Bài tổng quan
Độ số các sao Tử Vi: chính tinh, phụ tinh và nam đẩu bắc đẩu
Tử-Vi và Thiên Phủ vẫn được xem là hai sao đứng đầu lá số, nhưng khi người Trung Hoa xếp hẳn 19 chính tinh vào ba hạng nam đẩu, bắc đẩu, nam-bắc đẩu, rồi chia các sao còn lại thành năm hạng giáp, ất, bính, đinh, mậu, người xem số mới thấy độ mạnh yếu giữa các sao không hề đơn giản...
Tử-Vi và Thiên Phủ vẫn được xem là hai sao đứng đầu lá số, nhưng khi người Trung Hoa xếp hẳn 19 chính tinh vào ba hạng nam đẩu, bắc đẩu, nam-bắc đẩu, rồi chia toàn bộ các sao còn lại thành năm hạng giáp, ất, bính, đinh, mậu, người xem số mới thấy độ mạnh yếu giữa các sao không hề đơn giản như vẫn tưởng.
Phân biệt theo chính tinh và phụ tinh
Độ số là nhãn lực giữa các sao, sao nào mạnh sao nào yếu và mạnh yếu đến đâu. Có nhiều yếu tố giúp phân biệt mãnh lực các sao.
Các tác giả viết sách Tử-Vi đều cho rằng chính tinh mạnh hơn phụ tinh. Chính tinh thủ vai chính, quyết định ý nghĩa. Phụ tinh đóng vai thứ yếu, bổ túc hoặc giảm chế cho ý nghĩa của chính tinh mà thôi.
Tuy nhiên, các tác giả không đồng nhất khi phân biệt chính tinh và phụ tinh.
Theo quan niệm Việt Nam, chỉ có 14 chính tinh, thuộc 2 chòm Tử-Vi và Thiên Phủ. Đó là:
- Tử-Vi, Liêm Trinh, Thiên Đồng, Vũ Khúc, Thái Dương, Thiên Cơ.
- Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.
Trong khi đó, quan niệm Trung Hoa lại cho rằng có tất cả 19 chính tinh. Ngoài 14 sao kể trên, còn thêm vào 5 sao Lộc Tồn, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật.
Trước sự khác biệt này, có 2 luận thuyết: luận thuyết thứ nhất theo xu hướng Trung Hoa, coi như có tất cả 19 chính tinh. Luận thuyết thứ hai theo quan điểm Việt Nam, chỉ thừa nhận 14 chính tinh mà thôi.
Theo thiển nghĩ, chúng ta nên Việt Nam hóa, tuy nhiên, ta sẽ dành cho 5 sao Lộc Tồn, Văn Xương, Văn Khúc, Hữu Bật một độ số đặc biệt hơn những phụ tinh khác.
Phân biệt độ số giữa các chính tinh
Quan niệm Việt Nam không ban cho chính tinh độ số nào rõ rệt. Tập tục của nhiều tác giả thường xem Tử-Vi và Thiên Phủ là 2 sao trội yếu nhất, cho rằng 2 sao này đứng đầu 2 chòm sao liên hệ, và có ý nghĩa tốt đẹp trong các lãnh vực phú, quý, phúc. Có người xem Thái Dương, Thái Âm, cũng cao độ, nại lý do rằng đó là 2 nguyên lý căn bản của vũ trụ, có liên quan mật thiết đến con người. Những quan điểm trên đều hữu lý. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng các chính tinh khác nếu Miếu, Vượng địa đều có nghĩa phú, quý, thọ như Tử, Phủ, Nhật, Nguyệt. Thành thử có thể nói Việt Nam không xếp hạng chính tinh một cách minh danh.
Người Trung Hoa tỉ mỉ hơn và có ấn định thứ hạng các chính tinh, được họ chia làm 3 loại: nam đẩu, bắc đẩu và nam bắc đẩu.
| Nam đẩu | Bắc đẩu | Nam-Bắc đẩu |
|---|---|---|
| 1. Thiên Phủ | 1. Tham Lang | Tử Vi |
| 2. Thiên Lương | 2. Cự Môn | Thái Dương |
| 3. Thiên Cơ | 3. Lộc Tồn | Thái Âm |
| 4. Thiên Đồng | 4. Văn Khúc | Văn Xương |
| 5. Thiên Tướng | 5. Liêm Trinh | Tả Phù |
| 6. Thất Sát | 6. Vũ Khúc | Hữu Bật |
| 7. Phá Quân |
Những con số ghi trên là độ số. Riêng nam bắc đẩu không được người Trung Hoa cho độ số. Hai sao Thái Dương và Thái Âm lại được xếp vào loại nam bắc đẩu, trong khi Việt Nam xem Thái Dương là nam đẩu, Thái Âm là bắc đẩu. Ngoài ra, người Trung Hoa không hề nói đến sự am hiểu 2 sao khác độ số hay khác loại sẽ đưa đến kết quả nào? Một độ số trung bình? Hay sự tương khắc vì khắc loại?
Dù sao, việc ấn định độ số cũng giúp ta một ý niệm về sự mạnh yếu của các sao.
Phân biệt thứ hạng của chính tinh và phụ tinh
Quan niệm Trung Hoa trong quyển Phi Tinh Tử-Vi Đẩu Số còn chia tất cả sao thành 5 hạng: giáp, ất, bính, đinh và mậu, có lẽ cũng là để phân biệt mạnh yếu ở một hệ cấp khác nữa. Riêng hạng giáp còn được tế phân làm 2 phụ hạng. Giáp I dành cho 19 chính tinh và giáp 2 cho 10 phụ tinh.
| Hạng Giáp 1 | Hạng Giáp 2 | Hạng Ất | Hạng Bính | Hạng Đinh | Hạng Mậu |
|---|---|---|---|---|---|
| Thiên phủ | Hỏa tinh | Thiên không | Triệt | Hoa cái | Điếu khách |
| Thiên lương | Linh tinh | Địa kiếp | Tuần | Long đức | Bạch hổ |
| Thiên cơ | Kình dương | Thai phụ | Thiên thương | Thiên đức | Quan phù |
| Thiên đồng | Đà la | Phong cáo | Thiên sứ | Tướng tinh | Tang môn |
| Thiên tướng | Thiên khôi | Thiên hình | Tràng sinh | Phàn an | Kiếp sát |
| Thất sát | Thiên việt | Thiên riêu | Mộc dục | Tuế kiện | Bệnh phù |
| Tham lang | Hóa khoa | Thiên mã | Quan đới | Tuế dịch | Quán sách |
| Cự môn | Hóa quyền | Giải thần | Lâm quan | Hối khí | |
| Lộc tồn | Hóa lộc | Tam thai | Đế vượng | Tức thần | |
| Văn khúc | Hóa kỵ | Bát tọa | Suy | Tai sát | |
| Liêm trinh | Ân quang | Bệnh | Thiên sát | ||
| Vũ khúc | Thiên quý | Tử | Chỉ bối | ||
| Phá quân | Thiên quan | Mộ | Hàm trì | ||
| Tử vi | Thiên phúc | Tuyệt | Nguyệt sát | ||
| Thái dương | Thiên khốc | Thai | Vong thần | ||
| Thái âm | Thiên hư | Dưỡng | Lưu đại hao | ||
| Văn xương | Long trì | Bác sỹ | Lưu tiểu hao | ||
| Tả phù | Phượng các | Lực sỹ | |||
| Hữu bật | Hồng loan | Thanh long | |||
| Thiên hỷ | Tiểu hao | ||||
| Cô thần | Tướng quân | ||||
| Quả tú | Tấu thơ | ||||
| Thiên tài | Hỷ thần | ||||
| Thiên thọ | Đại hao | ||||
| Phá toái | Phục binh | ||||
| Phi liêm | Phi liêm | ||||
| Thiên vu | Quan phủ | ||||
| Thiên nguyệt | Bệnh phù | ||||
| Âm sát |
Trong bảng phân hạng này, có những điểm đáng lưu ý: có sự xuất hiện của 16 sao mới không có tên trong Tử-Vi Việt Nam. Sao Bệnh Phù được Trung Hoa xếp vào 2 hạng Bính và Mậu. Sao Phi Liêm thuộc hạng ất và sao Phi Liêm thuộc hạng bính, theo quan niệm Trung Hoa là 2 sao riêng biệt, cách viết khác nhau, thuộc ất và thuộc bính. Đại Hao và Tiểu Hao thuộc 2 hạng. Nếu là cố định thì hạng bính, nếu là lưu động thì hạng mậu. Ngoại trừ 6 chính tinh nam đẩu và 7 chính tinh bắc đẩu (cả 2 đều thuộc hạng giáp) có hẳn độ số, kỳ dư các sao còn lại trong bảng phân hạng trên không có độ số. Việc liệt kê không theo một thứ tự cao thấp nào. Nhưng, dĩ nhiên là hạng giáp phải cao hơn hạng ất, bính, đinh, mậu…
Phân biệt độ số theo nghĩa chính của sao
Căn cứ vào độ số và thứ hạng của vài sao, có thể suy diễn mãnh lực của những sao đồng nghĩa, tùy theo phương diện phân tích.
- Về Quan lộc, thứ tự có thể là: Tử, Dương, Liêm, Phủ, Tướng, Sát, Quyền, Thai, Tọa.
- Về tài lộc: Phủ, Âm, Vũ, Tồn, Lộc, Sinh, Vượng.
- Về phúc thọ: Phủ, Lương, Âm, Đồng, Tồn, Quý, Quang, Thiên Quan, Thiên Phúc, Thiên Thọ, Sinh, Vượng, Thanh Long, Long Đức, Thiên Đức.
- Về khoa giáp: Khúc, Xương, Khôi, Việt, Khoa, Long, Phượng.
- Về mặt phá họa: Tham, Cự, Phá, Hỏa, Linh, Kinh, Đà, Kỵ, Thiên không, Kiếp, Khốc, Hư, Triệt, Tuần, Thương, Sứ, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Tiểu Hao, Bính, Quan Phủ, Điếu Khách, Hổ, Quan Phù, Kiếp Sát.
Đó là lối phân biệt khá tinh vi của quan niệm Trung Hoa về mãnh lực các sao, dựa vào độ số và thứ hạng cùng ý nghĩa. Lối phân biệt này khả chấp trên lý thuyết. Tuy nhiên, trên thực tế, khi gặp sự hội tụ của nhiều sao khác độ, khác hạng cùng một cung, người đoán số thường gặp lúng túng vì không tìm ra quy luật bù trừ nào cho thỏa đáng, khả dĩ áp dụng được cho nhiều trường hợp mà không có quá nhiều biệt lệ. Đó là chưa kể sự can dự của các yếu tố về âm dương ngũ hành và của cung của sao.
Còn đối với Việt Nam, thông thường người ta hay chia các sao theo đặc tính chủ yếu của nó để phân biệt tốt xấu, mạnh yếu. Trong quyển 2 của sách Tử-Vi Hàm Số, ở các trang 147, 259, 260, 261 soạn giả có dịp liệt kê phương pháp này.
Đối với chính tinh, ta chia tổng quát thành 10 loại: đế tinh (Tử-Vi), phúc tinh (Thiên Đồng, Thiên Lương), thiện tinh (Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thất Sát), tài tinh (Vũ Khúc, Thiên Phủ), đào hoa tinh (Liêm Trinh), âm tinh (Cự Môn), và hung tinh (Tham Lang, Phá Quân, Liêm Trinh). Sự phân biệt này chỉ có tính cách tổng quát, có khi trùng dụng (ví dụ như giữa phú tinh, tài tinh có thể ghép lại làm một, quý tinh, quyền tinh có thể ghép làm một…). Lối phân biệt này dựa trên giả thuyết rằng sao phải miếu địa, vượng địa hay đắc địa và thuận vị thì mới phát huy ý nghĩa của phương diện được phân loại. Trên thực tế, ai cũng thấy rằng một sao có ý nghĩa đa diện: ví dụ như Thái Dương có thể vừa là quý tinh vừa là phú tinh, Tử-Vi vì là đế tinh nên có cả ý nghĩa phú, quý, thọ, phúc, thiện đồng loạt. Nếu các chính tinh trên mà hãm địa thì vẫn có thể biến thành sát, hung, hao bại tinh như thường. Vì vậy, có thể nói, các sao rất linh động về ý nghĩa và vị trí trú đóng.
Đối với phụ tinh, Tử-Vi Hàm Số cũng chia loại tổng quát như vậy. Riêng đối với sao xấu, người ta thường phân biệt cường độ nặng nhẹ theo thứ tự:
- Sát tinh, chủ về họa nặng nề, có ảnh hưởng đến tính mạng, từ đó di lụy đến công danh, tài lộc, phu thê, tử tức, điền trạch, phụ mẫu, huynh đệ… được xếp vào sát tinh có: Địa Kiếp, Địa Không, Thiên Không, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kiếp Sát. Cường độ nặng nhẹ tùy sự hội tụ nhiều ít. Nếu thử so sánh thì có lẽ phải kể Địa Không, Địa Kiếp và Thiên Không là mạnh nhất. Kỳ dư, những sao còn lại chỉ mạnh khi hội tụ nhiều, đồng cung và hãm địa.
- Hình tinh chủ về ngục tù và quan tụng, cũng ảnh hưởng khá sâu rộng, tuy không làm chết. Nếu phải liệt kê thì phải kể Thiên Hình, Quan Phù, Quan Phủ, Thái Tuế, Thiên La, Địa Võng. Hình tinh có thể đi cùng với sát tinh để tạo thêm bất lợi nặng nề hơn.
- Hao, bại tinh, chủ về hao tán, buồn khổ, suy nhược, mất mát, bệnh hoạn, không làm chết người, không làm mất tự do mà chỉ làm hao, làm khổ, làm mất, làm lo lắng. Phải kể các sao Tang Môn, Bạch Hổ, Đại Hao, Tiểu Hao, Thiên Khốc, Thiên Hư, Thiên Thương, Thiên Sứ, Phá Toái, Lưu Hà, Bệnh Phù, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Thiên Riêu, Cô Thần, Quả Tú.
- Ám tinh hay kỵ tinh, chủ trắc trở, bế tắc, xui xẻo tạm thời, hạn xấu, ví như đám mây tuy nhỏ mà che được ánh nắng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, làm cho cái tối bị giảm, bị mất trong một thời gian nào đó. Phải kể là Hóa Kỵ, Thiên Riêu, Phục Tinh, Đà La, Kình Dương, Quan Phù, Quan Phủ, Tuần, Triệt.
Hẳn độc giả có dịp nhận thấy có nhiều sao được xếp một cách trùng dụng, chính vì sao đó có nhiều ý nghĩa. Ví dụ như riêng sát tinh chẳng những đủ ý nghĩa của sát tinh khi có thể gây đại họa thì vẫn có thể gây tiểu họa.
Đó là nói về cường độ của các sao xấu.
Về các sao tốt, rất khó cả quyết sao nào tốt một cách toàn diện và mạnh mẽ. Lúc nào sao miếu, vượng và trắc địa, sự tốt đẹp được đa diện hơn, mạnh mẽ hơn. Nhưng, dù vậy, có một phương diện trội yếu hơn hết của từng sao, bắt nguồn từ ý nghĩa quan trọng nhất của nó. Có sao thì tốt cho quan lộc có sao tốt cho tài lộc, có sao tốt cho phúc đức, có sao tốt cho khoa bảng. Giữa 4 lãnh vực quý, phú, phúc, khoa, rất khó khẳng định cái nào trội yếu. Sự đánh giá này lệ thuộc vào quan niệm mỗi người, hoàn cảnh mỗi người. Có người cho rằng phú trên quý, trên thọ, có kẻ cho ngược lại. Duy theo quan niệm cổ điển của Trung Hoa thời xưa thì ưu tiên là quý, kế mới là phú và thọ. Còn khoa thường được hiểu ngầm trong cái quý, vì thời trước, quý cách chỉ thủ đắc được qua con đường khoa bảng.
Phân biệt độ số theo mức hội tụ
Trong mục nói về ý nghĩa linh động của các sao, ta có dịp xét qua về yếu tố hội tụ và cho rằng khi các sao đồng nghĩa hội tụ thì làm tăng thêm mãnh lực, ví như một cái máy chạy đã có trớn. Khi xét mãnh lực của cái máy đang chạy thì phải tính thêm tốc độ do cái trớn bồi vào.
Ở đây, độ số của sao cũng tăng tương tự như thế, nhưng theo 2 phương cách: thứ nhất là nhờ sự đồng cung, thứ hai là nhờ sự hệ thuộc.
Những sao đồng nghĩa mà đồng cung thì uy lực được thể hiện tối đa, ví dụ: Tả Hữu, Xương Khúc, Long Phượng, Thai Tọa, Quang Quý, Tử Phủ, Không Kiếp, Đào Hồng. Nếu bị phân tán thì kém lực đi nhiều.
Về sự hệ thuộc, quan niệm Trung Hoa khá rõ ràng. Họ đã chia sao thành 2 hệ: nam đẩu và bắc đẩu, đồng thời cũng chia một số trợ tinh thành 2 hệ tương ứng, một hệ trợ cho nam đẩu, còn hệ kia trợ cho bắc đẩu. Sự hội tụ giữa nhiều sao cùng hệ sẽ làm tăng độ số cho các sao chính trong hệ. Ngoài ra có vài sao được Trung Hoa liệt vào hạng Nam và Bắc Đẩu (ví dụ Tử-Vi, Thái Dương, Thái Âm, Văn Xương) có lẽ sẽ tương hợp với 2 loại trợ tinh của 2 hệ. Mô phỏng theo quan niệm Trung Hoa, sơ đồ hệ thuộc gồm:
- Hệ nam đẩu: chính tinh Thiên Phủ, Thiên Lương, Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Tướng, Thất Sát; trợ tinh Khôi, Việt, Hỏa, Linh, Tả, Hữu.
- Hệ bắc đẩu: chính tinh Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân; trợ tinh Kình, Đà, Thai, Tọa, Tả, Hữu.
- Riêng Tả, Hữu vừa trợ cho hệ nam đẩu vừa trợ cho hệ bắc đẩu.
Theo quan niệm Trung Hoa, Tả Hữu được xem là chính tinh, nhưng đến lúc phân biệt các sao trợ cho nam, bắc đẩu thì Tả Hữu lại được xem như trợ tinh cho cả nam, bắc đẩu hệ.
Trong phần chính tinh, quan niệm Trung Hoa cho rằng Lộc Tồn, Văn Khúc, Văn Xương thuộc chính tinh. Tuy người Việt Nam không đồng ý việc xếp loại này, nhưng cũng ghi vào bảng liệt kê để nhớ.
Trong phần chính tinh hai cột nam, bắc đẩu có đánh số: đó là độ số mà quan niệm Trung Hoa gán cho chính tinh. Riêng cột nam bắc đẩu tinh thì 4 sao Tử, Nhật, Nguyệt, Xương không có độ số. Và riêng Nhật và Nguyệt thì được Trung Hoa xếp vào loại nam bắc đẩu (khác với Việt Nam: Nhật là nam đẩu, Nguyệt là bắc đẩu).
Bảng liệt kê này phỏng theo sách đã dẫn của Trung Hoa, vậy không có nghĩa là Việt Nam ta thừa nhận quan niệm xếp loại và xếp hệ. Việc thiết lập bảng này cốt để gợi một ý niệm về sự phân biệt độ số, mãnh lực của các sao theo lối hiểu của người Tàu.
Bảng liệt kê này rõ ràng nhưng lại thiếu sót. Sách đã chỉ dẫn kể có 10 sao thuộc hệ, mà không hề nói đến những phụ tinh khác. Đây hẳn là một sự thiếu sót quan trọng, song, có lẽ sách vở ngày xưa để lại chỉ có thế. Các tác giả sau này không có bổ túc hay khai triển.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
