Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Mười bốn chính tinh: hình dáng, tính nết và bệnh tật riêng

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/202611 phút đọc3 lượt đọc
Mười bốn chính tinh: hình dáng, tính nết và bệnh tật riêng

Tử Vi mặt đỏ tía hồng, Cự Môn hãm là người môi thâm, Phá Quân miếu địa lại cao lớn mắt sáng — mỗi ngôi trong mười bốn chính tinh được sách gắn liền với một dáng người, một nét bệnh cụ thể. Đây là...


Mỗi ngôi sao một dáng: hình dáng, tính nết, bệnh tật gắn với mỗi chính tinh khi tọa thủ Mệnh viên. Trước hết là mười bốn ngôi sao trụ cột của lá số.

Tình lý và tượng hình của chư tinh cư cung Mệnh viên

Tử-vi

Tử vi là ngôi đế cực, cư nơi miếu vượng, gặp được Tả-hữu, Khôi-việt, Hồng-đào, cát tinh phù trì, thời phú qúy hiển đạt tột cùng.

Không gặp được Phụ-bật là vô dụng, đáo nhị hạn giải được hung ác của Dương-đà, Hỏa-linh. Chỉ sợ lạc Không-vong là đế ngộ hung đồ, thời nên đi tu làm tăng đạo, ắt được hưởng phúc.

Tử vi là người tầm thước, mặt đỏ tía hồng, tính tình đôn hậu. Hãm địa thường bị bệnh dạ dày, hay mắc chứng đau bụng, kiết tả, thường bị âm hư và đàm trệ.

Thiên-Phủ

Thiên Phủ cũng là đế vị thuộc âm Thổ. Miếu địa ở Tuất gặp được Tả phụ đồng cung là thượng cách (Tả Phụ cách là gấm thêm hoa, là tài tinh, cùng với Lộc-tồn thì giàu có cự vạn, vàng chèn ngọc cất.

Cũng như Tử-vi, được Phụ bật, Hồng đào, Khôi việt, thời cự phú, công danh toại mãn, chế hóa được hạn họa của Dương-đà, Hỏa-Linh, tối kỵ gặp Tuần-không là khố lẫm rỗng, và lạc Không-vong là trở thành họa.

Thủ ư Mệnh-Thân là người khoan hòa, thuần nhã và ngay thẳng, mặt hơi vuông, da trắng. Nên có cách Kim ô viên mãn, ngọc thố thanh kỳ.

Thiên-Cơ

Miếu ư đông vị, từ cung Dần tới Thân. Hãm ư tây vị, từ cung Dậu tới Sửu.

Thái-Dương

Thái-dương là nghi tượng của dương khí, để phát ra ánh sáng, nuôi dưỡng và sinh hóa muôn loài. Cư cung Quan lộc là đệ nhất cách. Ở nơi miếu địa thì tài lộc và danh quyền cao vòi vọi, chủ chấp chưởng oai quyền, gặp được Khúc Xương, Khôi Việt thì phú qúy cực phẩm.

Cư Ngọ vị là người tài lộc, địch quốc chi phú, hay tranh quyền của người trên. Chỉ sợ hội Dương-đà ví như trời giông tố, không còn mặt trời nữa.

Miếu địa ở nữ Mệnh là bậc hiền phụ, chính trực, đoan trang, vượng phu ích tử. Nam mệnh là người khôi ngô, tuấn tú, trán cao, mặt dài trên to dưới nhỏ như mặt con rắn, Thái-dương diện khuyển xà tê.

Nếu ngộ Hình là người trán dô ra mà cao, thường gọi là trán che sương. Nữ mệnh ngộ Kình thời nên tu hành hưởng phúc, không nên lập gia đình, vì bị hình khắc phu tử. Ngộ Đà là người tâm thần vô định, lúc thân lúc sơ. Hội với Hình, Riêu, Kỵ phải toái quan phòng về mục tật.

Thái-Âm

Miếu địa ở Tây vị, Sửu tới Dậu cung. Hãm địa ở Đông vị, từ Dần tới Thân cung.

Thái-Âm thuộc thủy là nghi tượng sự sáng về đêm, cư Thiên-di hội Lộc, là người xuất ngoại mà lập nên cơ nghiệp. Chủ ư Điền-tài hội Lộc là hợp cách. Hội với Văn-khúc ở Hợi-cung, là cách bình bộ nhập điện cung (thong thả vào cung). Ở số là tượng mẹ và thê thiếp.

Thái-âm hãm ngộ Riêu Kỵ thường hay mắc bệnh thận, các chứng phù thũng. Ngộ Hình Linh, Hư, thì hay mơ màng và bị di mộng tinh. Nữ Mệnh hội với Tang Hổ, phải phòng bệnh tật về máu huyết và khi sinh sản. Hội với Riêu-Kỵ hãm thì dâm đãng và đói mục tật. Hội với Kình Đà thì bị hình khắc lục thân, không thể tốt đẹp được.

Thái âm không sợ Không-vong, nhưng tối úy Kình Đà. Nhật Nguyệt cư nơi miếu địa ngộ Triệt Tuần thì tối lại, ở nơi hãm địa Triệt Tuần là sáng trở lại. Thủ Mệnh là mặt tròn, tươi trắng, tính tình hiếu hòa, nữ mệnh thì đoan trang, chỉ sợ ngộ Dương Đà, là khắc hãm, phá tổ ly tông.

Vũ-Khúc

Vũ-Khúc là bắc đẩu thuộc Kim. Là tài tinh, chủ về tiền của. Cư 2 cung Tài, Trạch thì hợp cách. Đồng cung với Tham-lang thì thiếu niên bất lợi, phải tới nửa đời sau mới thành được cơ nghiệp.

Hội với Phá-quân cư Tài là đông thành tây hại, đồng tiền lên xuống tựa dòng nước xuôi. Tham Vũ hội Mệnh thì đầu nhỏ mình to. Thủ ư Mệnh hãm, thì dáng người nhỏ thó, mặt hơi dài, tiếng nói to mà thanh sảng, thường hay có nốt ruồi nơi kín.

Vũ Khúc chủ tính tình cương cường, quả cảm nhưng hay giận hờn. Chỉ sợ hội với ác sát thành keo kiệt, bủn xỉn. Hội với Thất-sát ở Mão Dậu gia Hình Việt Linh Hỏa, phòng té cây, sét đánh, tàn tật, tai nạn xe cộ. Ngộ Kỵ thường mắc bệnh xuyễn và bệnh lao.

Thiên-Đồng

Thiên Đồng là nam đẩu tinh thuộc dương Thủy. Chủ phúc thiện, cư cung Phúc-đức là tốt nhất, chủ ích thọ. Thiên-đồng cư 12 cung không sợ sát hung.

Thủ Mệnh là người phì nộn, da trắng mày xanh, mắt sáng, lưng dày, tính nết phúc hậu, hòa nhã. Hội với Khôi, Khoa, Xương, Khúc là người liêm khiết, có trí linh sáng, biết trước được công việc.

Hội với Kình-dương, Thái-âm, Phượng-các ở cung Tý, Ngọ là cách Kình, Đồng, Âm nhi phùng Phượng Giải, tài kiêm văn võ, qúy hiển cực phẩm. Hội với Cự-môn hãm là người xảo ngôn, lệnh sắc, ngu độn mà hạ tiện, tính tình thay đổi luôn.

Liêm-Trinh

Liêm-Trinh là bắc đẩu tinh thuộc Hỏa. Liêm-Trinh nhập miếu ngộ Văn-xương chủ lễ nhạc, hội với Thất-Sát thiên về võ chức. Cư Quan-lộc chấp chưởng binh quyền qúy hiển. Cư Mệnh là đào hoa thứ hai. Hãm địa thường dong chơi cờ bạc.

Thủ Mệnh là người dáng cao, mặt xương xương, lông mày rậm, miệng rộng, tính tình ưa tranh đấu. Cùng với Tham lang ở Tỵ Hợi, thì chiếu lấy hình ngục, luôn luôn đáo chốn công môn.

Hội với Kiếp Không hãm, thời suốt đời hà tiện, tính tình ương ngạnh gàn dở, vì đam mê mà mắc hình phạt không tránh được. Hãm ngộ Hình Kỵ thường hay mắc chứng huyết nhiệt mà sinh mụn nhọt.

Tham-Lang

Tham-Lang là bắc đẩu tinh thuộc âm Mộc. Tham-Lang vừa là sao sát, mà cũng là sao phúc thiện, có nhiều tâm hồn ưa thích thần tiên và ca vịnh.

Cư miếu vượng hội với Hỏa-Linh, Khôi-việt, hợp Lộc thì giàu sang như trở bàn tay. Hội Binh Tướng và Linh thì uy vũ, quả cảm, cương nghị, binh quyền vạn lý. Hội với Sinh Vượng thì trường thọ, không sao nào bằng.

Hội với Khôi Việt thì thanh cao, đứng đắn, cơ mưu thâm thúy, là người ưa thích về các môn khoa học huyền bí. Hội với Khúc-Xương là cách làm thầy, cửu lưu nơi thôn dã. Hội với Phụ Bật Hình Kỵ, là cách của các bậc danh y, hay là phù thủy cao tay. Ở với Tử-vi Mão Dậu thích về tu hành.

Cùng với ác sát là người gian xảo, lấy thân làm sơ, xử sự hậu bạc nhất, không trọng phong tục, hay xiểm nịnh. Cùng với Đào-hoa là tử chiến giang hồ, phiếm thủy đào hoa cách, thường đam mê tửu sắc mà gian dâm.

Thủ Mệnh là người hơi thấp, dáng hơi đậm, rắn chắc mà thường có răng ngắn. Hãm địa hay mắc chứng hôi nách. Nữ mệnh ngộ Đào, Riêu Hình, Kỵ là thị phi chiêu oán suốt đời, chung thân chỉ là ca kỹ hạ hạng, hoặc nô tỳ ở các nhà hàng ca vũ. Ngộ Liêm trinh ở Tỵ Hợi rất cần gặp Triệt Tuần giải cứu là phản vi kỳ cách.

Cự-Môn

Cự-môn là bắc đẩu tinh thuộc Thủy. Hóa khí thành ám. Cự-môn hãm thủ Mệnh là người chua ngoa, đa hư thiểu thực. Hội với Kỵ Đà là người nói lắp (cà lăm) mà đa dâm. Hội với Thái Tuế thì thị phi khẩu thiệt.

Người tuổi Quý ở cung Tý Ngọ là hợp cách. Hội với Thiên Cơ ở Mão Dậu, người tuổi Bính Tân là thượng cách. Cự ở Thìn Tuất người tuổi Tân là thượng cách, vì có sự ám hợp đẩu số (Tôn Tân Cự-môn tinh). Tượng thân thể Cự-môn là cái mồm, nên thủ Mệnh hãm là người môi thâm.

Thiên-Tướng

Thiên tướng là Nam Đẩu thuộc Dương Thủy. Thiên tướng là sao phúc thiện, hóa khí là cái ấn, là văn tinh. Cư ở Quan-lộc là hợp cách.

Thủ Mệnh là người đứng đắn, trung trực hay có lòng nhân từ, thường hay bênh vực kẻ cô thân, cô thế. Gặp Tướng, Quân, Binh, Ấn, là cách xuất tướng, nhập tướng, chấp chưởng quyền cao chức vọng về binh nghiệp. Ngộ Xương Khúc Khôi Việt thì văn quan qúy hiển. Gặp Dương-đà ác sát không sợ hung nguy.

Miếu địa cư nữ Mệnh thì hình dung tuấn tú, vượng phu ích tử, nhưng hay đoạt quyền chồng, nói năng hoạt bát, linh lợi khéo léo. Chỉ sợ nơi hãm địa lạc Không-Vong, Linh-Hỏa thì bị hình khắc, quả cô đối với phu tử, càng về hậu vận càng xấu. Nữ Mệnh có Tướng Hồng là người mặt hoa da phấn thế nào cũng lấy được chồng quyền qúy.

Thiên-Lương

Thiên-lương là nam đẩu tinh âm Mộc. Thiên-lương là sao phúc thiện, hóa khí là ấm tinh. Cư ở Phụ-mẫu và Phúc-đức là hợp cách. Hội với Thái Dương cư Mão ở Phúc-đức, họ hàng ích thọ mà qúy hiển. Rất cần gặp Dương, Xương, Lộc thì qúy hiển vạn toàn.

Ngộ Khúc xương, Khôi việt, thì văn chương siêu việt, cơ mưu xuất qủy nhập thần, thường là các bậc đạt nhân quân sư. Hội Binh Quyền, Tướng Ấn là chấp chưởng binh quyền, hoặc tham mưu về binh bị.

Thủ Mệnh là người dáng cao, hơi ốm, trán cao, tính nết ẩn ương, hay giấu tâm sự, phúc hậu mà nghiêm cẩn, không thích khoe khoang. Cư Sửu Mùi ngộ Đà hóa khí là văn cách. Hội với Tuế Đà ở Thìn Tuất thì văn chương thi phú, ăn nói đanh thép.

Chỉ sợ hãm địa hội với Dương Linh là hạ cục, nghèo hèn mà gian trá. Cơ, Lương hãm ngộ Lộc-tồn, gia Linh, Hình, Tuế là phạ-lộc cách. Là cách làm thầy bói nửa mùa, thầy cúng, hội thêm các nghề đàn địch, trống hát chầu văn, hoặc các nghề quảng cáo hoàn tán. Phạ lộc cách, có sách còn nói là Bả-lộc cách nữa.

Thất-Sát

Thất-sát là nam đẩu thuộc Dương Kim. Miếu địa: Dần Thân. Thất-sát là thượng tướng tinh, nên cách Thất-sát triều đẩu, là anh hùng võ nghiệp vô đối. Cư nơi miếu địa thì tứ phương cũng phục anh hùng, là bậc hào kiệt, trí lược hơn người.

Hội Khúc-xương, Khôi-việt nắm quyền sinh sát, tước lộc vinh xương, cự vạn chi tài không kể xiết. Mệnh ngộ Thất-sát hãm địa, hay cư Dần Thân ngộ Triệt Tuần thì bôn ba, lao khổ, bao nhiêu linh diệu lại hóa thành hung họa, trầm ngâm ít nói, tính tình lúc vui lúc sầu, ngẩn ngơ khờ khạo.

Hội với Dương, Hình thì làm nghề đồ tể (giết trâu, bò, heo, gà) hay làm nghề thợ rèn. Thường là những nghề cầm dao búa rìu kiếm tiền. Mệnh có Thất-sát hãm, lưu hạn gặp Thất sát hãm hội Liêm Hình, là cách lộ thượng mai thi (chết đường) xa nhà, xa quê hương. Lưu hạn gặp được Tử-vi, Thiên tướng, Lộc-tồn thì giải được hung ngay.

Thủ Mệnh là người tầm thước, mắt to sáng, địa các hơi vuông, nhưng mặt hay bị sẹo. Thất-sát hội Văn-xương ngộ Triệt lại là người có đôi mắt bé nhỏ.

Phá-Quân

Phá-quân là đẩu tinh thuộc âm Thủy. Miếu địa ở Tý Ngọ. Cư Tý Ngọ là nhập miếu, là cách thủy ba đại hải (sóng cồn bể cả) hóa khí là hao tinh. Ngộ Khoa Quyền Lộc thì qúy hiển. Hội với Vũ-khúc là đông thành tây bại. Ngộ Tử-vi ở Sửu Mùi người tuổi Bính, Mậu, Nhâm, Quý, thì qúy hiển. Người tuổi Giáp, phá tại Tý là đệ nhất cách.

Miếu địa gặp Phượng Long Xương Khúc thời người cao, mặt trắng, môi hồng, tai to mắt sáng, lông mày thật rậm mà đen. Tinh thần thông minh, lanh lợi mà cơ trí hơn người, ưa những việc bạo động. Phá quân cư Tý không sợ Kiếp Không đối với người mệnh Thủy.

Mệnh Kim, Thủy lưu nhị hạn gặp Thất-sát ở Thân cung, nếu hội với Khúc Xương Long Phượng, thời đi vào người chốn hung họa, cũng không sợ hung nguy, lại nhân đó là cơ hội mà gặp vinh hoa qúy hiển. Hãm địa thì lấy thiện làm ác, ương ngạnh, chung thân lãng đãng, phá tổ ly tông, đam mê tửu sắc, không tôn trọng phong hóa, bất chấp lễ nghi.

Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn