Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Hai quan niệm về lá số tốt và hạnh phúc con người

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn30/09/202615 phút đọc1 lượt đọc
Hai quan niệm về lá số tốt và hạnh phúc con người

Một lá số tốt phải suông sẻ từ đầu đến cuối, hay chỉ cần vượt qua nghịch cảnh mà vẫn thành công? Khoa Tử Vi chấp nhận cả hai quan niệm cùng lúc, rồi đặt ra ba điều kiện cho hạnh phúc con người: cho chính mình, cho thời thế, và cho…


Suy luận, trực giác và kinh nghiệm khi giải đoán

Suy luận

Năng khiếu này rất cần thiết cho việc giải đoán lá số Tử-Vi. Vì có nhiều yếu tố can dự, vì mỗi yếu tố vốn phức tạp, lại chịu sự chi phối càng phức tạp hơn của yếu tố khác cho nên người giải đoán phải dùng đến suy luận để cân nhắc, gia giảm, phê phán.

Vậy, họ phải có óc phân tích (sens analytique), óc tổng hợp (sens synthétique), óc phê bình (sens critique) để đạt đến một sự phê phán hợp lý (jugement logique), sự đánh giá thích nghi các yếu tố (évaluation adéquate des facteurs) và một sự trình bày kiến giải đúng tầm mức (présentation des appréciations à leur juste valeur).

Hai điều kiện trí nhớ và suy luận thiết tưởng có thể xem là tạm đủ. Nhưng, muốn tinh vi hơn, có thể thêm vài điều kiện bổ túc khác.

Trực giác

Trực giác là sự hiểu biết trực tiếp một sự việc mà không cần đến sự suy luận của lý trí. Phải công nhận rằng trực giác không mấy cần thiết cho việc giải đoán vì khi cân nhắc, người ta dùng đến suy luận hơn là trực giác. Tuy nhiên, trong con người, rất khó phân biệt đến đâu là suy luận, đến đâu là bắt đầu lãnh vực trực giác. Lúc suy luận vô tình ta phải dùng trực giác mà không hay. Cho nên, trực giác cũng giúp đỡ cho sự khám phá không nhỏ, đặc biệt là trước những cái gút có thể giải bằng cả hai hướng suy luận. Bấy giờ ta sử dụng trực giác. Tuy nhiên, lúc đó ta dễ gánh bất trắc (risques) của sự sai lầm khi chọn lựa một hướng đoán nào đó bằng trực giác. Nếu trực giác linh diệu, hướng đoán có thể chính xác. Bằng không vẫn có thể sai lầm.

Kinh nghiệm

Đây có thể là điều kiện quan trọng nhất, đặc biệt cho tiêu chuẩn chính xác của lời giải. Bao giờ người đi xem cũng đòi hỏi sự chính xác. Nếu thiếu kinh nghiệm thì sẽ thiếu hoặc ít chính xác.

Kinh nghiệm có thể thủ đắc bằng sự thực tập (pratique) giải đoán nhiều lá số, của nhiều hạng người, thuộc nhiều giai cấp, thuộc nhiều hoàn cảnh, thuộc nhiều nghề nghiệp. Nhờ đó, tác giả có thể gặp nhiều trường hợp tương tự hay tương phản để có thêm yếu tố cân nhắc, so sánh, lượng định, phẩm định đúng tầm mức của sự việc. Kinh nghiệm là kho tàng kiến thức rất quý, không có gì thay thế nó được.

Kinh nghiệm cũng có thể thủ đắc qua thời gian, với tuổi tác, qua sự quan sát thực tế, tóm lại qua thời gian sống của người giải đoán, sống bằng kinh nghiệm bản thân và sống bằng trường hợp của các thân chủ.

Tuy nhiên, người giàu kinh nghiệm thường vấp phải khuyết điểm, cực đoan, tự cho mình vô lỗi (infaillible), có xu hướng cả quyết, xác định hoặc phủ định, không phân biệt luật chung và qui tắc riêng, ít chấp nhận ngoại lệ của kinh nghiệm.

Nói đến kinh nghiệm là nói chung, chớ trên thực tế có rất nhiều trình độ kinh nghiệm, cũng như có rất nhiều loại kinh nghiệm (loại kinh nghiệm lý thuyết, loại thực hành). Dù sao kinh nghiệm vẫn là lợi khí tối cần để giải đoán Tử-Vi.

Lá số tối hảo, lá số trung bình, lá số cực xấu

Trí nhớ, suy luận, trực giác, kinh nghiệm là hành trang của người giải đoán. Còn bản thân lá số thì sao — thế nào mới thật sự là một lá số tốt?

Lá số tối hảo là lá số hoàn toàn tốt. Cái tốt này được quan niệm theo hai cách.

Quan niệm thứ nhất cho rằng lá số tốt phải suông sẻ từ đầu đến cuối, tương thuận về âm dương ngũ hành, tương thuận về cung cách và sao. Mệnh số tốt phải tránh được nghịch cảnh, phải gặp hên may đến lúc già, trong các lãnh vực chủ yếu của người đời. Con người tốt số tự nhiên được hưởng hạnh phúc toàn vẹn, toàn diện và lâu dài, không phải đấu tranh chật vật, không gặp tai họa, chức quyền cao, tiền bạc nhiều, thụ hưởng được lâu.

Quan niệm thứ hai cho rằng lá số như trên là trường hợp vô cùng hãn hữu, có thể xem như một biệt lệ hiếm hoi hầu như chỉ dành cho cao cường vị vua chúa trong thời thịnh trị. Như thế là tốt số đặc biệt, không phải là tốt số thông thường. Quan niệm này cho rằng mệnh số tốt chỉ cần thành đạt, con người tốt số chỉ cần thành nhân và thành công, và nếu phải đấu tranh chật vật với nhiều nghịch cảnh, mà vẫn lướt qua được, thì vẫn tốt. Mệnh số tốt khắc phục nghịch cảnh, không bắt buộc luôn luôn phải có thuận cảnh, phải có hên may.

Hai lối nhận định này phản ảnh 2 quan niệm thành công, một quan niệm lý tưởng cho rằng thành công nhờ thiên phúc, một quan niệm thực tế cho rằng thành công nhờ nhân định. Theo chỗ phán đoán riêng thì khoa Tử-Vi không theo hẳn một quan niệm nào. Tử-Vi chấp nhận cả 2 quan niệm cùng một lúc, không chối bỏ thiên phúc, cũng không coi nhẹ nhân định, dung hòa cái tốt của thiên phúc với cái tốt của nhân định. Quan niệm của Tử-Vi về lá số tốt rất thực tiễn. Vừa đòi hỏi thuận cảnh, vừa đòi hỏi sự thành công trong nghịch cảnh. Chiều hướng nào cũng được xem là tốt. Khoa Tử-Vi dùng để coi tất cả mọi người, không phân biệt riêng ai, không dành riêng cho một giai cấp nào. Khoa này thấm nhuần tinh thần nhân bản đại đồng, không phân biệt cá nhân. Đối dụng của Tử-Vi là đối dụng toàn thể, không phải là đối dụng chọn lọc. Tử-Vi xem con người và cuộc đời bằng đôi mắt khách quan, nhìn cái tốt, nhìn cả cái xấu, thấy cả hai bề. Khoa Tử-Vi chỉ là một tấm gương phản chiếu con người và đời người, chớ không phê bình cá tính hay kiếp số của ai cả. Khoa này có đặt để ra nhiều cách tốt, đồng thời với nhiều hung tinh. Số lượng sao tốt và sao xấu xét ra cũng tương đồng. Khoa Tử-Vi không bi quan mà cũng không lạc quan, vì thế có thể xem xét cho tất cả mọi người, không phân biệt giai cấp, giàu nghèo, sang hèn, nam nữ…

Hơn nữa, trong nhãn quan Tử-Vi, ta nhận thấy được cái lý tương đối của cuộc đời. Việc đặt để sao tốt và sao xấu cho thấy đời người có hay có dở đi liền nhau, có may có rủi trong một thân phận, có thuận cảnh có nghịch cảnh trong một tình trạng, bất luận tình trạng đó của cá nhân nào. Số một vì vua có những ưu điểm nhưng cũng không mất nhược điểm. Số một kẻ nghèo có điểm bất lợi nhưng cũng có lợi điểm trên một phương diện nào đó. Một cá tính tự nó không tốt, không xấu mà chỉ tốt, xấu tùy chỗ dụng. Một hoàn cảnh tự nó không hay, không dở mà hay, dở tùy theo người biết vận dụng hoặc không biết vận dụng. Một vì sao tự nó không đẹp, không xấu mà chỉ đẹp xấu trong môi trường cụ thể nào đó. Tử-Vi vì thế tương đối theo cá tính, theo hoàn cảnh.

Tuy nhiên, vì nhu cầu giải đoán, ta phải phân biệt những lá số tốt, lá số xấu và lá số trung bình. Sự tốt xấu này cũng tương đối, vì tùy theo quan niệm hạnh phúc nhân sinh của khoa Tử-Vi. Vì lý do đó cho nên ta cần xét trước tiên nội dung của hạnh phúc thập toàn mà khoa Tử-Vi quan niệm.

Những điều kiện của hạnh phúc nhân sinh

Các sách vở Tử-Vi đã có không hề mô tả hạnh phúc của con người. Cái hạnh phúc được đề cập ở đây được suy diễn từ những chi tiết rải rác nhận thấy qua cách định danh, cách bố trí, cách phối chiếu các cuộc đời, sự hiện diện và ý nghĩa các sao tốt cũng như xấu. Hệ thống hóa các chi tiết này, ta thấy khoa Tử-Vi đặt ra 3 điều kiện cần thiết và đầy đủ cho một hạnh phúc tối hảo: điều kiện đặt cho chính mình, điều kiện đặt cho hoàn cảnh, và điều kiện đặt cho người khác.

Những điều kiện đặt cho chính mình

Hạnh phúc con người trước hết tuỳ thuộc phần nhân định của mỗi cá nhân. Đây có thể gọi là điều kiện thành phần.

Điều kiện đầu tiên là phải thuần cách. Nam giới phải ra nam giới, nữ giới phải ra nữ giới. Nam giới mà có nữ tính thì bị phá cách. Ngược lại cũng thế.

Thứ hai là con người phải có những lợi điểm vật chất, tinh thần và đạo đức. Lợi điểm vật chất đòi hỏi sức khỏe để sống, để tranh đấu với nghịch cảnh, tránh được bệnh tật không bị suy nhược thể xác để khỏi trở thành gánh nặng của gia đình và của xã hội. Sức khỏe đó là điều kiện trường thọ, để mưu sinh ngõ hầu trở nên hữu dụng cho gia đình, cho xã hội. Về điểm này, một cung Tật tốt là một đòi hỏi bắt buộc.

Những lợi điểm tinh thần bao gồm ý chí mạnh (vofonté), sự thông minh (fntelablité). Nhờ đó, con người vừa không ngoan, vừa kiên nhẫn, vừa khéo léo, thích nghi được với nhiều hoàn cảnh khó khăn để đeo đuổi mục tiêu của mình.

Những lợi điểm đạo đức bao gồm niềm tin (croyance), sự hướng thiện (tendance au bien), tinh thần vị tha (altruisme). Nhờ đó, cá nhân có động lực tốt, biết ức chế trước các xu hướng nguy hiểm, sẵn sàng mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, không ích kỷ, không tham lam, dung hòa quyền lợi của mình với quyền lợi của kẻ khác.

Có được những tiêu chuẩn tinh thần, vật chất và đạo đức đó con người mới thành nhân, có điều kiện để hưởng phú, quí và thọ. Những tiêu chuẩn thành nhân này xét ra vừa phải, không quá tầm của đa số quần chúng, có tính cách thực tiễn và thế tục, không đến nỗi siêu phàm như thần thánh, cũng không quá thấp dưới mức trung bình. Ý niệm trung dung của Khổng học được áp dụng nơi các tiêu chuẩn này.

Những điều kiện đặt cho thời thế

Đây là yếu tố bên ngoài, liên quan đến hoàn cảnh sinh sống (facteur milieu) thông thường vượt quá khả năng cá nhân, ngoài tầm định đoạt của con người. Cung Thiên Di trong mỗi lá số chỉ cần có 2 điều kiện thuận lợi cho hạnh phúc cá nhân: đó là sự phùng thời và phùng việc.

Phùng thời là tương hợp với thời thế, ngụ ý rằng con người gặp được ngoại cảnh thích hợp với bản tính và chí hướng của mình, giúp cho người phát huy được hết tài năng, chế phục được nhiều nghịch cảnh. Khi phùng thời, hoàn cảnh không đè bẹp đương sự. Con người có thể thắng được hoàn cảnh và tạo thời thế thuận lợi cho mình. Ví bằng không tạo nổi thời thế, những tiêu chuẩn thành nhân vẫn giúp con người thích nghi được, sống được với môi sinh mà không đến nỗi bị lụn bại.

Phùng việc là gặp được nghề nghiệp hợp với sở trường, với bản tính, với khả năng. Con người tìm được hạnh phúc trong sự nghiệp, tạo được sự nghiệp lớn, phát triển được nhân cách trong khi xây dựng cuộc đời.

Trong yếu tố thời thế, ta thấy được những điều kiện của hạnh phúc xã hội và hạnh phúc nghề nghiệp.

Những điều kiện về nhân hòa

Sự thành công của người đời không những lệ thuộc vào hoàn cảnh mà còn được quyết định bởi yếu tố nhân sự (facteur autrui). Khoa Tử-Vi quan niệm con người thế tục, tức là sống với xã hội và phát triển trong và cùng với tập thể (l'homme se développe dans et avec la collectivité). Phải có sự quân bình thường giữa những gì con người mang cho tập thể và những gì tập thể cống hiến cho mình. Phải có sự trao đổi 2 chiều.

Riêng yếu tố nhân sự đòi hỏi con người có nhiều nhân sự trợ giúp, có nhân sự đắc lực trợ giúp, vừa được lòng người trên, vừa đắc nhân tâm kẻ dưới: đó là nhân hòa. Cá nhân khôn ngoan và biết giao tế sẽ được nhân hòa.

Những điều kiện về thời thế và về nhân sự giúp con người dễ thành công. Người thành nhân và thành công sẽ có được phú, quí và thọ theo tiêu chuẩn cao: đó là những điều kiện của hạnh phúc nhân sinh. Hạnh phúc này có thể diễn tả qua một trong hai phương trình:

THÀNH NHÂN + THÀNH CÔNG = HẠNH PHÚC
PHÚ + QUÍ + THỌ = HẠNH PHÚC

Những điều kiện của lá số tối hảo

Thành nhân, thành công, phùng thời, phùng việc, nhân hòa — đó là hạnh phúc nhìn từ phía con người. Còn nhìn từ chính lá số, một số tối hảo phải hội đủ bốn điểm: tốt Âm Dương Ngũ Hành, tốt cách, tốt cung, tốt sao.

Điều kiện tối hảo về âm dương, ngũ hành

Ta sẽ phân biệt những điểm tốt về âm dương và những điểm tốt về ngũ hành.

Những lợi điểm về Âm Dương

Nếu Âm Dương thuận lý thì tốt. Điều đó có nghĩa là trai thì hợp với dương tính, gái thì hợp với âm tính. Ví dụ như trai có tuổi Dương Nam bao gồm những tuổi Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm, nếu tính theo hàng can của năm sinh, hoặc là những tuổi Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất nếu tính theo hàng chi của năm sinh. Đối với con gái tuổi Âm Nữ bao gồm Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý tính theo can và Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu và Hợi tính theo chi. Thật ra, sự thuận lý này không mấy quan trọng vì nó quá nhỏ nhặt, không đủ để quyết định một chi tiết gì. Sự liệt kê chỉ để nhớ. Nó chỉ quan trọng đối với cung toạ Mệnh mà thôi.

Sự thuận lý chỉ lợi nếu Âm được tính của tuổi tương hợp với âm dương tinh của cung tọa Mệnh. Điều này có nghĩa là những tuổi Dương của trai hoặc gái có cung Mệnh nằm ở những cung Dương. Nói một cách khác, những tuổi Dương Nam, Dương Nữ có cung Mệnh đóng ở Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thì hợp vì đó là 6 cung dương của lá số. Còn những tuổi Âm Nam, Âm Nữ phải có Mệnh đóng ở 6 cung còn lại (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi) thì hợp. Đó là 2 trường hợp gọi là Âm Dương hòa hợp hay Âm Dương thuận lý. Nếu tuổi và cung an Mệnh là Dương cả thì gọi là Dương hòa. Đối với âm thì gọi là Âm hòa. Nói một cách tổng quát thì Dương hòa hay Âm hòa ngụ ý rằng đời người ít gặp cảnh khó, cảnh nghịch, bao hàm nhiều sự hên, may dễ chịu. Con người ít gặp va chạm, ít đấu tranh với nghịch cảnh. Nghịch cảnh vẫn có, nhưng không luỵ nhiều đến cá nhân. Vì Âm Dương là 2 nguyên lý căn bản của vũ trụ và của con người, cho nên âm dương thuận lý được nhiều người xem là một trong những lợi điểm căn bản của lá số: con người ăn khớp với vũ trụ, không đối chọi với vũ trụ về nguyên khí.

Đối với cung Thân cũng vậy. Cung này bao giờ cũng đồng âm, đồng dương tính với cung Mệnh, không hề có trái ngược. Cung Mệnh có Âm Dương hoà hợp thì cung Thân cũng có Âm Dương hoà hợp. Điểm này quan trọng ở chỗ là sự hòa hợp nếu đã có, thì kéo dài suốt đời, trong giai đoạn tiền vận, cũng như trong giai đoạn hậu vận. Đây là lợi điểm căn bản thứ hai.

Lợi điểm căn bản thứ ba là khi có hoà hợp với âm dương thì những cung cường còn lại như Phúc, Quan, Di, Tài, Phu Thê đều hưởng sự hòa hợp với tuổi. Vì vậy, sự thuận lý của Âm Dương lôi kéo theo nhiều lợi điểm đồng loạt, chẳng những suốt đời mà còn trên từng lãnh vực quan trọng của đời người.

Trường hợp lợi điểm Âm Dương khác thể hiện qua tương hợp giữa cung Mệnh, Thân với chính tinh ở Mệnh, Thân. Điểm này có nghĩa là nếu cung Dương (hay Âm) mà gặp được chính tinh thuộc Dương (hay Âm) thì càng hay thêm. Trong số 14 chính tinh của khoa Tử-Vi, có 6 dương tinh (Tử, Phủ, Tướng, Đồng, Nhật, Sát) và 8 âm tinh (Liêm, Tham, Cơ, Cự, Nguyệt, Lương, Vũ, Phá). Chính tinh loại nào đúng ở cung loại đó sẽ không bị đối khắc về Âm Dương, được làm cho sao vượng thêm.

Quy luật này cũng áp dụng cho các phụ tinh.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn