Bài tổng quan
Tứ hóa năm sinh nhập sáu cung từ Mệnh tới Tật Ách
Cùng một Hóa Kỵ năm sinh, rơi vào Mệnh thì người cố chấp, rơi vào Tài Bạch thì người kiếm tiền cực nhọc, rơi vào Tử Nữ thì con cái khó dạy. Dấu ấn đầu đời ấy được đọc theo từng cung nhận. Sáu cung từ Mệnh tới Tật Ách thì mỗi hóa nói điều gì…
Tứ hóa năm sinh đổ vào một cung nói điều gì
Mỗi người sinh ra đều mang theo bốn hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ do thiên can của năm sinh phát ra. Bốn hóa ấy rơi xuống bốn cung nào trên lá số, đó là dấu ấn đầu tiên và lâu bền nhất của đời người. Khi nói "sinh niên Lộc nhập Mệnh" hay "sinh niên Kỵ nhập Phu Thê", ta đang nói về chỗ hóa ấy đáp xuống, và tính chất của cung nhận quyết định hóa ấy mang nghĩa gì.
Với mỗi cung, bốn hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ năm sinh nhập vào mang một sắc thái riêng. Mỗi lời giải đều có thể truy ngược lại nghĩa gốc của cung, nên khi đọc nên liên hệ với những điều mà cung ấy vốn quản: Huynh Đệ là kho tiền, Phu Thê gắn với phúc báo, Tử Nữ liền với cảnh về già.
Đi từ cái "ta" ở trung tâm ra đến những người thân đứng quanh, bốn hóa lần lượt đổi sắc theo từng cung nhận.
Cung Mệnh
Mệnh là điểm gốc của cả lá số, là cái "ta", chỗ tâm tình và ý chí hiện ra. Hóa nào đổ vào đây thì thấm ngay vào tính cách, cách nói và cách sống của người đó.
Lộc năm sinh nhập Mệnh
Đây là tượng của phúc. Một đời ít phải lo lắng, cơm áo ngay thẳng. Người ấy thấu tình đạt lý, tùy duyên và không cố chấp, tâm tình thường tốt. Họ không mang hận thù, dễ chung sống, nhân duyên tốt, bởi cung Mệnh và Giao Hữu cùng gốc nên khí chất của Mệnh toát ra thành quan hệ với người. Cả hôn nhân và đời sống gia đình cũng hòa hợp, vì Mệnh chính là cung Phúc Đức của Phu Thê.
Quyền năm sinh nhập Mệnh
Người này chủ quan, có chủ kiến, nặng cái tôi và tự tin. Họ dễ không chịu hư tâm, tự cho mình là đúng. Tính cương, thích tự do phóng khoáng. Nếu cách cục tốt thì có thể cầm quyền, tài giỏi, tích cực và biết khai sáng. Nhưng nếu thêm Kỵ vào thì thành cố chấp.
Khoa năm sinh nhập Mệnh
Tướng mạo lịch sự, thanh tú. Cá tính khá văn chất, ôn hòa.
Kỵ năm sinh nhập Mệnh
Cố chấp, câu nệ, khó khai thông. Hay ghi hận, phiền não, giận dữ. Cần phòng cái vòng "tham, sân, si" khiến mình đi vào ngõ cụt mà không hay biết. Phải đề phòng thị phi đến mức chẳng phân biệt được sáng tối, và cả thói nghi ngờ thần quỷ.
Một lời chú đáng nhớ: Kỵ nhập Mệnh thì tính tình thu liễm, không thể mở lòng. Gặp chuyện dễ tự mình nghĩ nhiều, rồi tự gây ưu phiền. Nếu cách cục quá kém, người ấy nóng nảy quá mức và tự thu mình. Khi cung Phúc Đức tọa Kỵ, cũng luận như vậy.
Cung Huynh Đệ
Huynh Đệ là kho tiền, là cỡ của sự nghiệp, là tình thủ túc. Ba nghĩa ấy quyết định mọi hóa nhập vào đây; tiền hóa ra sao, kho tiền đầy hay vơi, sự nghiệp lớn hay nhỏ, thân thể mạnh hay yếu đều nối vào cùng một cung.
Lộc năm sinh nhập Huynh Đệ
Anh em hòa thuận như ý, và chính anh em là "phúc của ta". Họ dễ ở chung, tình thủ túc sâu đậm. Cả đời sự nghiệp nhiều thuận lợi, ít khó khăn, vì Huynh Đệ là vị trí thành tựu; lợi cho việc lên chức hay gây dựng sự nghiệp. Bên cạnh không thiếu bạn, không tịch mịch. Thân thể ít bệnh, vì đây cũng là vị trí thân thể. Duyên với mẹ tốt. Nhà có phòng ngủ rộng.
Cung này còn biểu thị tình trạng kinh tế: đắc Lộc thì kinh tế tốt, dễ quay vòng. Lúc cùng đường làm liều cũng nhanh chóng tìm được lối thoát, như câu "liễu ám hoa minh", trong cảnh bí bách bỗng sáng ra.
Quyền năm sinh nhập Huynh Đệ
Anh em dễ có thành tựu, dễ có người anh cả. Sự nghiệp của bản thân kiếm tiền thành công (vị trí thành tựu), thân thể khỏe (vị trí thân thể). Tích cực, biết khai sáng, lợi cho việc lên chức, gây dựng sự nghiệp. Người mẹ năng lực mạnh. Phòng ngủ rộng.
Khoa năm sinh nhập Huynh Đệ
Anh em văn chất. Thu vào không nhiều nhưng biết quản lý tài sản, kinh tế bình hòa, hợp đi làm yên ổn. Biết dưỡng sinh, sức khỏe khỏe mạnh và có khuôn phép.
Kỵ năm sinh nhập Huynh Đệ
Thu vào không cao hoặc chi ra nhiều, cuộc sống cần tằn tiện. Phần nhiều đi làm thuê hoặc buôn bán nhỏ lẻ. Biết giữ thành, an định, giữ phận, lo cho nhà. Hay tự làm nhiều việc, thành ông chủ kiêm tiểu nhị. Bạn bè không rộng, thích nội liễm, thanh tĩnh; vì Huynh Đệ xung Giao Hữu. Nữ mệnh dễ làm nghề của phụ nữ. Nếu mệnh cách đẹp thì "tích cát thành tháp", gom ít thành nhiều. Dễ là con trai trưởng. Người này muốn gây dựng sự nghiệp, nhưng công việc gian khổ.
Cung Phu Thê
Phu Thê là tình cảm và hôn nhân, đồng thời là cung gắn với phúc báo, vì Phúc Đức của Phu Thê rơi vào Tài Bạch. Nó cũng đóng vai "thiểu tiểu vận", quãng đời đứng trước đại hạn thứ hai, nên hóa nhập vào đây nói cả chuyện hôn nhân lẫn chuyện nghề nghiệp và tiền bạc.
Lộc năm sinh nhập Phu Thê
Duyên với người khác phái tốt, hôn nhân có phúc. Hoặc bản thân cũng đa tình, cần phòng đào hoa. Sau khi cưới, nhiều chuyện suôn sẻ vừa ý. Công việc như ý, vì Lộc chiếu sang Sự Nghiệp. Thời "thiểu tiểu vận", tức quãng đời trước đại vận thứ hai, bình ổn không trở ngại. Một đời tiền bạc suôn sẻ, vì Phúc Đức của Phu Thê là Tài Bạch. Người phối ngẫu thông tình đạt lý, dễ ở chung. Gặp sao "thiên tài" hợp ý thì có thể trúng giải. Con cái thông minh.
Quyền năm sinh nhập Phu Thê
Người phối ngẫu cá tính mạnh, vợ chồng dễ khởi tranh chấp. Công việc của bản thân mạnh mẽ, vì Quyền chiếu Sự Nghiệp. Thời "thiểu tiểu vận" bình ổn. Gặp "thiên tài" hợp ý thì trúng giải. Một đời tiền bạc suôn sẻ.
Khoa năm sinh nhập Phu Thê
Người phối ngẫu văn chất, thanh tú; hoặc gia thế khá đơn giản. Tình cảm dễ "ngẫu đoạn ti liên", ngó đã đứt mà tơ còn vương, khó cắt hẳn.
Kỵ năm sinh nhập Phu Thê
Người phối ngẫu cố chấp, khó khai thông, hôn nhân đành cam chịu. Hoặc chính bản thân cố chấp trong tình cảm, gặp người không quen. Thiếu tình cảm, nhiều trắc trở, hay ly biệt thất thường. Bất lợi cho đào hoa, ngoại tình; phải phòng cái "duyên nợ đào hoa" dẫn đến thân bại danh liệt. Không nên đánh bạc, đầu cơ. Đó là món nợ nhân duyên; dù có ly hôn cũng vướng cảnh kéo dài lần lữa. Công việc dễ thay đổi, hoặc có lúc không có việc, vì Phu Thê xung Sự Nghiệp.
Cung Tử Nữ
Tử Nữ là duyên con cháu, là cung đào hoa, cung hợp tác, cung dịch mã, và là chỗ nhìn ra cảnh già vì Tử Nữ cùng gốc với Phúc Đức. Mỗi hóa vào đây vì thế vừa nói về con, vừa nói về những năm cuối đời.
Lộc năm sinh nhập Tử Nữ
Dễ có con, sinh nhiều con. Dễ có hiếu tử, con không học đòi thói xấu. Họ hàng thường đến thăm. Hùn hạp kiếm tiền; ra ngoài có nhiều cơ hội, hợp hướng ngoại cầu tài. Cần phòng đào hoa. Về già tốt, có chỗ dựa, vì Tử Nữ và Phúc Đức cùng gốc theo số một sáu. Duyên với thế hệ sau dày.
Quyền năm sinh nhập Tử Nữ
Con có chủ kiến mạnh, dễ thành tựu, nhưng khó dạy, cha mẹ phải hao tổn tâm sức. Duyên với con cái vượng. Hợp hùn hạp làm ăn, hợp ra ngoài cầu tài. Về già tốt.
Khoa năm sinh nhập Tử Nữ
Con văn chất, tú khí và khôn khéo.
Kỵ năm sinh nhập Tử Nữ
Con cố chấp, khó thông cảm; có thể con không có tiền đồ hoặc có điều khiếm khuyết. Chuyện dạy dỗ con chưa phải mấu chốt. Dễ không sống cùng một nhà. Cuộc sống có dịch mã, dọn nhà, thoái tài, thoái sản, quản lý thiếu kế hoạch, không an định, vì Tử Nữ xung cung thủ thành. Bất động sản ít đứng tên bản thân. Về già kém hơn, cần tu tâm dưỡng tính.
Cung Tài Bạch
Tài Bạch cho thấy duyên với đồng tiền, nghề kiếm sống và cách kiếm tiền. Qua nó cũng nhìn ra tình hình sức khỏe cha mẹ (vì Phụ Mẫu của cung này là Tật Ách) và quan hệ hôn nhân đối đãi.
Lộc năm sinh nhập Tài Bạch
Mình có duyên với tiền, đường tiền tài thuận (không có nghĩa tất cả đều do tự mình kiếm ra). Cả đời không phải lo xài tiền thế nào, kiếm tiền dễ dàng. Cha mẹ ít đau bệnh, hôn nhân sống chung tốt. Duyên với tiền tốt thì hợp nghề nghiệp vụ, bán hàng, hoặc cả buôn bán tiền mặt. Lộc mừng gặp Quyền thì cơ hội thêm thực chất, không gian phát triển lớn hơn; gặp Khoa thì nguồn tài nguyên bền vững; gặp Kỵ thì nhiều gian khổ. Thu nhập thường là khoản ngoài lương nhiều hơn là lương cố định.
Quyền năm sinh nhập Tài Bạch
Có kiến thức, tích cực, năng lực tốt. Khéo kinh doanh, giỏi cung ứng, thu nhập tốt. Hợp nghề mở mang thị trường, lãnh đạo, phát triển, lợi cho việc thăng chức và cũng có thể tự gây dựng sự nghiệp. Không hợp lương cố định mà hợp lương hoa hồng. Cha mẹ thân thể cường tráng. Quyền mừng gặp Lộc thì cơ hội thêm thực, sự nghiệp lớn hơn. Hợp con đường chuyên sâu, chuyên kỹ, với lương cao chức cao.
Khoa năm sinh nhập Tài Bạch
Thu nhập không cao, tiền vừa đủ dùng. Những khoản nhỏ quay vòng dễ dàng. Từ từ tích lũy, tích tiểu thành đại. Hợp đi làm thuê.
Kỵ năm sinh nhập Tài Bạch
Hợp lương cố định hoặc buôn bán tiền mặt. Kiếm tiền khó khăn hoặc kiếm được ít. Cách cục tốt thì lao lực, tính toán, thích kiếm tiền. Nữ mệnh dễ làm nghề của phụ nữ như làm đẹp, làm móng, trang điểm. Cách cục đẹp thì hợp bán lẻ mà kiếm nhiều, tích cát thành tháp.
Cung Tật Ách
Tật Ách là thân xác của người đó, đồng thời là gia vận, đời sống vật chất, môi trường làm việc. Hóa nào đổ vào đây thấm vào thể trạng và nếp sống hằng ngày.
Lộc năm sinh nhập Tật Ách
Lười biếng, không đổ mồ hôi, cẩn thận kẻo phát phì. Dễ "tùy theo hoàn cảnh". Đời sống vật chất thường được hậu đãi, được hưởng thụ. Gia cảnh tốt, bớt bận tâm, tâm tình tốt. Ít có bệnh mạn tính gây đau khổ. Hoàn cảnh làm việc tốt. Dễ ở chung với vợ (hoặc chồng), quan hệ với cha mẹ tốt và bản thân cũng dễ sống cùng.
Quyền năm sinh nhập Tật Ách
Thân thể cường tráng, bền chắc. Sức đề kháng mạnh, ít ốm đau. Có sức sống, thích hoạt động; nhưng phải phòng ngã, va đập, thương tổn khi vận động. Người cha có năng lực mạnh, quả quyết nên dễ thành công. Nếu thêm Kỵ thì cường độ hoạt động càng nhiều.
Khoa năm sinh nhập Tật Ách
Có bệnh thì gặp được thầy hay thuốc tốt. Ít tàn bạo, cử chỉ nho nhã. Cần phòng sự do dự, mềm mỏng quá mức.
Kỵ năm sinh nhập Tật Ách
Lao lực, không lúc nào rảnh. Tận tụy bổn phận, giữ thành, nội liễm. Thêm Quyền thì càng lao lực khác thường. Hay đi làm thêm, làm thêm giờ; nữ mệnh làm nghề của phụ nữ như làm đẹp. Người cha ngay thẳng, phúc hậu. Khó phát phì.
Nguồn: Lương Nhược Du, Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số 12 cung 672 tượng.
