Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Đoán con trai con gái và số con qua cung Tử

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202616 phút đọc4 lượt đọc
Đoán con trai con gái và số con qua cung Tử

Ngày xưa, nhà nào đông con, nhất là đông con trai, được coi là có phúc lộc lớn, còn người đàn bà không con thì bị chê, thậm chí bị nguyền rủa. Khoa Tử Vi mang theo cả nỗi mong mỏi ấy, và dám đoán trai hay gái ngay từ lúc thụ thai. Nhưng nếu cung Tử chỉ hé được một nửa câu trả lời thì nửa còn lại nằm ở đâu…


Cách tử tức qua các cung

Xem con cái cần xem cả hai lá số của chồng và vợ. Thông thường lá số người vợ xác tín hơn, tuy vẫn được bổ túc bởi lá số người chồng.

Trong các cung, chỉ có cung Tử là cung biểu lộ tình trạng con cái. Cung Phúc, cung Mệnh, cung Thân chỉ có giá trị bổ túc.

Cung Tử

Trong cung này, người ta thấy được số lượng các con, số trai so với số gái, tư cách con chính thức hay con tư sinh, tình trạng và kiếp số vài đứa con đặc biệt, hạnh phúc giữa cha mẹ và con cái, thời gian tổng quát sinh con, đời sống sinh lý của cha mẹ, vấn đề trai gái đầu lòng…

Khoa Tử Vi muốn bao gồm rất nhiều điểm trong cung Tử. Chính vì vậy nên khoa Tử Vi không mô tả được các điểm đó một cách chi tiết và chính xác. Hầu hết các khía cạnh trên chỉ thể hiện một cách tổng quát.

Cung Phúc

Về mặt tử tức, cung Phúc chỉ dòng giống, tình trạng đông con hay hiếm con của gia tộc, của huyết thống, vận mệnh chung của họ hàng. Vì vậy, cung Phúc lúc bổ túc và soi sáng thêm nhiều khía cạnh của cung Tử.

Đặc biệt cung Phúc tốt có thể bù chế ít nhiều bất lợi của một cung Tử xấu. Duy điểm này cần được cứu xét một cách dè dặt vì từ cung Phúc đến cung Tử, gia tộc phải trải qua ba đời: ông bà, cha mẹ rồi đời mình. Nếu có sự di truyền nào đó thì sự di truyền ấy không chắc kéo dài lâu như vậy.

Cung Mệnh, cung Thân

Hai cung này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cung Tử nhiều hơn cung Phúc. Sao tốt ở hai cung này có thể có giá trị tử tức ít nhiều. Tuy nhiên, vì ý nghĩa đa diện của các tinh, cái tốt do các tinh mang lại có khi không mấy liên hệ đến tử tức, trừ khi các tài tinh. Vân tinh đặc biệt phong phú.

Cung Nô

Về phương diện tử tức, cung Nô chỉ tình trạng con ngoại hôn khả hữu, từ đó giúp ta nhận định chính xác hơn tình trạng tuyệt tự hay hiếm muộn ở cung Tử.

Chính vì vấn đề con cái còn thể hiện ở cung Nô cho nên ta cần chính danh chữ con cái để tránh ngộ nhận. Danh từ con cái chỉ tất cả các loại con, dù chính thức hay ngoại hôn, do vợ chồng ăn ở với nhau mà có hoặc do cuộc sống ngoại tình sinh ra. Chữ con cái ở đây được hiểu theo phương diện huyết thống: đó là kết quả của sự giao hợp nam nữ, dù là nam nữ thành vợ chồng chính thức hay chỉ là nhân tình thuần túy. Khi nói về con cái ở đây, ta không nên bận tâm đến khía cạnh đạo đức hay pháp lý mà chỉ nhìn trên phương diện thực tế mà thôi.

Cách tử tức qua các sao

Cung nói cho ta biết con cái nằm ở đâu, còn sao mới nói con cái đông hay thưa, nuôi được hay khó nuôi.

Các chính tinh ở cung Tử

Nếu xét chính tinh một cách riêng rẽ, thì có thể nói hầu hết chính tinh đắc địa trở lên đều có nghĩa là có con. Vì vậy, ta chỉ cần ghi nhận những chính tinh ngoại lệ, nói lên tình trạng hiếm muộn mà thôi.

  • Vũ khúc, Thất sát
  • Vũ khúc, Thiên tướng
  • Thất sát, Thìn, Tuất, Tý, Ngọ
  • Thất sát, Liêm trinh
  • Tham lang ở Tý, Ngọ
  • Phá quân
  • Phá quân, Liêm trinh
  • Thiên đồng ở Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi
  • Thiên đồng, Thái âm ở Ngọ

Kỳ dư các sao khác, dù đơn thủ hay đi kèm với chính tinh khác, đôi khi hãm địa cũng vẫn có nghĩa là có con.

Các phụ tinh

Ở đây ta chỉ kể những phụ tinh có ý nghĩa tử tức một cách trực tiếp, không kể các phụ tinh chỉ đức tính, số kiếp, tài năng của các con.

Thai. Sao này chỉ sự giao hợp nam nữ đồng thời cũng chỉ kết quả của hành vi đó, cụ thể là bào thai hay sự thụ thai, hài nhi còn trong bụng mẹ. Có sao này ở Mệnh, Thân, Tử thì khỏi lo tuyệt tự. Dù sao cũng cần lưu ý rằng sao Thai chỉ khả năng có con, không hẳn có nghĩa là nuôi được đứa con đó.

Mộc dục. Sao này cũng chỉ sự thụ thai và sinh nở nhiều, ý nghĩa rõ rệt hơn sao Thai.

Long trì, Phượng các, Thanh long. Cả ba sao này chỉ có con và sinh nở được vuông tròn. Con sinh ra lại đẹp đẽ tĩnh ngộ.

Tràng sinh, Đế vượng. Ở cung Tử, hai sao này chỉ sự phong phú, tức là có nhiều con, cụ thể là có nhiều trai.

Ngoài ra, có một số sao khác có ý nghĩa tử tức một cách gián tiếp hơn, chỉ sự may mắn, sự sớm con nói chung. Đó là:

  • Nguyệt đức, Thiên đức
  • Long đức, Phúc đức
  • Thiên quan, Thiên phúc
  • Tả phù, Hữu bật
  • Dưỡng
  • Thiên hỷ, Hỷ thần
  • Thiên mã, Tràng sinh
  • Thanh long, Lưu hà

Tuy nhiên cần lưu ý rằng các sao này chỉ xác nhận thêm triển vọng sinh nở suôn sẻ, vuông tròn khi nào đi chung với sao chỉ tử tức kể trên mà thôi.

Cách sinh trai, sinh gái

Trước khi đứa trẻ chào đời, lá số đã kịp nói trai hay gái, và nói cả chuyện đứa nào ra trước.

Khoa Tử Vi đặt ra hai loại sao Nam đẩu và Bắc đẩu để phân biệt trai, gái, trai nhiều hay gái nhiều. Nhờ đó, khoa Tử Vi giúp các cặp vợ chồng giải tỏa ngay mối ưu tư về trai, gái của hài nhi, ngay từ lúc thụ thai, chớ không phải đợi đến lúc sinh. Có lẽ cũng vì vậy mà Tử Vi cũng làm nản lòng trước những ai muốn sinh trai mà lá số lại báo hiệu con gái hay ngược lại. Trong việc tính trai, gái khoa Tử Vi tỏ ra táo bạo và khẳng định hơn y học.

Vấn đề trai nhiều hay gái nhiều trong số con

Khi nào cung Tử có sao Nam đẩu tọa thủ thì có con trai nhiều hơn con gái. Có 7 sao Nam đẩu:

  • Thiên phủ
  • Thiên tướng
  • Thiên cơ
  • Thiên lương
  • Thiên đồng
  • Thái dương
  • Thất sát

Khi nào cung Tử có sao Bắc đẩu tọa thủ thì có con gái nhiều hơn con trai. Có 6 sao Bắc đẩu:

  • Cự môn
  • Thái âm
  • Liêm trinh
  • Tham lang
  • Vũ khúc
  • Phá quân

Trong trường hợp cung Tử có cả Nam, Bắc đẩu đồng cung thì căn cứ vào âm dương tính của cung Tử mà xét. Nếu cung Tử ở dương thì con trai nhiều hơn, ở âm cung thì gái nhiều hơn.

Riêng sao Tử Vi vừa là Nam đẩu, vừa là Bắc đẩu thì gái nhiều hơn. Nếu Tử Vi đơn thủ ở dương cung thì trai nhiều. Không có trường hợp Tử Vi đứng riêng rẽ ở âm cung.

Trong trường hợp cung Tử vô chính diệu, bấy giờ cứ vào chính tinh xung chiếu để tính: Nam đẩu là trai, Bắc đẩu là gái. Nếu có cả Nam, Bắc đẩu đồng cung xung chiếu vào cung Tử thì tùy theo cung Tử là dương thì trai nhiều, âm là gái nhiều.

Vấn đề tiên đoán sinh trai, gái vào năm sinh nở

Muốn đoán trai gái vào năm nào phải căn cứ vào cung tiểu hạn của năm sinh nở.

Nếu năm sinh nở rơi nhằm cung có Nam đẩu thì sinh trai, có Bắc đẩu thì sinh gái. Nếu có cả Nam Bắc đẩu đồng cung thì căn cứ vào dương cung của năm sinh nở để đoán trai, vào âm cung để đoán gái.

Nếu năm sinh nở rơi nhằm cung vô chính diệu thì dựa theo trường hợp vô chính diệu ở đoạn trên mà tính.

Tuần, Triệt và vấn đề trai gái

Trong mọi trường hợp cung của năm sinh nở gặp Tuần hay Triệt hoặc Tuần, Triệt đồng cung thì mọi kết luận phải đảo ngược: gặp Nam đẩu là gái, gặp Bắc đẩu là trai. Sách vở không nói đến trường hợp cung tiểu hạn vô chính diệu gặp Tuần, Triệt trấn đóng. Nhưng theo thiển nghĩ, cũng phải kết luận đảo ngược.

Sách vở cũng không thấy nói đến trường hợp cung Tử có Tuần, Triệt. Thiết tưởng, kết luận có lẽ cũng phải đảo ngược.

Dù sao cần phải có nhiều trường hợp thực tế kiểm chứng các lời tiên đoán và các nghi vấn này.

Để dễ tham chiếu, xin lập hai bảng liệt kê sau đây:

Đặc điểm cung TửKết luận
Nam đẩu đơn thủ
Nam, Bắc đẩu đồng cung ở cung Dương
Vô chính diệu, được Nam đẩu xung chiếu
Vô chính diệu được Nam đẩu xung chiếu vào cung Dương
Trai nhiều, nếu cung Tử không có Tuần, Triệt.
Gái nhiều, nếu cung Tử bị Tuần, Triệt án ngữ.
Bắc đẩu đơn thủ
Nam, Bắc đẩu đồng cung ở cung Âm
Vô chính diệu, được Bắc đẩu xung chiếu
Vô chính diệu được Nam, Bắc đẩu xung chiếu vào cung Âm
Gái nhiều, nếu cung Tử không có Tuần, Triệt.
Trai nhiều, nếu cung Tử bị Tuần, Triệt án ngữ.

Bảng này chỉ trường hợp trai nhiều hay gái nhiều trong cung Tử. Muốn biết năm nào sinh trai hoặc sinh gái thì xem bảng liệt kê thứ hai dưới đây:

Đặc điểm cung năm sinh nởKết luận
Nam đẩu đơn thủ
Nam, Bắc đẩu đồng cung ở cung Dương
Vô chính diệu, được Nam đẩu xung chiếu
Vô chính diệu được Nam đẩu xung chiếu vào cung Dương
Trai, nếu cung của năm sinh nở không có Tuần, Triệt.
Gái, nếu cung của năm sinh nở có Tuần, Triệt án ngữ.
Bắc đẩu đơn thủ
Nam, Bắc đẩu đồng cung ở cung Âm
Vô chính diệu, được Bắc đẩu xung chiếu
Vô chính diệu được Nam, Bắc đẩu xung chiếu vào cung Âm
Gái, nếu cung của năm sinh nở không có Tuần, Triệt.
Trai, nếu cung của năm sinh nở có Tuần, Triệt.

Vấn đề trai hay gái đầu lòng

Theo tác giả Song An Đỗ Văn Lưu, trong quyển Tử Vi chỉ nam, nếu cung Tử có Nam đẩu thì sinh con trai trước, nếu có Bắc đẩu thì sinh con gái trước.

Tác giả Thái Thứ Lang có thêm rằng nếu từ cung Tử biết con đầu lòng là trai mà đến năm sinh nở lại sinh gái thì phải đoán rằng sinh gái đầu lòng khó nuôi, còn sinh trai thì dễ nuôi. Ngược lại, nếu cung Tử cho biết con gái đầu lòng mà vào hạn sinh nở lại gặp trai thì khó nuôi.

Thông thường, người ta lấy số người mẹ làm tiêu chuẩn, số người cha chỉ dùng để bổ túc. Nếu gặp mâu thuẫn, thường chỉ cần căn cứ vào lá số người mẹ.

Số lượng các con

Khoa Tử Vi cũng dám đếm con, dù người xưa hiếm khi đếm được trọn vẹn.

Khoa Tử Vi đã hiếu kỳ dùng sao để ước lượng số con. Số con ở đây được hiểu là con chính thức, tức là không kể số con có với vợ lẽ, nhân tình.

Các sao đông con

Sách vở về Tử Vi chỉ kể có hai loại sao gọi là đông con. Đó là Tràng sinh: 8 con và Đế vượng: 7 con.

Không thấy sao nào kể quá 8 con.

Những sao hay bộ sao 5 con được sách vở liệt kê gồm có:

  • Tử Vi ở Ngọ
  • Tử, Phủ đồng cung
  • Thiên phủ ở Tỵ, Hợi
  • Thái dương, Thái âm sáng sủa
  • Thái dương, Thái âm đồng cung
  • Thái dương, Thiên lương ở Mão
  • Thiên lương ở Tỵ, Ngọ
  • Thiên đồng, Thái âm ở Tý
  • Thiên đồng, Thiên lương ở Dần
  • Thiên cơ, Thiên lương đồng cung
  • Thiên cơ, Thái âm ở Ấm
  • Cự môn ở Hợi, Tý, Ngọ

Các sao có số con trung bình

Số lượng trung bình được kể ra là từ 3 đến 5 con.

  • Tử Vi ở Tý
  • Liêm trinh, Thiên phủ đồng cung
  • Thiên phủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu
  • Thiên ở Mão
  • Cự môn, Thái dương ở Dần, Thân
  • Thiên tướng ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi
  • Thái dương, Thiên lương ở Dậu
  • Thái dương hay Thái âm hay Thái âm hãm
  • Thái âm, Thiên cơ ở Dần
  • Tham lang ở Thìn, Tuất
  • Thiên lương ở Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi
  • Cự môn, Thiên đồng đồng cung
  • Thất sát ở Dần, Thân
  • Phá quân ở Tý, Ngọ
  • Tử Vi, Thất sát đồng cung
  • Quan đới, Lâm quan, Dưỡng
  • Tả phù, Hữu bật

Các sao ít con, làm giảm số con

Ít con được kể như có hai người con hay một người, bao gồm các sao hay bộ sao còn lại, ngoại trừ các sao kể trong cách hiếm muộn.

Trong số các sao làm giảm số con đặc biệt có sao Lộc tồn làm giảm đi hai con.

Tuần hay Triệt gặp chính tinh sáng sủa, sẽ làm giảm một nửa số con.

Trên đây chỉ là số lượng con phỏng chừng, không có giá trị chính xác tuyệt đối.

Trên thực tế, vì có sự phối hợp giữa sao tốt và sao xấu trong cung Tử cho nên việc luận đoán cũng phải linh động.

Ngoài ra, cũng cần quan tâm rằng số lượng con, dù đã được giải đoán một cách linh động, vẫn còn phải tùy thuộc vào hoàn cảnh gia đình mỗi vợ chồng cũng như môi trường sinh hoạt là việc áp dụng hay không áp dụng được các biện pháp ngừa thai trở thành rất phổ biến, khiến cho việc luận đoán số con bị sai lạc nhiều, đặc biệt là đối với các gia đình có điều kiện áp dụng những phương pháp này.

Việc ước đoán số con trong cung Tử Tức có lẽ chỉ đúng đối với các gia đình nông thôn Việt Nam, nơi mà khoa học sản dục và việc kế hoạch hóa gia đình chưa có ảnh hưởng.

Cách sinh đôi và sự tương hợp với cha mẹ

Có những đứa trẻ giống cha, có những đứa giống mẹ, và có khi cả hai đứa cùng đến một lúc.

Cung Tử và cung hạn của năm sinh nở là hai nơi dùng để ước đoán vấn đề sinh đôi. Dù sao, bởi lẽ trường hợp này hiếm có nên cũng cần xét đoán dè dặt.

Những bộ sao có ý nghĩa sinh đôi khá chắc chắn gồm có:

  • Thai, Nhật, Nguyệt đồng cung
  • Nhật, Nguyệt ở Tử giáp sao Thai
  • Thai, Tả, Hữu đồng cung

Những bộ sao dưới đây không chắc chắn lắm, duy cần ghi nhận để nhớ:

  • Thái dương, Thiên hỷ
  • Thái âm, Thiên phúc
  • Hỷ thần, Tuyệt đồng cung
  • Thiên mã, Tả, Hữu, Địa không đồng cung

Vấn đề tương hợp, tương khắc với cha mẹ

Vấn đề con cái hợp tính với cha mẹ được khoa Tử Vi nói đến trong quan niệm “truyền tinh”. Hiểu theo nghĩa đen. Đó là sự di truyền tinh tú từ lá số cha, mẹ vào lá số đứa con. Hiểu theo nghĩa bóng thì truyền tinh là có tương ứng về mặt tính tình giữa đứa con với cha hoặc mẹ.

Để biết có truyền tinh hay không, người ta coi xem có sự trùng sao hay không giữa cung Mệnh của lá số đứa con với cung Mệnh hay cung Tử của lá số cha hoặc mẹ. Nếu gặp chính tinh giống nhau thì gọi là có truyền tinh. Nếu chính tinh không giống nhau thì gọi là bất truyền tinh. Ví dụ cung Mệnh đứa con có Thái dương trong khi cung Mệnh hay cung Tử của lá số người cha (hoặc người mẹ) cũng có Thái dương thì bấy giờ gọi là có truyền tinh. Nếu truyền tinh với cha thì hợp tính với cha hơn mẹ. Nếu truyền tinh với mẹ thì hợp tính với mẹ hơn cha. Nếu truyền tinh với cha lẫn mẹ thì cùng hợp tính với hai người. Trong trường hợp không có truyền tinh thì sẽ không hợp với cha lẫn mẹ.

Có người luận giải xa để cho rằng mỗi lần có truyền tinh với ai thì người ấy nhờ được đứa con đó.

Có quan điểm cho rằng, truyền tinh dựa vào sự trùng sao là một đòi hỏi quá chặt chẽ, do đó không chắc đúng trong nhiều trường hợp. Quan điểm trên cho rằng chỉ cần trùng cách cũng được, không cần gì phải trùng sao. Điều đó có nghĩa là trong cung Mệnh đứa con và trong cung Mệnh hay cung Tử của lá số người cha hay người mẹ có cách giống nhau. Ví dụ như cùng cách Tử, Phủ, Vũ, Tướng hay Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hay Sát, Phá, Liêm, Tham hay Cự, Nhật, hay Nhật, Nguyệt, bất luận thế bố trí giữa các sao trong cách tạo ra sao cũng được. Quan điểm này mở rộng vấn đề tương hợp khá xa, không rõ có được chứng nghiệm hay không. Duy cũng cần ghi để nhớ và đặt vấn đề suy nghiệm.

Có quan điểm thứ ba dựa vào ngũ hành giữa các Bản Mệnh. Nếu Bản Mệnh đứa con có hành tương sinh với Bản Mệnh của cha hoặc của mẹ thì gọi là tương hợp. Nếu đối khắc thì tương khắc. Bản Mệnh nào được sinh thì đắc lợi, bị khắc thì xấu. Ví dụ Bản Mệnh của con là Thủy sẽ tương hợp với Bản Mệnh Thủy, Kim, Mộc của cha hoặc mẹ, sẽ tương khắc với Bản Mệnh Hỏa, Thổ của cha hay mẹ. Quan điểm này xét ra khả chấp và có thể dùng làm yếu tố đánh giá bổ túc vấn đề truyền tinh. Nếu vừa có truyền tinh, vừa thuận hành giữa hai Bản Mệnh thì càng đẹp. Nếu có truyền tinh mà khắc hành hoặc là bất truyền tinh và khắc hành (nhất là đứa con bị khắc) lại càng xấu cho đứa trẻ.

Đây là xét vấn đề tương hợp, tương khắc giữa cha hay mẹ với một đứa con nhất định. Còn xét hòa khí giữa cha mẹ và con cái nói chung thì phải xét cung Tử của lá số cha mẹ. Nhưng vấn đề này vì có tính cách tổng quát nên giá trị mơ hồ.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề