Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Hai quan niệm về bảng số cực tốt và điều kiện cho chính mình

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn28/09/202611 phút đọc2 lượt đọc
Hai quan niệm về bảng số cực tốt và điều kiện cho chính mình

Một bảng số tốt phải suôn sẻ từ đầu chí cuối, hay chỉ cần vượt qua được nghịch cảnh cũng đã là tốt? Hai câu trả lời khác nhau phản ánh hai quan niệm về thành công: một bên tin vào thiện phúc có sẵn, một bên tin vào nhân định của chính con người. Trước khi hình dung một cuộc đời cực tốt trông ra sao, cần trả lời câu hỏi ấy đã...


Khi phần thuật giải đoán đã khép lại, với đủ các tiêu chuẩn, các yếu tố phải xét, những sai lầm cần tránh và những phẩm chất người giải đoán phải có, cuốn sách chuyển sang một miền khác: tìm cho ra dáng dấp cụ thể của một lá số sao cung được coi là cực tốt, để từ đó suy được thế nào là trung bình và thế nào là cực xấu. Song trước khi hình dung nổi lá số cực tốt trông ra sao, ta phải giải đáp một câu hỏi gốc hơn: chữ "tốt" ở đây nên hiểu theo nghĩa nào? Câu hỏi ấy không thừa chút nào. Nếu chưa thống nhất với nhau về nghĩa của chữ "tốt", hai người cùng nhìn một lá số vẫn có thể rút ra hai kết luận đối nghịch, một người cho là tốt, người kia chỉ cho là tầm thường, mà không ai sai cả, vì mỗi người đang âm thầm dùng một thước đo riêng mà chính họ cũng không hay.

Hai cách hiểu về lá số cực tốt

Lá số sao cung cực tốt là lá số tốt trọn vẹn. Tuy vậy, các nhà Lý số học hình dung cái tốt ấy theo hai lối khác nhau. Theo lối thứ nhất, một lá số tốt phải xuôi chèo mát mái từ đầu chí cuối, hoàn toàn tương thuận về Âm Dương Ngũ Hành, về cung, về cách và về sao. Với lối này, Mệnh số tốt là Mệnh số tránh được nghịch cảnh, gặp may đến tận lúc tuổi già trong mọi lĩnh vực trọng yếu của đời người; kẻ có số ấy đương nhiên hưởng hạnh phúc đầy đủ, toàn diện, dài lâu, chẳng phải vật lộn nhọc nhằn, không gặp họa, chức quyền cao, tiền của nhiều, và thụ hưởng được lâu.

Lối thứ hai lại nhận xét rằng lá số như vậy hiếm có vô cùng, chẳng khác một ngoại lệ chỉ dành cho bậc đế vương sống trong buổi thái bình thịnh trị. Nó là số tốt đặc biệt, không phải số tốt theo nghĩa quen dùng. Theo lối này, Mệnh số tốt chỉ cần dẫn tới thành đạt; người tốt số chỉ cần đạt hai đích thành nhân và thành công; còn nếu phải nhọc nhằn chống chọi nhiều nghịch cảnh mà rốt cuộc vẫn vượt qua, thì vẫn xứng gọi là tốt. Nói cách khác, Mệnh số tốt là Mệnh số biết chế ngự nghịch cảnh, chứ không nhất thiết lúc nào cũng có sẵn thuận cảnh hay gặp may mãi.

Thật ra hai cách nhận định này phản ánh hai quan niệm khác nhau về thành công. Một bên lý tưởng, cho rằng thành công đến nhờ thiện phúc sẵn có; một bên thực tế hơn, cho rằng thành công đến nhờ nhân định, tức nỗ lực của chính con người. Theo cách hiểu riêng của mình, Lý số học không nghiêng hẳn về bên nào. Nó chấp nhận cả hai cùng lúc: không phủ nhận thiện phúc, cũng không xem thường nhân định, mà điều hòa phần hay của cả hai. Vì thế, quan niệm của khoa này về lá số tốt rất thực dụng: vừa cần thuận cảnh, vừa cần cả sự thành công ngay giữa nghịch cảnh. Hướng nào cũng có thể được coi là tốt. Cánh cửa của khoa này mở ra cho tất cả, không chừa ai và cũng không dành riêng cho một giai tầng nào; tinh thần nhân bản đại đồng thấm trong nó, và nó không hề thiên vị một cá nhân. Người mà Lý số học hướng tới là số đông toàn thể, chứ chẳng phải một nhóm đã được tuyển chọn từ trước. Nó ngắm con người và cuộc đời bằng con mắt khách quan, nên nhìn ra cả điều hay lẫn điều dở, cả hai mặt của mọi sự việc. Vai trò của nó chỉ là một tấm gương soi lại thân phận con người, tuyệt nhiên không đứng ra phán xét tính nết hay số kiếp của bất kỳ ai. Cũng chính nó bày ra không ít cách cục hay nhất, đồng thời cũng bày ra không ít cách cục dở nhất; nó giới thiệu nhiều cát tinh và cũng giới thiệu hung tinh với số lượng chẳng kém. Nhìn kỹ thì sao tốt và sao xấu gần như ngang ngửa nhau về số. Vì không mang tâm thế bi quan hay lạc quan, nên Lý số học mới có thể xem cho mọi hạng người, không kể giai cấp, giàu hay nghèo, sang hay hèn, nam hay nữ. Thế cân bằng được giữ có chủ ý ấy tránh được hai cực: không ngả về lạc quan để ai xem số cũng thấy cuộc đời mình rặt một màu hồng, không ngả về bi quan để biến môn học thành công cụ gieo nỗi lo sợ. Và chính thế cân bằng đó làm nên giá trị thực tiễn, bền bỉ của cả hệ thống lý luận đã tồn tại qua nhiều thế kỷ.

Lẽ tương đối của đời người

Hơn nữa, qua cái nhìn của Lý số học ta còn thấy lẽ tương đối của cuộc đời. Việc đặt sao tốt lẫn sao xấu cho thấy đời người vốn có hay có dở đi đôi, có may có rủi trong cùng một thân phận, có thuận cảnh có nghịch cảnh trong cùng một hoàn cảnh, bất kể hoàn cảnh ấy của ai. Số của vua chúa có ưu điểm riêng nhưng cũng không tránh khỏi khuyết điểm. Số của người nghèo có bất lợi rõ ràng nhưng vẫn có lợi điểm ở một phương diện nào đó. Một tính cách tự thân không tốt cũng không xấu, nó chỉ trở nên tốt hoặc xấu tùy vào việc người ta đem nó ra dùng thế nào. Một hoàn cảnh tự thân không hay không dở; hay hay dở là do người ta biết tận dụng hay không biết tận dụng nó, cũng như cùng một dòng nước, kẻ biết dẫn thì tưới được ruộng, kẻ không biết thì để ngập. Ngay cả một vì sao, tự thân cũng không đẹp không xấu, mà đẹp hay xấu tùy vào môi trường cụ thể nơi nó rơi vào. Bởi thế Lý số học luôn mang tính tương đối, tùy cá tính và hoàn cảnh của từng người. Đây là chỗ khác biệt gốc rễ so với cách nhìn phổ biến hay gán cho một vì sao, một cách cục, một giá trị cố định bất biến, đúng ở mọi nơi mọi lúc; sự thật là ý nghĩa sau cùng của bất kỳ yếu tố nào trên lá số cũng chỉ lộ rõ đầy đủ khi đặt nó vào đúng bối cảnh riêng của mình.

Tuy nhiên, công việc giải đoán thực tế buộc các nhà Lý số học vẫn phải chia lá số sao cung thành ba nhóm: tốt, xấu và trung bình. Ranh giới tốt xấu ấy cũng chỉ mang tính tương đối, bởi nó phụ thuộc vào chính quan niệm về hạnh phúc nhân sinh mà Lý số học đặt ra. Vậy nên bước đầu tiên là phải làm sáng tỏ nội dung của thứ hạnh phúc thập toàn mà môn học này hằng quan niệm.

Các điều kiện của hạnh phúc nhân sinh

Các sách Lý số học từ trước đến nay chưa có trang nào nói thẳng hạnh phúc của con người là gì. Điều ta gọi là hạnh phúc ở đây thật ra được suy ra từ những dấu vết vương vãi khắp nơi: tên gọi mà người xưa đặt cho các sao, vị trí các sao trên lá số, cách đối chiếu các cuộc đời khác nhau với nhau, và sự hiện diện, ý nghĩa của cả cát tinh lẫn hung tinh. Nhặt các mảnh rời ấy ghép lại, ta thấy Lý số học đề ra ba điều kiện vừa cần vừa đủ cho một hạnh phúc cực tốt, gồm điều kiện đặt cho chính mình, điều kiện đặt cho hoàn cảnh, và điều kiện đặt cho người khác. Ba điều kiện này ứng với ba vòng tròn đồng tâm quanh một con người: vòng trong cùng là bản thân đương số với các phẩm chất nội tại riêng, vòng giữa là hoàn cảnh khách quan bên ngoài mà họ không tự tạo ra được, vòng ngoài cùng là mối quan hệ qua lại với những người xung quanh. Thiếu một trong ba vòng, hạnh phúc coi như chưa thể tròn đầy.

Điều kiện đặt cho chính mình

Hạnh phúc của con người trước tiên tùy vào phần nhân định của mỗi cá nhân. Có thể gọi đây là điều kiện thành phần.

Điều kiện đầu tiên là thuần cách, nghĩa là nam phải ra dáng nam, nữ phải ra dáng nữ. Đàn ông mà mang nét nữ tính thì bị xem là phá cách, và đàn bà mang nét nam tính cũng thế. Đòi hỏi này không mang ý kỳ thị mà bắt nguồn từ cách nhìn của Lý số học về sự hài hòa bên trong: một cá tính pha lẫn nửa nọ nửa kia, không dứt khoát theo hẳn một khuôn mẫu, thường khó phát huy hết sở trường trong bất kỳ vai trò xã hội nào, dù là vai người nam hay người nữ.

Điều kiện thứ hai là con người phải có những lợi điểm về vật chất, tinh thần và đạo đức. Lợi điểm vật chất là sức khỏe để sống, để đấu tranh với nghịch cảnh, để tránh bệnh tật, không suy nhược thể xác đến mức thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Sức khỏe ấy là điều kiện của trường thọ, để mưu sinh và để hữu ích cho gia đình, cho xã hội. Về điểm này, cung Tật tốt là đòi hỏi bắt buộc, không thể thiếu, vì mọi lợi điểm khác về tinh thần hay đạo đức, dù phong phú đến đâu, cũng khó nở trọn trên một nền thể chất yếu ớt.

Sang lợi điểm tinh thần, đó là sức mạnh của ý chí cùng sự sáng dạ của trí óc. Có được hai thứ ấy, con người vừa khôn ngoan, vừa kiên nhẫn, vừa khéo thích nghi với nhiều hoàn cảnh khó khăn để theo đuổi đến cùng mục tiêu của đời mình. Ý chí mạnh giúp họ không bỏ cuộc trước nghịch cảnh đầu tiên gặp phải, còn thông minh giúp họ tìm được lối đi khéo léo nhất giữa muôn vàn lựa chọn, thay vì lao đầu theo một hướng duy nhất mặc cho hoàn cảnh đã đổi.

Còn lợi điểm đạo đức bao hàm đức tin, tấm lòng hướng thiện và lòng vị tha. Có chúng, cá nhân mang trong mình một động lực đẹp, biết tự ghìm mình trước những khuynh hướng nguy hại, sẵn sàng lo cho hạnh phúc của đồng loại, không vụ lợi, không tham lam, và biết dung hòa lợi ích của mình với lợi ích của người. Ba lớp lợi điểm này không tách rời nhau: sức khỏe sa sút kéo theo tinh thần rã rượi, tinh thần bạc nhược lại dễ đẩy con người đến chỗ buông thả về đạo đức; ngược lại, nền đạo đức vững cũng nuôi dưỡng ý chí, giúp con người bền bỉ giữ gìn sức khỏe lâu dài hơn.

Chỉ khi gom đủ các tiêu chuẩn về tinh thần, vật chất và đạo đức như vậy, con người mới thật sự thành nhân, nghĩa là trở thành một con người trọn nghĩa, vừa thân thể cường tráng, vừa đầu óc sáng suốt, vừa tâm hồn hướng thiện; và đứng trên nền tảng thành nhân ấy, họ mới có đủ tư cách để hưởng phú, hưởng quý, hưởng thọ. Nhìn kỹ, các tiêu chuẩn thành nhân này cũng chỉ ở mức vừa phải, không vượt khỏi tầm với của đa số quần chúng; tính chất của chúng là thực tiễn và thế tục, không cao siêu như bậc thần thánh mà cũng chẳng thấp dưới mức bình thường. Ngay nơi các tiêu chuẩn này, người ta nhận ra quan niệm trung dung của Khổng học đang được vận dụng, một lối chọn đường giữa mà không nghiêng về thái cực nào.

Tuy nhiên, dẫu cá nhân hội đủ mọi tiêu chuẩn thành nhân trên đây, như thuần cách, khỏe mạnh, ý chí vững, tâm hồn hướng thiện, cũng chưa đủ bảo đảm một hạnh phúc trọn vẹn. Vì ngay cả người hoàn hảo nhất về nội tại, nếu sa vào thời thế nghịch cảnh, không gặp hoàn cảnh xã hội thích hợp để phát huy tài năng, thì những phẩm chất tốt đẹp ấy cũng khó nở thành thành công thực sự. Đó là lẽ vì sao, bên cạnh điều kiện đặt cho chính mình, Lý số học còn đặt thêm điều kiện đặt cho hoàn cảnh và điều kiện đặt cho người khác, hai lớp điều kiện nằm ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của cá nhân nhưng không kém phần quyết định đối với một cuộc đời được coi là cực tốt.

Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn).

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn