Bài tổng quan
Từ sao chỉ sắc đẹp đến những dâm tinh nặng nhục dục
Khoa Tử Vi mô tả nhan sắc con người bằng một bảng liệt kê sơ sài, mặt nam mặt nữ gần như không phân biệt. Nhưng khi bước sang địa hạt tình dục, ngòi bút của Trần Đoàn bỗng trở nên chi tiết đến bất ngờ, gọi thẳng tên từng dạng ham muốn qua Tham Lang, Thiên Riêu, Đào Hoa…
Mục lục · 2 phần
Các sao chỉ sắc đẹp
Tướng mạo trong lá số Tử Vi mơ hồ đến mức mặt con trai và mặt con gái được mô tả gần như giống hệt nhau — điều đó tự nó đã nói lên giới hạn của cả một truyền thống thẩm mỹ.
Cần lưu ý tiên quyết rằng, trong Tử-Vi không có sự phân biệt trong một sao, cái đẹp của phái nam và cái đẹp của phái nữ: cả 2 đều hàm hỗn trong ý nghĩa tướng mạo mơ hồ của cả chính tinh lẫn phụ tinh. Nếu là nữ mệnh thì cái đẹp của sao ứng cho phụ nữ, nếu là nam thì ứng cho nam giới.
Nhưng chính vì hàm hỗn như vậy cho nên, cũng trên một sao hình dáng và vẻ đẹp phái nam giống hình dáng vẻ đẹp của phái nữ. Rất ít khi thấy có sự biệt tướng mạo của riêng mỗi phái đối với từng sao. Trong khoa Tử-Vi, mặt con trai con gái giống nhau. Sự phân biệt, nếu có thì chỉ cần qua trí tưởng tượng phiêu lưu của người giải đoán mà thôi. Chúng ta thử liệt kê tất cả ý nghĩa tướng mạo của các sao đắc địa dưới đây để độc giả thấy rõ sự sơ khoáng đó. Sự liệt kê này không theo thứ tự xấu đẹp nào.
Hầu hết các sao đắc địa đều phảng phất nét đẹp của cả 2 phái.
Thiên tướng: Người đẹp đẽ uy nghi, có tinh thần khí sắc, cao vừa, da trắng, mặt đẹp, dáng oai vệ.
Thái âm: Người to lớn, hơi cao, da trắng, mặt vuông đầy, mắt sáng đẹp.
Phá Quân: Người to lớn có thân hình cao vừa tầm, da hồng mặt đầy, mắt lộ, lông mày thưa.
Tham Lang: Người vạm vỡ, da trắng, mặt đầy, có nhiều lông, tóc và râu.
Thiên cơ: Người có thân hình cao, xương lộ, da trắng, mặt dài, nhưng đầy.
Thiên đồng: Thân hình nở nang hơi thấp, chân tay ngắn, da trắng, mặt vuông và đầy.
Thiên lương: Người thon thả, da trắng, vẻ mặt thanh tú, khôi ngô.
Thiên phủ: Người có thân hình đầy đặn, da trắng, vẻ mặt thanh tú, khôi ngô, răng đều và đẹp, phụ nữ thì tươi đẹp như hoa.
Tử vi: Người cao đẫy đà, da hồng, mặt đầy.
Vũ khúc: Người nở nang, cao vừa tầm, nặng cân, đầu và mặt dài, vẻ mặt uy nghi, tiếng to.
Văn xương, Văn khúc: Người có vẻ mặt thanh tú, khôi ngô hợp với quí tướng.
Long trì, Phượng các: Nhan sắc đẹp, da hồng hào, thanh tú.
Thanh long: Người phương phi, tú hí, có cốt cách sang.
Đào hoa, Hồng Loan: Người rất đẹp, có nhan sắc (Đào Hoa), duyên dáng (Hồng Loan).
Có thể còn một số nhỏ khác mà ý nghĩa không lấy gì độc lập, không đáng ghi.
Qua sự liệt kê, ta thấy chỉ có Liêm Trinh, Thất Sát dù là đắc địa cũng không được kể là đẹp.
Bảng liệt kê trên cho thấy: khoa Tử-Vi rất nghèo nàn về tướng mạo; khoa Tử-Vi rất sơ sài về cách đẹp; khoa Tử-Vi không phân biệt nam nữ trong cái đẹp, lấy tiêu chuẩn chung để chỉ cả 2 phái.
Khoa Tử-Vi không quan tâm đến sự thay đổi tướng mạo qua thời gian mà chỉ nêu các nét tướng của một thời kỳ nào đó mà thôi.
Tóm lại, có thể nói khoa Tử-Vi thất bại trong việc định nghĩa và mô tả tướng mạo và cái đẹp. Phải chăng nhan sắc, vốn thiên hình vạn trạng và nhất là xấu đẹp tuỳ nhãn quan mỗi người, cho nên không thể phản ảnh cụ thể, chính xác được? Phải chăng vì khoa Tử-Vi chú trọng đời người nên không quan tâm đến nét tướng? Phải chăng khoa Tử-Vi không xem dung mạo như một yếu tố quan trọng cho sự thành công mà chỉ xem học vấn, quan trường, tiền bạc như quyết định hơn? Phải chăng, đến đời Trần Đoàn, Nhân tướng học và Tử-Vi học hết còn liên quan để trở thành chuyên khoa, mỗi bộ môn có một khảo hướng và một đối tượng riêng? Phải chăng Trần Đoàn, khi vay mượn các ý niệm nhân tướng học và Tử-Vi, chỉ làm một việc thêu hoa trên gấm cho hào nhoáng, phong phú chớ kỳ thật không chú ý đến hoa?
Dù sao, một di sản khô khan về nhân tướng trong Tử-Vi như thế không giúp khai triển thêm điểm gì phong phú. Vả chăng, di sản đó có khi sai lầm vì có sao đắc địa mà người vẫn xấu, có sao hãm địa mà người vẫn đẹp. Cái tốt hay cái xấu của sao trong Tử-Vi chỉ hay hoặc dở về phương diện đời người chứ không hẳn bao hàm cách đẹp cách xấu với tướng mạo. Chính vì đối tượng của Tử-Vi là đời người chứ không phải tướng người, cho nên phần hình tướng của Tử-Vi ít giá trị. Trên khảo tướng đó, rất khó cho những người không am hiểu nhân tướng khai triển và canh tân lãnh vực tướng mạo trong khoa Tử-Vi, trừ khi để loè bịp một cách may rủi.
Ngành nhân tướng vốn là một ngành phức tạp có khảo hướng riêng, có tiêu chuẩn riêng vô cùng phong phú. Cái phức tạp, cái phong phú đó, khoa Tử-Vi không hội nhập nổi. Trần Đoàn, tuy gán ghép nhân tướng vào Tử-Vi, nhưng không diễn xuất được hậu quả tướng mạo trong đời người. Ghép nhân tướng vào Tử-Vi, Trần Đoàn chỉ làm một sự gả bán ép buộc lấy vung néo đập vào nồi tròn, chứ kỳ thật cuộc hôn nhân của nhân tướng với Tử-Vi trong khoa Tử-Vi là một thất bại. Bày ra khoa Tử-Vi, Trần Đoàn có tham vọng quá lớn, muốn cho khoa này trở thành một hệ thống bói toán nói lên sự việc mọi hình tướng, mọi cá nhân, mọi đời người, mọi lãnh vực, mọi thời kỳ. Bộ óc của người tuy có tinh vi, nhưng vẫn không tóm thâu hết các uẩn khúc quá ư tạp bác của nhân sinh, của nhân tính, của nhân tướng và tương quan giữa nhân tướng, nhân tính và nhân sinh: ý thức hệ của Tử-Vi, nếu có, chỉ có giá trị trong phạm vi nhân sinh và nhân tính mà thôi. Cho nên, đến nay chưa thấy ai thành đạt trong việc tổng hợp một khoa Tử-Vi nhân tướng. Hễ đa mang thì đa quá. Đó là khuyết điểm của Trần Đoàn trên phương diện này.
Quan niệm ái tình trong khoa Tử-Vi
Tướng mạo thì sơ sài, nhưng khi nói đến địa hạt tình dục, khoa Tử Vi lại tỏ ra chi tiết và táo bạo hơn hẳn — táo bạo đến mức có người xem thủy tổ của môn này là một nhà tâm lý học đi trước thời đại.
Khoa Tử-Vi có rất nhiều sao ái tình, mô tả tình dục (sexualité) của cả 2 phái. Tính ra có đến 20 vì sao trong tổng số chiếm 111, chiếm tỷ lệ gần 1/6, gồm cả chính tinh lẫn phụ tinh.
Trên phương diện tình dục, chính tinh hay phụ tinh đều có mãnh lực như nhau, không hẳn chính tinh mạnh hơn phụ tinh như thông lệ đã có.
Những sao tình dục đóng ở cung Mệnh, Thân và 3 cung chiếu Mệnh, Thân có ý nghĩa sinh lý đã đành: nhưng, nếu đóng ở cung Nô, Tật, Phu, Thê ý nghĩa đó cũng không mất, không giảm, thậm chí còn mạnh mẽ và rõ rệt hơn trong nhiều trường hợp.
Chính vì số lượng khá đông, vì vị trí ảnh hưởng khá nhiều cho nên các sao này đóng một vai trò quan trọng hơn và trong lá số, cho thấy ảnh hưởng của tình dục rất sâu rộng trên kiếp sống con người. Quan niệm này cũng được tâm lý học Tây-phương xác nhận. Đại biểu lỗi lạc của Tây-phương là Freud, nhà tâm học người Áo, đã nhấn mạnh rằng trong tâm lý con người, thực chất trội yếu là tiềm thức sinh lý. Khám phá của ông đã mở ngỏ cho một trào lưu tâm lý học tiềm thức và sinh lý học thực tiễn ngày càng thịnh hành trong nền nhân học Âu Mỹ. Ở Á Đông, qua môn Tử-Vi, sự quan trọng của tình dục đã được thừa nhận cách đây 10 thế kỷ. Các sao ái tình trong lá số là bằng chứng cho thấy Thủy Tổ Tử-Vi đã xem tình dục như một động lực mạnh mẽ của cá nhân, chi phối tâm linh, tinh thần và thể xác con người, có hậu quả phong phú đến hạnh phúc gia đình và nếp sống xã hội. Với 20 sao đó, khoa Tử-Vi đã nhìn vấn đề sinh lý một cách thẳng thắn, đúng mức và đứng về mặt thế tục, không bị thiên lệch bởi quan niệm nho phong của thời đại bấy giờ. Vì thế, có quan điểm cho rằng Trần Đoàn là nhà tâm lý học rất thực tiễn và cấp tiến hơn thời đại của ông, vì đã dám diễn đạt một thực tế mà các triết gia và đạo đức gia Trung Hoa lúc bấy giờ hãy còn dè dặt trong việc phát biểu.
Tuy nhiên, phải công nhận là khoa Tử-Vi cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi quan niệm đạo đức riêng đối với vấn đề sinh lý của phụ nữ. Bằng chứng là khoa này đặt để rất nhiều dâm tính riêng cho phụ nữ và chính vì vậy đã tỏ ra khắc nghiệt đối với phụ nữ trong vấn đề tình dục: phụ nữ có dâm tính bị xem như khả ố hơn phái nam, có lẽ vì những xáo trộn mà người phụ nữ đa tình mang lại cho gia đình và cho xã hội.
Các sao tình dục
Cần lưu ý ngay rằng các sao tình dục kể dưới đây còn có ý nghĩa khác (về tướng mạo, nghề nghiệp, bệnh hoạ, thọ yểu, hên xui) chớ không phải chỉ mang ý nghĩa ái tình thuần tuý. Duy, nếu xét riêng về mặt ái tình thì chúng ta có thể phân biệt làm 2 loại: những sao tình dục áp dụng chung cho nam nữ và những sao tình dục mà khoa Tử-Vi gán riêng cho phụ nữ.
Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng ý nghĩa của các sao tình dục liệt kê dưới đây chưa tính đến sự khắc chế của các sao khác: đó là ý nghĩa đơn thuần và nguyên thủy, chưa bị chế giảm.
Những sao tình dục chung cho 2 phái
Để cho dễ đánh giá mức độ mạnh yếu, có thể phân biệt các sao tình dục thiên về thể xác (amour charnel) với các sao tình dục thiên về tâm lý, tinh thần, mặc dù, trên thực tế, sự khác biệt nhiều lúc rất mong manh.
Những dâm tinh nặng ý nghĩa nhục dục
Tham Lang
Ý nghĩa sinh lý của sao này rất sâu sắc. Tham Lang chỉ sự tham dục lớn lao, nhất là khi hãm địa thì tính nết cần sa đoạ, hư đốn, lẳng loàn. Thông thường, Tham Lang chỉ hạng người dễ động tình, xấu máu về sắc dục, bị thu hút bởi nhu cầu sau lưng và chạy theo nhu cầu này một cách mù quáng, bất chấp đạo đức, gia đình, dư luận.
Vì Tham Lang là võ tinh, cho nên nết dục của Tham Lang có ít nhiều bạo lực, dục động, khó kìm chế. Động lực sinh lý của Tham Lang hầu như bất khả cưỡng. Nết tình của Tham Lang vì thế có nhiều hình thái bạo dâm (sadisme).
Xét trên phương diện khác có thể nói sao này bao hàm ít nhiều bệnh tật về sinh lý, cụ thể là sự khao khát đến độ bị ám ảnh (obsession), tình dục hầu như thường xuyên, mạnh bạo, khác thường. Đời sống sinh lý của Tham Lang rất dồi dào hầu như chiếm ưu thế duy nhất của cuộc đời.
Ngoài ra, Tham Lang thụ hưởng sinh lý một cách ích kỷ, nghĩ đến mình nhiều hơn đến bạn đồng tình. Cái yêu của Tham Lang nhằm phục vụ thú tính cá nhân hơn là hạnh phúc lứa đôi. Trong ái tình, Tham Lang là con vật hành sử theo bản năng, thiếu tế nhị, cao thượng, vị tha đối với người kia. Đây là một nết tình vừa mạnh, vừa thô và vừa tục (amour violent et sadique). Sau cùng, vì nết tính cuồng nhiệt và thô tục, nên Tham Lang còn có ý nghĩa tự thỏa mãn sinh lý.
Tóm lại, đây là một sao dâm ô, đặc biệt bất lợi cho phái nữ. Nữ có sao này có ít nhiều dĩ tính nếu Phúc, Mệnh, Thân xấu và có thêm sao tình dục khác: đây là hạng gái giang hồ. Còn nam số có Tham Lang là kẻ ăn chơi đàng điếm, hoang dâm, nếu không có đủ sao mạnh chế khắc.
Thiên Riêu hãm địa
Sao này có ý nghĩa sinh lý rất mạnh, chỉ sự chơi bời, sắc dục, trụy lạc, sa đoạ, xu hướng tình dục và tính nết dâm đãng.
Ngoài ra, về mặt cơ thể, Thiên Riêu chỉ lông, một đặc điểm khác của tình dục.
Cũng như Tham Lang, ái tình của Thiên Riêu bừa bãi, mạnh mẽ, đồng thời có khuynh hướng xác thịt. Đối với sao này, không có vấn đề tình yêu lý tưởng hay tinh thần, chỉ có sự thỏa mãn vật chất.
Nếu Riêu đắc địa ở Mão và Dậu, nếu tình vẫn mạnh, chỉ được lợi là không bị tiếng xấu mà thôi.
Thai
Về mặt tình dục, sao Thai mạnh không kém, bởi lẽ Thai trực tiếp chỉ sự giao hợp nam nữ, cho nên ý nghĩa sinh lý càng rõ ràng hơn.
Về mặt cơ thể, Thai là Âm hộ, là tử cung, bào thai. Thành thử, ý nghĩa sinh dục và sinh lý cụ thể. Nhưng, dù chỉ Âm hộ, Thai không phải chỉ có nghĩa dâm đãng cho phái đẹp mà thôi.
Ngoài ra, Thai còn có ý nghĩa tái sinh, cho nên về mặt tình dục, sao này thiên về sự thay cũ đổi mới và về đặc tính tái phạm, dù có cố gắng tu chữa.
Đào hoa
Sao Đào cũng là sao điển hình của tình yêu. Nó chỉ sự ham thích ái tình, tính nết trăng hoa, đa tình. Người có Đào hoa bao giờ cũng thích chơi với người khác phái, ham chinh phục để yêu và được yêu, lấy tình yêu làm lẽ sống của tâm hồn, để thoả mãn một tình cảm chứa chan hoặc một nhu cầu sinh lý nồng nhiệt. Cho nên sao Đào chỉ tất cả hình thái của ái tình mạnh mẽ, có thể là ái tình cao thượng, mà cũng có thể là ái tình thể xác.
Vì vậy, đối với Đào Hoa, hình thái của ái tình không quan trọng bằng cường độ của ái tình. Nết tình của sao Đào bao giờ cũng tha thiết, thường đam mê, si luỵ. Đào Hoa bao giờ cũng rung động mạnh trước ái tình và tham lam trong tình trường. Sự tham lam này thể hiện bằng việc có nhiều mối tình cùng lúc (như yêu nhiều người, thích có nhiều người yêu) hoặc lần lượt yêu hết mối tình này đến mối tình khác, không dứt được nghiệp tình. Sự thiếu thốn tình yêu làm cho đương sự khổ sở, cô đơn, trống trải, đời sống vô vị. Con người Đào Hoa thích cho và thích nhận, tự xem như sinh ra để yêu, để được yêu và chỉ có yêu là đáng kể.
Vì ham thích tình yêu, vì xu hướng yêu nhiều và yêu đậm cho nên ái tình của Đào Hoa không những phong phú, nhắm nhiều đối tượng cùng một lúc, mà còn lẳng lơ, sa đoạ, bất chính, phi đạo đức. Lẽ dĩ nhiên, với bản năng như thế cho nên Đào Hoa phải có những đặc tính phụ tuỳ đi cặp như chưng diện, chinh phục v.v… sao này đại kỵ cho nữ Mệnh.
Mộc dục
Sao này có nghĩa phóng đãng, sự ham muốn vật dục, sự khao khát yêu đương và sự quyến rũ yêu đương. Tính nết sinh lý của sao này ít nhiều hỗn loạn, không mấy chọn lọc đối tượng, bao hàm nhiều hình thái, từ sự tự thỏa mãn cho đến vấn đề đồng tính luyến ái (homosexuel). Tình yêu của Mộc Dục hơi quái dị, bất thường.
Mô
Sao này chỉ sự dâm đãng thông thường.
Liêm Trinh hãm địa
Chỉ khi hãm địa, Liêm Trinh mới có ý nghĩa dâm đãng. Đắc địa, Liêm Trinh chỉ tính nết hào hoa thông thường.
Tóm lại, các sao kể trên biểu tượng cho tình dục của cả nam nữ, không khác biệt nhau bao nhiêu về bản chất, chỉ khác nhau ít nhiều về mức độ, hình thái. Sự xếp loại trên đây không hẳn theo thứ tự mạnh yếu nào đó: nó chỉ có tính cách tương đối. Ý nghĩa mỗi sao còn tuỳ thuộc cá tính mỗi người, vị trí tọa thủ và sự hội tụ nhiều hay ít với các sao đồng nghĩa. Ý nghĩa tạm gọi là nặng về nhục dục chỉ nói lên khuynh hướng ái tình thể xác, do đó, hiển nhiên phải bao hàm cả tâm lý, tính tình, tinh thần. Trái lại, những sao tình dục kế tiếp dưới đây, tuy có nặng về tâm lý, tinh thần nhưng cũng không mất đi ý nghĩa và khuynh hướng nhục dục, vật chất.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
