc
Cả nhà đồng bộ thông tin, người cùng giờ sinh vẫn khác mệnh

Người cha mất vào năm Nhâm Tuất, và lá số của vợ cùng bốn người con, sinh cách nhau cả chục năm, đều chỉ về đúng năm ấy. Vậy mà hai người sinh cùng một giây lại có thể một người nuôi ong, một người ngồi ngai vàng. Câu hỏi ấy từng khiến một hoàng đế đang cho giết người phải dừng tay giữa chừng...


Mệnh và vận phải đọc cùng nhau

Một người sinh ra đời, ngày giờ tháng năm ấy xếp thành tám chữ thiên can địa chi, và người xưa gọi sự sắp xếp đó là mệnh. Cuộc đời trải qua từng chặng, hết chặng này sang chặng khác, và những chặng ấy gọi là vận. Mệnh với vận ghép lại mới thành cái mà ai cũng gọi là số phận. Cũng như mọi vật trong trời đất, con người có buổi sinh ra, buổi hưng thịnh, buổi suy yếu rồi buổi tàn; chu kỳ ấy chính là vận khí mà ta vẫn nhắc đến.

Mệnh và vận tốt xấu thế nào, phải nhìn cả hai. Tứ trụ đẹp mà vận đi cũng đẹp là điều trọn vẹn nhất. Tứ trụ đẹp mà gặp vận kém thì khó khăn chỉ là chốc lát, rồi sẽ qua. Tứ trụ xấu lại gặp thêm vận xấu thì chẳng khác gì tuyết đã phủ còn thêm sương mù, nhà dột lại gặp mưa to. Còn Tứ trụ xấu mà bỗng gặp vận tốt thì niềm vui ấy không bền. Đem mệnh và vận ra so, đương nhiên mệnh tốt vẫn đáng quý hơn cả.

Muốn làm chủ vận mệnh, trước hết phải biết nó

Ai cũng nói người phải nắm lấy vận mệnh của mình, nhưng nếu không biết vận mệnh của mình ra sao thì lấy gì mà nắm? Cũng như người chưa hiểu cách lái xe, cầm vô lăng là bước đầu đã sai. Cách duy nhất là xem toàn diện cho chính mình, hiểu rõ chỗ lành chỗ dữ, nhân lúc thuận lợi mà hành động, gặp điều có hại thì đề phòng. Hướng về điều tốt, tránh xa điều họa, chỉ thế mới là làm chủ được mình; còn không thì chỉ là lời nói suông.

Người xem mệnh thường hay nghĩ mệnh vận là do thiên mệnh định sẵn, một ý chí cố định nào đó từ trên cao. Thầy Thiệu Vĩ Hoa không nghĩ như vậy. Theo ông, mệnh vận là sản phẩm của âm dương, ngũ hành trong thiên nhiên sinh khắc chế hóa mà thành; con người cũng như mọi vật trong trời đất, đều chịu ảnh hưởng từ sự vận động của các thiên thể, chứ không có một bàn tay nào ấn định từ trước. Từ hoàng đế cho tới dân thường, từ một người cho tới cả một nước, đều có chuyện mệnh vận tốt xấu.

Một người xem bằng nhiều cách, kết quả vẫn một lời

Trong nhiều năm nghiên cứu, ông nhận ra thông tin của một người có tính đồng bộ. Ở Trung Hoa có rất nhiều cách để đoán lành dữ họa phúc cho một người: Tứ trụ, Bát quái, Đại Lục Nhâm, Tử Vi Đẩu Số, tướng học, Kỳ Môn Độn Giáp. Nếu người đoán đủ cao tay thì kết quả của mọi phương pháp đều cùng một hướng, quyết không thể mỗi cách nói một nẻo.

Để chứng minh, ông kể lại chuyện bà họ Lô. Bằng Tứ trụ, ông đoán tháng ba âm lịch năm 1987 bà gặp nạn rất nặng. Bà nửa tin nửa ngờ, nhờ ông dùng Bát quái đoán lại. Theo giờ sinh của bà, ông gieo được quẻ Lữ biến sang Tấn: hào thế là Thìn thổ, hào ứng là Dậu kim. Năm 1987 là năm Mão; Dậu kim xung khắc Thái Tuế, Thái Tuế Mão mộc lại khắc hào thế Thìn thổ. Xung Thái Tuế đã hung, Thái Tuế khắc hào thế cũng hung. Thế ở Thìn thổ mà đi về hướng tây bắc thì chạm Tuất, tức Thìn Tuất xung nhau. Kết quả khớp trọn với Tứ trụ.

Bà vẫn còn lăn tăn, xin lắc thêm một quẻ nữa. Lần này được quẻ Khôn biến Tốn: hào sáu của Khôn là Dậu kim cầm thế, hào ứng là quan quỷ Mão mộc xung khắc thế, thế lại hóa ra quan quỷ Mão mộc khắc trở lại. Năm Mão là lúc quan quỷ gặp Thái Tuế mà vượng, Dậu kim thế lại xung Thái Tuế; thổ của Khôn hóa thành mộc của Tốn khắc ngược lại thì càng hung. Mão Dậu là chính xung, sức xung rất mạnh. Ba cách đoán cùng một ý, nên ông dặn đi dặn lại: khoảng tháng ba, tháng tư dương lịch năm đó, tuyệt đối đừng đi về hướng tây bắc. Bà coi thường lời dặn, rồi bị tai nạn ô tô.

Một chuyện khác cũng cùng loại. Năm 1987, ông đoán cho một người bằng cả Tứ trụ lẫn Bát quái và thấy năm 1975 người ấy gặp họa giam cầm. Xem tiếp vân tay thì ở đoạn tương ứng tuổi hai mươi ba có dấu vết bị giam. Ông nói thẳng: năm 1975 anh vì chuyện nam nữ mà phải ngồi tù. Người kia kinh ngạc và nể phục mãi. Thông tin của một người ở đâu cũng là một, soi bằng gương nào thì cũng hiện ra đúng hình ấy.

Người một nhà là một dòng thông tin

Không vật gì trên đời là không có quy luật, dù có sự sống hay không, hữu hình hay vô hình. Con người là tinh hoa của vạn vật, tất nhiên cũng có quy luật riêng. Ông còn phát hiện thêm: dù một gia đình có bao nhiêu người, bao nhiêu con, thông tin của các thành viên vừa liên quan với nhau vừa đồng bộ. Tứ trụ của người chồng đoán ra được vợ con; Tứ trụ của con đoán ra được cha mẹ, anh em. Tám chữ của một người không chỉ chứa thông tin của riêng người ấy mà còn chứa cả thông tin của người nhà.

Đồng bộ nghĩa là việc xảy ra cho người này thì dấu hiệu của nó hiện trong lá số của những người còn lại. Nếu năm năm mươi tuổi người cha thăng chức, thì lá số mỗi thành viên trong nhà đều có điềm lợi cho cha; không thể có người con nào mà lá số lại báo cha gặp rủi đúng năm ấy. Nếu năm năm mươi tuổi người cha mất, thì lá số người mẹ nhất định năm đó gặp vận khắc chồng, không thể có sao tốt nhất chiếu vào; Tứ trụ anh em cũng không có điều lợi cho cha, còn lá số của cha thì phô ra những thông tin bị khắc mà không có chỗ nào cứu.

Sáu lá số của một nhà cùng báo năm Nhâm Tuất

Người cha sinh năm 1918, lá số là Mậu Ngọ, Quý Hợi, Kỷ Tị, Mậu Thìn. Ông mất vào tháng mười âm lịch năm 1982, năm Nhâm Tuất. Nguyên do là tuế vận gặp nhau, lại thêm chi ngày bị xung khắc rất mạnh. Dụng thần Ngọ hỏa nhập mộ ở Tuất, tức mộ của lưu niên, và kình dương cũng gặp xung khắc.

Người vợ sinh năm 1925, lá số Ất Sửu, Tân Tị, Tân Mão, Tân Mão. Lá số này chứa sẵn điềm khắc chồng: câu xưa nói thuần âm thuần dương mới giữ được ngọn đèn sáng; nữ gặp thuần âm thì cô quả. Nhật nguyên là Tân Mão, mà Mão chính là ngôi chồng của bà, lại bị ba chữ Tân khắc. Còn vì sao chồng mất đúng năm 1982: sao chồng lâm cung tuế vận ở tứ tuyệt, lại nhập mộ, nên chồng khó tránh. Cụ thể, năm năm mươi tuổi bà gặp đại vận Đinh Hợi chính xung với tháng sinh Tân Tị. Trong Tị, Bính hỏa là sao chồng, bị Hợi thủy xung khắc, xung mất sao chồng là điềm hung. Thứ hai, Bính hỏa gặp Hợi là tuyệt địa, cũng xấu. Thứ ba, Bính hỏa nhập mộ ở Tuất của lưu niên. Ba chuyện gộp lại, chồng mất năm Nhâm Tuất.

Cô con gái đầu sinh năm 1946, lá số Bính Tuất, Canh Tý, Nhâm Tuất, Quý Mão. Cô là Nhâm thủy sinh tháng mười hai, đúng đất thủy vượng. Bính hỏa ở trụ năm là thiên tài, tức sao của cha, lại ở tử địa. Ba trụ tháng, ngày, giờ đều thủy vượng, thủy vượng khắc hỏa đang chết, cho nên bản thân cô tỉ kiếp lâm vượng địa, dấu hiệu khắc cha hiện ra rất rõ.

Người con trai thứ sinh năm 1955, lá số Ất Mùi, Canh Thìn, Quý Sửu, Nhâm Thân. Đinh hỏa trong Mùi là thiên tài, tức cha, bị Quý thủy trong Sửu khắc, mà Sửu Mùi lại xung nhau, chẳng lợi cho cha. Thủy của Nhâm Quý trong lá số là tỉ kiếp khắc cha, nên chuyện khắc cha đã định sẵn từ đầu. Hai chị em còn có chung một đặc điểm: người chị từ ba mươi hai đến bốn mươi mốt tuổi đi đại vận thiên tài trong Bính, người em từ hai mươi sáu đến ba mươi lăm tuổi đi đại vận thiên tài trong Đinh Sửu. Câu cổ nói tháng sinh như thế thì ngày sinh không nên gặp thiên tài, gặp thì khắc cha. Bính gặp Thân là bệnh, Đinh gặp Sửu là mộ, đều là điềm khắc cha. Đến năm Nhâm Tuất 1982, cả hai chị em cùng gặp lưu niên là đất tỉ kiếp khắc cha, Bính Đinh hỏa lại nhập mộ ở Tuất của lưu niên, nên cha nhất định mất năm ấy.

Người con trai cả sinh năm 1951, lá số Tân Mão, Bính Thân, Nhâm Thìn, Kỷ Dậu. Bính hỏa của tháng là cha, gặp đất bệnh đã không tốt, lại bị thủy vượng ở ngày xung khắc. Câu xưa nói thân vượng mà tài nhược thì khắc cha; can chi của tháng bị tổn thương thì hại cha mẹ. Từ hai mươi bốn đến ba mươi ba tuổi anh đi đại vận kiếp tài khắc cha, và lưu niên Nhâm Tuất vừa là đất kiếp vừa là mộ của sao cha.

Người con gái thứ sinh năm 1953, lá số Quý Tị, Mậu Ngọ, Tân Hợi, Nhâm Thìn. Ất mộc trong Thìn là cha, trường sinh ở nguyệt kiến, nhưng thương quan trong lá số cũng là dấu hiệu khắc cha. Từ hai mươi ba đến ba mươi hai tuổi cô gặp đại vận Tân Dậu kiếp tài, tức sao cha Ất mộc rơi vào tuyệt địa; cổ nhân nói vận gặp tỉ kiếp là khắc cha mẹ. Năm Nhâm Tuất, lưu niên và tiểu vận của cô đều là thương quan, thêm sao cha Ất mộc mộ ở Tuất, nên cha mất năm 1982.

Những ví dụ như vậy nhiều không kể xiết. Năm tháng sinh mỗi người trong nhà khác nhau, mệnh năm khác nhau, vận đi khác nhau, số con cũng khác nhau, vậy mà những việc lớn nhất của cả gia đình thì thông tin vẫn đồng bộ. Đó là quy luật phổ biến.

Người sinh cùng ngày giờ, vì sao vẫn khác mệnh

Có người chê rằng nếu bảo con người có mệnh vận thì cùng năm tháng ngày giờ phút giây, sao chỉ có một người làm vua? Nước đông dân, vô số người trùng giờ sinh, lẽ ra mệnh phải như nhau, vậy mà mỗi người một số. Lý lẽ của anh ta gọn gàng: thời gian sinh giống nhau thì mệnh vận không thể có người vượng, người suy.

Ông hỏi lại: cùng một bầu trời sao chia ra xuân hạ thu đông, lạnh nóng khác nhau? Cùng một quả đất, vì sao chỗ là cạn, chỗ là nước? Cùng một thửa ruộng, cùng một giống lúa mạch gieo trồng chín tháng, sao cây cao cây thấp? Cùng một cành, sao quả to quả nhỏ? Thân thể là một khối thống nhất, lục phủ ngũ tạng cùng ra đời một lúc, vậy mà vì sao có người gan mọc u còn các tạng khác lành lặn, bộ phận này đau còn bộ phận kia thì không? Người bạn nghe xong ngạc nhiên rằng đúng thế, nhưng cũng chẳng rõ vì sao. Ông đáp: tổ tiên đã sớm biết lục phủ ngũ tạng đều mang âm dương ngũ hành sinh khắc, mỗi thứ làm chủ một mùa vượng hay suy, nên mới có sự khác biệt lớn.

Cùng giờ sinh mà mệnh khác nhau thì nguyên nhân rất nhiều, nói tỉ mỉ thì khó, chỉ tạm gom lại như sau.

Thứ nhất là phương vị. Nam là hỏa, đông là mộc, bắc là thủy, tây là kim; người mệnh hỏa sinh ở phương nam và sinh ở phương bắc hẳn khác nhau, vì phương nam hỏa vượng, phương bắc thì thủy khắc hỏa.

Thứ hai là mệnh năm của cha mẹ, anh chị em, người kết hôn, con cái mỗi người một khác. Mệnh năm của người nhà khác nhau thì mức sinh khắc ngũ hành cũng khác nhau, ảnh hưởng đến mỗi người khác nhau. Một người mệnh mộc, cha mẹ đều mệnh kim thì bị cha mẹ khắc; cha mẹ đều mệnh thủy thì thủy sinh mộc, có lợi. Bị khắc thì đường đời không thuận, được sinh thì hay gặp may.

Kế đến là nam nữ khác nhau, nên hành vận có thuận có nghịch. Tướng mặt, vân tay, cốt tướng cũng chẳng ai giống ai, nên chuyện xảy ra cũng có chỗ khác. Rồi đến gen di truyền, hoàn cảnh và điều kiện gia đình mỗi người mỗi khác.

Ngày xưa có câu: nhất mộ, nhì nhà, thứ ba mới tới ngày sinh tháng đẻ. Nghĩa là mệnh vận hơn kém trước hết do phong thủy phần mộ tổ tiên, kế đến do nhà cửa tốt hay xấu, rồi mới tới tám chữ Tứ trụ của mình. Cho nên dù cùng năm tháng ngày giờ phút giây, mộ tổ và nhà ở nhất định không thể giống nhau.

Còn một nguyên nhân khác: điểm sáng của ngôi sao trực ban chỉ có một. Hàng nghìn hàng vạn người sinh cùng giây phút ấy, nhưng ánh sáng ấy chỉ rọi đúng vào một nhà, hoặc đúng lúc thành thai, hoặc đúng giờ sinh; người nhận được mới có thể làm vua, những người còn lại là dân thường. Rồi lòng tín ngưỡng cũng làm đổi vận: người tin thờ thường hay có lợi, gặp điều xấu cũng dễ vượt qua.

Chu Nguyên Chương và đàn ong

Người ta kể rằng sau khi lên ngôi, Chu Nguyên Chương đời Minh nghĩ mình làm vua thì những ai cùng giờ sinh với mình cũng sẽ làm vua; nếu không giết đi, sau này có thể bị tranh mất ngôi. Ông cho giết rất nhiều người cùng tuổi. Giết đến nửa chừng, ông nghĩ nên hỏi một người xem làm nghề gì rồi giết cũng chưa muộn. Người ấy đáp: tôi nuôi ong. Nuôi bao nhiêu tổ? Chín tổ, gồm hàng vạn con ong. Chu Nguyên Chương vừa ngạc nhiên vừa mừng: mình làm vua cai quản chín châu, chín chư hầu; người kia nuôi chín tổ ong có chín ong chúa. Vậy người làm vua của loài người chỉ có mình, còn kẻ kia là vua của loài ong, là vua côn trùng; những người khác chắc là vua cá, vua tôm. Ông yên tâm và không giết nữa.

Thầy Thiệu Vĩ Hoa còn thấy rằng những người sinh cùng năm tháng ngày giờ, đến một năm hành vận nào đó, có người vì phạm pháp mà ngồi tù, có người gặp tai nạn lao động, có người cha mẹ ốm hoặc mất, có người mất việc. Nói chung đều ít may, chỉ khác nhau ở mức nặng nhẹ.

Cặp sinh đôi cũng không giống nhau

Người sinh đôi mệnh vận có giống nhau không? Ông nói là không hoàn toàn. Dù sinh đôi thì vẫn có người ra trước người ra sau, giờ sinh cách xa thì khác biệt càng lớn. Qua điều tra, ông thấy các cặp sinh đôi sau khi kết hôn khác nhau rất rõ. Vì mỗi người lấy một người vợ hoặc chồng khác nhau, người nhà thay đổi, ngũ hành sinh khắc cũng đổi, nên mệnh vận hai người rẽ lối.

Có cặp sinh đôi cùng một giờ. Năm 1986 ông đoán hai anh em năm 1987 sẽ gặp tai nạn; người anh đi theo đạo Phật vào chùa ở, người em ở nhà. Kết quả năm 1987 người em suýt chết vì tai nạn, người anh bình an vô sự. Lại có một cặp khác, người anh làm công an, người em đi bộ đội. Về sau người anh rời ngành công an thì người em cũng giải ngũ. Người anh viết sách nổi tiếng, người em chẳng có công danh gì. Vì sao sự nghiệp khác nhau xa như vậy? Cổ nhân nói người sinh ngày dương giờ dương thì anh mạnh em yếu; sinh đôi vào ngày âm giờ âm thì anh yếu em mạnh. Cặp này sinh ngày dương giờ dương. Nguyên nhân thứ hai là chuyện nỗ lực: người anh cần cù khổ luyện, người em thì chỉ bận lo công việc.

Cái có sẵn và cái phải tự làm

Mọi sự vật trong tự nhiên, nhất là sự phát triển biến hóa của cùng một sự vật, đều có chênh lệch nhau; huống chi người sinh cùng giờ làm sao mệnh vận lại như nhau. Vì vậy sự sắp xếp thiên can địa chi trong Tứ trụ là nhân tố bên trong của mệnh vận tốt xấu, là căn cứ của mọi biến hóa, là biểu hiện của tiên thiên. Việc người ấy có nỗ lực hay không chỉ là nhân tố bên ngoài, là điều kiện của sự thay đổi. Giả sử lá số chứa thông tin sẽ đỗ đại học nhưng người ấy học hành không chăm chỉ, không cố gắng thì vẫn không vào được đại học. Cái có sẵn từ lúc sinh ra phải cộng với sức cố gắng về sau mới đạt được điều mong muốn.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc