Bài tổng quan
Những cặp sao báo bệnh khó chữa và bảy lá số thật
Người đàn ông 28 tuổi ấy chưa từng mọc một sợi râu, giọng nói mang âm nữ, và đã chạy chữa khắp nơi không kết quả. Phan Tử Ngư chỉ cần nhìn một cung Tật Ách có hai ngôi sao đứng cạnh nhau là chỉ ra nguyên do…
Mục lục · 6 phần
- 01Cung Tật Ách có Vũ Khúc, Phá Quân, Thiên Lương, Cự Môn
- 02Kình Dương, Hữu Bật, Triệt, Thiên Hỷ, Thiên Mã, Cô Thần ở cung Tật Ách
- 03Xem bệnh qua tổ hợp hai sao: Thái Dương, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Cự Môn, Linh Tinh
- 04Cung Tử Nữ gặp sát: bệnh của chính mình và của con cái
- 05Bảy lá số thật: năm hạn và bệnh đã xảy ra
- 06Hình khắc là gì: những dấu hiệu đầu tiên trên lá số
Cung Tật Ách có Vũ Khúc, Phá Quân, Thiên Lương, Cự Môn
Cung Tật Ách còn nhiều sao nữa, mỗi sao một lá số kèm vài dòng luận.
Tật Ách có Vũ Khúc, Phá Quân (ở Tỵ hoặc Hợi) thì:
- Sinh hoạt tình dục quá độ.
- Mũi và phổi không tốt.
- Gặp sát thì hen suyễn hoặc bệnh phổi.
Tật Ách có Vũ Khúc, Thất Sát (ở Dậu hoặc Mão) thì chảy máu cam, chảy máu ruột; gặp sát thì bệnh mũi, bệnh ruột, kéo dài rất lâu.
Tật Ách có Thiên Phủ, Văn Xương, Đà La, Văn Khúc, Thiên Việt cùng đứng ở Mùi, ông ghi là cơ tim bị nghẽn.
Tật Ách có Vũ Khúc, Thiên Tướng (ở Thân hoặc Dần) thì:
- Bệnh mũi, bệnh ruột, trĩ rò, bệnh da.
- Gặp sát thì tay chân dễ bị thương.
- Gặp Kình Dương thì đao thương, phải mổ một lần.
Tật Ách có Phá Quân (ở nhiều cung) thì:
- Bệnh tuyến.
- Bệnh phổi.
- Âm hư, liệt dương, kinh nguyệt không đều, di tinh, bạch đới, bụng dưới trướng đau.
- Gặp sát thì tay chân bị thương.
Tật Ách có Thiên Lương gặp sát (ở Tỵ hoặc Hợi) thì bệnh tim, cao huyết áp.
Tật Ách có Địa Kiếp thì tứ chi có thương tích. Tật Ách có Địa Không thì thiếu máu, đầu choáng mắt hoa.
Tật Ách có Cự Môn (ở Tỵ, Thìn, Dậu, Hợi) thì:
- Thiếu niên có đao thương.
- Bệnh khí quản, hen, tỳ vị không tốt, thấp nhiệt quá nặng, ngứa ghẻ, bệnh da, da quá mẫn, dị ứng phấn hoa.
- Gặp sát mà đời sống tình dục không bình thường (như đồng tính, loạn luân) thì vì rượu mà sinh biến chứng như bệnh gan, bệnh tình dục, bệnh đường tiết niệu.
- Gặp Hóa Kỵ thì bệnh mắt, bệnh tai.
Kình Dương, Hữu Bật, Triệt, Thiên Hỷ, Thiên Mã, Cô Thần ở cung Tật Ách
Các sao phụ tuy nhỏ nhưng cũng để lại dấu bệnh riêng ở cung Tật Ách.
- Kình Dương (ở Dậu hoặc Mão): kinh phế có bệnh, méo miệng lé mắt, động kinh, bệnh ruột, thần kinh suy nhược hoặc phân liệt thần kinh.
- Hữu Bật: liệt dương, tiên thiên bất túc, tinh thần mệt mỏi, kinh nguyệt không đều, thần kinh tính dục suy nhược.
- Triệt Không: phân liệt thần kinh; việc gì cũng phải nghĩ cho thoáng; chớ để bị kích thích.
- Thiên Hỷ: thần kinh não suy nhược.
- Thiên Mã: thói quen tự thỏa mãn quá mức, mộng di, bệnh phụ nữ, bạch đới nhiều.
- Cô Thần: lo buồn quá độ.
Xem bệnh qua tổ hợp hai sao: Thái Dương, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Cự Môn, Linh Tinh
Hai sao đứng cạnh nhau có thể sinh ra những bệnh mà từng sao riêng không có.
- Thái Dương cùng Hỏa Tinh đồng cung, bất kể cung nào, đều chủ mắt trái có thương. Kỵ nhất ở Tý, Hợi, gặp Hóa Kỵ thì có nguy cơ mất sáng.
- Thiên Tướng cùng Kình Dương thì bụng có đao thương.
- Thiên Đồng cùng Đà La thì phù thũng, mắt có tật.
- Liêm Trinh, Thất Sát (ở Mùi hoặc Sửu): bất kể cung nào cũng dễ mắc bệnh nặng, như ung thư, hoặc tàn phế. Nếu ngồi ở Thiên Di, lại gặp sát, thì chết vì tai nạn xe, hoặc chết trên đường đưa đi chữa bệnh.
- Cự Môn cùng Kình Dương, Hỏa Tinh (ở Thìn, Tuất), hoặc Liêm Trinh, Thiên Tướng cùng Kình Dương (ở Ngọ, Tý): có bệnh ẩn; đầu, mặt hoặc tay chân có thương tàn; không được chết lành.
- Phá Quân cùng Kình hoặc Đà đồng cung ắt có tàn tật. Đại hạn hay tiểu hạn gặp phải thì đề phòng quan phi.
- Thiên Cơ, Cự Môn (ở Mão) bị Kình Dương ở cung đối xung: nữ mệnh có thể phải mổ vùng kín, hoặc vùng ấy quá nhỏ, hoặc có thịt thừa, hoặc phải cắt bỏ tử cung.
- Cự Môn cùng Hỏa Tinh, Kình Dương (ở Ngọ): bất kể cung nào cũng chủ bệnh ẩn, phá tướng, tay chân có thương tàn. Đại hạn, tiểu hạn gặp thì đề phòng tai nạn xe, tự sát.
- Cự Môn cùng Tả Phụ hoặc Hữu Bật: nếu không đoản mệnh thì có thương tàn. Hạn gặp thì quan phi không dứt.
- Linh Tinh cùng Kình Dương hoặc Đà La: hình mạo không thanh tú, hoặc có thương tàn, phá tướng nhưng sống lâu.
- Cung Phúc Đức có Vũ Khúc, Thiên Tướng gặp sát thì sẽ có thương tàn.
- Thất Sát gặp sát, bất kể cung nào, xương sống dễ bị thương, đặc biệt không nên đến nơi nguy hiểm, sẽ vì tai nạn bất ngờ mà bị thương.
- Cự Môn gặp Kình hoặc Đà (ở Tỵ, Thìn, Dậu), hoặc Thiên Đồng, Cự Môn (ở Mùi, Sửu): thân thể hư nhược nhiều bệnh; ở Sửu, Mùi dễ bị ngoại thương; đời sống tình dục không bình thường.
- Tham Lang gặp Kình Dương hoặc Đà La: đào hoa kiểu phiếm thủy, cả đời sắc tình quá nặng, thận tạng không tốt, vì sắc mà gặp họa.
- Kình Dương xung Địa Không thì não bị thương, nhưng không chết vì chấn động não (vì Liêm Trinh, Thất Sát chưa cùng cung với tứ sát).
- Liêm Trinh, Tham Lang (ở Tỵ hoặc Hợi) dễ mắc bệnh hoa liễu, nhất là hai năm Giáp Tý (Dân Quốc 73) và Giáp Tuất (Dân Quốc 83): không được lui tới chốn ăn chơi, vì năm ấy Liêm Trinh hóa Lộc, tăng cơ hội ăn nhậu tiệc tùng, đồng thời cũng tăng cơ hội nhiễm bệnh.
Cung Tử Nữ gặp sát: bệnh của chính mình và của con cái
Cung Tử Nữ không chỉ nói chuyện con cái, mà còn nói chuyện sức khỏe và đời sống chăn gối của chính người xem.
- Thái Âm gặp sát ở cung Tử Nữ: vì sinh hoạt tình dục quá độ mà mắc bệnh gan.
- Thiên Tướng cùng Kình Dương ở cung Tử Nữ: thận tạng không tốt, di tinh sớm, thận hư, nên đời sống tình dục không thể được thỏa mãn (gặp sát khác cũng vậy).
- Liêm Trinh gặp sát ở cung Tử Nữ (các tổ hợp Liêm Tham, Liêm Tướng, Liêm Sát, Liêm Phủ, Liêm Phá): vì đời sống riêng tư không kiểm điểm mà phạm quan phi; con cái yểu chiết; hoặc bị người dùng mẹo gài bẫy sắc đẹp để lừa tiền.
- Thiên Tướng gặp sát ở cung Tử Nữ (kể cả Vũ Khúc Thiên Tướng, Liêm Trinh Thiên Tướng, Tử Vi Thiên Tướng): sinh hoạt tình dục quá độ, dẫn tới liệt dương, di tinh sớm, thận hư, vì bệnh mà khổ não; con cái bất hiếu, ngang bướng, ngỗ nghịch với cha mẹ.
- Thất Sát ở cung Tử Nữ: con sinh ra, nhất là con gái, dễ mắc bệnh tuyến.
- Cự Môn gặp sát ở cung Tử Nữ (kể cả Thiên Đồng Cự Môn, Thái Dương Cự Môn, Thiên Cơ Cự Môn): sinh hoạt tình dục không bình thường mà sinh bệnh; con đầu lòng yểu chiết; có đào hoa, như ăn trái cấm; có lúc chẳng màng luân thường, không chọn thủ đoạn, một mực đi theo ý mình, chưa đạt được thì chưa chịu thôi.
Bảy lá số thật: năm hạn và bệnh đã xảy ra
Quy tắc chỉ thuyết phục khi có người thật làm chứng: bảy lá số, mỗi ca kèm ngày giờ sinh và điều đã xảy ra.
Ca 1: Thái Âm lạc hãm gặp sát, chi thể thương tàn. Một người phụ nữ sinh năm Dân Quốc 34 (Ất Dậu), ngày 5 tháng 3, giờ Tỵ. Vì Thái Âm ở đất hãm gặp sát, ông kết luận người này sống nặng về tình cảm và chi thể có thương tàn. Quả nhiên năm Dân Quốc 71, bà chịu nỗi đau mất con (cung Tử Nữ có Thất Sát gặp sát), sau đó gặp chuyện không may, ngã từ cầu thang, gãy xương đùi.
Ca 2: lao phổi, tiểu đường, chân không sức. Ông Giáp sinh trước Dân Quốc một năm, ngày 10 tháng 6, giờ Tý. Cung Tật Ách ở Dần có Vũ Khúc, Thiên Tướng, Thiên Hình nên mắc: lao phổi (do Vũ Khúc), tiểu đường (do Thiên Tướng), chân không sức, đi lại không thuận (do Thiên Hình). Ông nhắc rằng danh tướng thời xưa Tôn Tẫn bị chặt hai chân, cũng vì Thiên Hình ở cung Tật Ách, cho nên người nào có Thiên Hình ở cung Tật Ách thì phần nhiều chân bị thương, hoặc gãy, hoặc đi lại khó khăn.
Ca 3: vì sao không mọc râu. Một người sinh năm Dân Quốc 46, ngày 9 tháng 8 nhuận, giờ Sửu. Lá số này nếu dời tháng nhuận sang tháng sau (tháng 9) thì chuẩn, nếu tính theo tháng 8 thì không chuẩn, vì theo cách tính tháng 9 thì bệnh nằm ở kinh thận, theo cách tính tháng 8 thì bệnh nằm ở kinh gan. Ông nhận xét đây chính là công dụng của Tử Vi Đẩu Số, đáng để người đọc bỏ công nghiên cứu. Người này 28 tuổi, cuối tháng 7 năm Dân Quốc 73 đến xem mệnh. Điều khiến anh phiền não là đã 28 tuổi mà không mọc râu, da mịn, giọng mang âm nữ, thiếu đặc điểm nam tính. Khi đi nghĩa vụ, quân y cũng thấy có vấn đề, khám toàn thân thì thấy tinh trùng ít, e sau này không thể khiến vợ có thai. Anh rất tự ti trước phụ nữ, đã khám nhiều thầy Đông Tây y mà không hiệu quả; gần đây được người giới thiệu, đến xem mệnh và uống thuốc, đã thấy có kết quả. Ông giải thích rằng cung Tật Ách có Tham Lang cùng Hỏa Tinh, thận tạng có bệnh, nên đến 28 tuổi râu vẫn không mọc.
Ca 4: bàng quang không sức. Một cô gái sinh năm Dân Quốc 52, ngày 27 tháng 6, giờ Mão. Thiên Đồng ở Hợi ngồi cung Tật Ách gặp Đà La. Theo ông, Thiên Đồng thuộc thủy còn Hợi thuộc hỏa, thủy hỏa không dung nhau nên bàng quang viêm, bàng quang không sức, vì vậy phải đi tiểu luôn. Thiên Đồng gặp Đà La thì dễ béo, còn Đà La ngồi ở cung Tật Ách thì bệnh âm ỉ kéo dài, gân xương đau nhức, bệnh da.
Ca 5: Thái Tuế xung Liêm Sát, mổ cắt thận. Liêm Trinh Thất Sát gặp sát vốn là tổ hợp rất bất tường; cổ thư gọi là "nằm chết giữa đường", chỉ năm Bính khi Liêm Trinh hóa Kỵ thì đặc biệt phải coi chừng tai nạn xe. Nhưng nếu gặp Thái Tuế xung thì tình huống ra sao? Ông Giáp sinh năm Dân Quốc 35, ngày 6 tháng 6, giờ Thìn. Mệnh tọa Mão, có Tử Vi, Tham Lang, Địa Kiếp, nên người này duyên với tôn giáo rất sâu, về già nên dâng mình cho tôn giáo; Thái Dương lạc hãm ở Tý nên là mệnh lao lực; cung Tài Bạch có Vũ Khúc, Phá Quân, Thiên Khôi, Thiên Hỷ nên tiền đến rồi tiền đi. Điểm đáng nghiên cứu là năm Dân Quốc 68, ông 34 tuổi (tuổi mụ), Thái Tuế ở Mùi xung vào Liêm Trinh, Thất Sát, Linh Tinh, Địa Không. Năm ấy ông bị hai chân nhức mỏi, đến bác sĩ khám thì thấy thận có bệnh, phải mổ cắt bỏ một quả. Theo nghiên cứu của ông, nếu năm ấy không mổ cắt thận thì sự nghiệp sẽ gặp một phen trắc trở, không tránh được phá tài; nay lấy cuộc mổ thay thế nên tránh được phá tài. Ông cũng nhắc người này ở tuổi 48 vẫn phải cẩn thận, e phá tài.
Ông nói nhiều người chưa phân biệt rõ Thái Tuế với tiểu hạn, nên lấy ví dụ này để giải thích: năm ấy Thái Tuế ở Mùi, các sao ở đó không tốt, không phá tài thì cũng đao thương. Kình Dương cùng Địa Không thì phá tài; Linh Tinh cùng Địa Không thì tai họa đao thương. Ông còn dặn ông Giáp rằng đến năm 50 tuổi phải đề phòng quan phi.
Ca 6: cung Tử Nữ có sát, đời sống chăn gối không trọn vẹn. Bà Giáp sinh năm Dân Quốc 38, ngày 10 tháng 8, giờ Thìn. Mệnh tọa Tỵ, tính hay soi mói, tham nhỏ mất lớn. Có Đà La tọa Mệnh, nữ mệnh hay làm bộ làm tịch. May có Thiên Tướng, Thiên Phủ từ tam phương chầu về nên cả đời cơm áo không thiếu. Cung Phu Thê có Vũ Khúc, Thất Sát, Địa Kiếp, Hữu Bật, nên tình cảm vợ chồng càng ngày càng lạnh nhạt; người chồng sẵn lòng trả sáu trăm vạn đồng để xin ly hôn mà bà không chịu, giữ chặt chồng. Cung Tử Nữ có Thiên Đồng, Thiên Lương, Linh Tinh, Hồng Loan nên con cái rất phóng đãng; sau khi lấy chồng bà không hề cảm nhận được sự thỏa mãn trong chuyện vợ chồng; con cái lại nhiều bệnh. Cung Phúc Đức có Tử Vi, Phá Quân, Hỏa Tinh, Địa Không, Kình Dương nên bà rất lo toan, nhọc lòng. Bà từng bị một thầy giả ở Cao Hùng lừa, xưng là đổi vận giúp, mất hơn bốn mươi vạn đồng.
Ca 7: bé gái yểu mệnh. Một bà mẹ năm Dân Quốc 66, ngày 10 tháng 9, giờ Tuất sinh một bé gái; sinh ra được hơn ba giờ thì mất. Ông nhận xét rằng mệnh yểu như vậy ắt là cung Tử Nữ của cha mẹ có sát, nhưng tiếc rằng ông không có được bát tự của cha mẹ để đối chứng. Ông xin nêu ra để người có chí nghiên cứu tham khảo.
Hình khắc là gì: những dấu hiệu đầu tiên trên lá số
Bệnh tật chưa phải nỗi đau duy nhất, vì trong Tử Vi hình khắc người thân cũng đau chẳng kém bệnh.
Ông giải thích chữ "khắc" là khi hai bên xung đột nhau thì ắt mất đi một bên. Ví dụ: anh em có khắc thì ắt chết anh hoặc chết em; vợ chồng có khắc thì người phối ngẫu ắt chết trước; cha mẹ có khắc thì cha mẹ không song toàn.
- Cung Huynh Đệ có Tử Vi, Thất Sát (ở Tỵ hoặc Hợi): anh em có khắc.
- Cung Huynh Đệ có Cự Môn gặp sát (kể cả Thiên Đồng Cự Môn ở Mùi, Sửu; Thiên Cơ Cự Môn ở Dậu, Mão): anh em ruột hại lẫn nhau.
- Cung Điền Trạch có Liêm Trinh, Thất Sát, Kình Dương (ở Mùi hoặc Sửu): sớm năm hình khắc lục thân; phá hết tổ nghiệp; chết vì tai nạn xe.
- Thái Âm cùng Kình Dương đồng cung, kể cả các tổ hợp Thiên Đồng Thái Âm, Thái Dương Thái Âm, Thiên Cơ Thái Âm: nam khắc vợ, nữ khắc chồng.
- Cung Phu Thê có Vũ Khúc, Phá Quân gặp lục sát (ở Tỵ hoặc Hợi): hôn nhân hai lần, hoặc chung chồng chung vợ với người khác; khắc phối ngẫu.
- Mệnh có Thiên Cơ, Thiên Lương bị Kình Dương chiếu: số này có hình khắc.
- Mệnh có Thái Dương (ở Dậu, Tý, Hợi): nữ mệnh là mệnh quả phụ; sớm năm cần cù, sau trung niên dễ sa vào cờ bạc hoặc thói xấu khác; nếu cung Tật Ách lại có sát thì thân thể có thương tàn.
Ông còn đặt câu hỏi: làm sao biết người này cô quả? Ông trả lời rằng hễ Vũ Khúc đồng cung với Kình Dương (như Vũ Khúc Thiên Phủ Kình Dương, Vũ Khúc Tham Lang Kình Dương, Vũ Khúc Thất Sát Kình Dương), thì một là vì tiền mà bị cướp hoặc bị đao, hai là hình khắc rất nặng, nam khắc vợ, nữ khắc chồng.
Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số dự trắc tật bệnh (bản chữ Hán, Hương Cảng)
