Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Sao Cự Môn - Tử Vi Tinh Điển

Bản chất Ám của sao Cự Môn, quan hệ với Thái Dương, bốn cách Hóa, cách Thìn Tuất Thiên La Địa Võng cùng loạt câu phú luận riêng cho từng cung vị.

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn04/09/202613 phút đọc3 lượt đọc
Sao Cự Môn - Tử Vi Tinh Điển

Cự Môn thuộc âm Thủy trong hệ Bắc Đẩu, chủ về thị phi, hóa khí là "Ám". Hai chữ Ám điệu đã gây cho người đọc hiểu lầm không ít. Cự Môn tự nó không có ánh sáng, thì đương nhiên không trở thành tối ám như Nhật Nguyệt hãm.

Cự Môn sở dĩ thành ám vì khả năng cản ngăn, che khuất của nó. Vậy tính chất căn bản của Cự Môn là một vật gây chướng ngại. Đã gây chướng ngại, tại sao nó đứng với Thái Dương ở cùng Dần lại thành tốt? Trong vũ trụ, duy chỉ có vầng Thái Dương không vật gì có thể che khuất, bởi vậy Thái Dương đắc địa không sợ Cự Môn. Cự Môn đứng bên cạnh Thái Dương biến thành một vật gây phản chiếu cho Thái Dương, đồng thời Thái Dương đã chuyển Cự Môn từ ám thành minh. Ảnh hưởng cản ngăn, che khuất của Cự Môn gây khó khăn nhiều nhất là ở quan hệ giao tế.

Đẩu Số Toàn Thư viết: "Tính chất Cự Môn ngoài mặt thì thế mà trong lòng thì khác, đối với những người thân ít hợp, giao du với người mới thì trước yêu sau ghét." Mấy chữ "cô độc chi số, khắc bạc chi thần" là nói về giao tế. Cự Môn là sao của thị phi — vậy Cự Môn "thị" hay "phi"? Vốn là ám điệu như màu đen chìm dưới đáy biển, khó mà biết rõ thị hay phi.

Bốn Hóa của Cự Môn

Trong lối sắp xếp bốn sao Hóa, cổ nhân đã đặt để sao Cự Môn không bao giờ đứng cùng Hóa Khoa — nó chỉ đứng bên Hóa Lộc, Hóa Quyền và Hóa Kỵ mà thôi. Cự Môn đi cùng Hóa Kỵ, lực lượng chướng ngại tăng cao hẳn, bởi vậy Mệnh mà gặp Cự Kỵ dễ rơi vào khẩu thiệt thị phi, tình cảm khó khăn, hoặc có bớt kiện tụng, ngoài ra còn dễ lên bàn giải phẫu.

Cự Môn đứng cùng Hóa Lộc thì lời ăn tiếng nói hoạt bát, tranh biện hay, khả dĩ nói ra tiền, vào nghề thầy kiện, vào ngành truyền thông hợp cách. Nhưng bản tính thì không thực, nói cười thân mật mà thiếu tình cảm chân thành.

Cự Môn đứng với Hóa Quyền, sách bảo rằng đó là hung mà ra triệu chứng tốt (hung vi cát triệu) — nhờ chướng ngại tạo ra phấn đấu mà nên công nên nghiệp, do chướng ngại mà thành công; xã hội biến động bị đẩy vào bước đường cùng, từ cùng sinh biến mà hóa thông, càng vượt nhiều khó khăn càng thành công lớn. Những người làm chính trị, những người có số hoạnh phát thường thấy Mệnh Cự Môn Hóa Quyền. Cự Môn không cần Hóa Khoa, nhưng gặp Hóa Khoa thì Cự Môn sẽ tan biến đi tính chất thị phi cố hữu.

Sáu thế đứng của Cự Môn

Cự Môn đứng một mình ở các cung Tí, Ngọ, Thìn, Tuất và Tị, Hợi. Cự Môn đứng cùng Thiên Cơ ở Mão và Dậu. Đứng cùng Thiên Đồng ở Mùi, Sửu. Đứng cùng Thái Dương ở Dần, Thân.

Cự Cơ tại Mão, Dậu

Thiên Cơ vốn đã động, Cự Môn lại đa biến. Hai sao này thủ Mệnh, cuộc đời biến động nhiều và có tài xoay sở, tuy nhiên chỉ thành công nếu giữ được sự an định — nếu cứ mặc sức biến động thì càng lún sâu vào những khó khăn. Cự Cơ trên nguyên tắc là cách làm giàu, với điều kiện phải có Hóa Quyền, Hóa Lộc, hoặc song Hao (Đại Hao, Tiểu Hao) — đã có Lộc thì không nên có Hao.

Cự Đồng tại Sửu, Mùi

Cự Môn Thiên Đồng gây phiền nhất cả trên tình cảm lẫn danh phận. Cự Đồng thủ Mệnh, số trai khó lập công danh cơ nghiệp, số gái lận đận duyên tình.

Cự Nhật tại Dần, Thân

Cự Môn Thái Dương ở Dần tốt hơn ở Thân, vì Dần cung Thái Dương quang huy còn mạnh, trong khi ở Thân Thái Dương đã về chiều, sức không đủ. Câu phú "Cự Nhật Dần Thân quan phong hầu bá" không hẳn là vậy.

Cự Môn có liên hệ nhiều với Thái Dương. Sách Đẩu Số Toàn Thư viết: "Cự Nhật Dần lập Mệnh Thân tiên khu danh nhi thực lộc, Cự Nhật Thân lập Mệnh Dần trì danh thực lộc" — nghĩa là Mệnh lập tại Thân, Cự Nhật ở Dần xung chiếu, hoặc Mệnh lập tại Dần, Cự Nhật từ Thân xung chiếu, cả hai đều danh vị đi trước, Lộc tới sau. Hai cách trên đều có tiền qua chức vị — chức lớn tiền nhiều, chức nhỏ quyền ít, không thể do kinh thương mà làm giàu.

Rồi một câu khác: "Cự tại Hợi cung, Nhật mệnh Tị thực lộc trì danh; Cự tại Tị Nhật Mệnh Hợi phản vi bất giai" — nghĩa là Cự đóng Hợi, Thái Dương thủ Mệnh tại Tị thì có tiền rồi có danh; nếu Cự đóng Tị, Thái Dương thủ Mệnh tại Hợi thì xấu, khó màng đến danh lộc. Cự Hợi xung chiếu Mệnh khả dĩ kinh thương làm giàu, lớn nhỏ còn tùy các phụ tinh khác.

Còn một cách khác về liên hệ giữa Cự Môn với Thái Dương: "Cự Tuất, Nhật Ngọ Mệnh viên diệc vi kỳ" — an Mệnh cung Dần, Cự Môn đóng Tuất, Thái Dương từ Ngọ chiếu xuống, không bị Tuần Triệt làm ngăn trở Thái Dương, thì cách này công danh tài lộc dễ dàng.

Cự Môn tại Tí, Ngọ — cách "thạch trung ẩn ngọc"

Nói về Cự Môn đóng hai cung Tí và Ngọ, ta thường gọi bằng cách "thạch trung ẩn ngọc" (ngọc còn ẩn trong đá). Cự Môn Tí Ngọ nếu được Khoa Quyền Lộc thủ chiếu là hợp cách ẩn ngọc, tuy không quyền uy lớn nhưng ắt giàu sang. Cự Môn ở Tí tốt hơn Ngọ — vì đóng ở Tí mới được Thái Dương ở Thìn đắc địa; đóng Ngọ thì Thái Dương ở Tuất đã mất nhiều quang huy. Cự Môn Tí hay Ngọ thì Hóa Lộc tạo nhiều sức mạnh hơn Lộc Tồn.

Cách "Tứ Hóa toàn phùng" tại Thìn

Các sao của Tử Vi khoa bao giờ cũng mang hai bộ mặt cát và hung. Cự Môn Hóa Kỵ bị coi làm hung thần, nhưng lúc biểu hiện cũng vẫn có hai mặt tốt xấu. Hãy đọc câu phú: "Cự Môn Thìn cung Hóa Kỵ, Tân nhân Mệnh ngộ phản vi kỳ" — Cự Môn thủ Mệnh tại cung Thìn có Hóa Kỵ, người tuổi Tân lại biến ra kỳ cách.

Cự Môn Hóa Kỵ đi cặp rất xấu, nhưng ở trường hợp này lại chuyển thành tốt, vì nó được cả bốn Hóa: Hóa Quyền đứng bên Thái Dương chiếu lên, Hóa Khoa đứng Tuất với Văn Khúc chiếu qua, và Hóa Lộc đứng cùng Cự Môn — thành ra kỳ cách "Tứ Hóa toàn phùng". Cách này thường gây sôi nổi thị phi nhưng cuối cùng lập thành sự nghiệp to lớn. Cự Môn Hóa Kỵ ở cách này là con người đi ngược thời thượng, không a dua mà đặt định một lề lối riêng biệt, tiến bộ — đi vào mọi lãnh vực chính trị, quân sự, văn học, âm nhạc, đến hội họa, y học.

Nếu như Cự Môn ở Thìn không có Hóa Kỵ, Hóa Khoa, chỉ có Hóa Quyền với Hóa Lộc thôi, thì công danh lại thường do người đề bạt mà nên phú quý — thiếu sức công phá của Hóa Kỵ nên không thành ra người sáng tạo sự nghiệp.

Tuổi Tân đặc biệt hợp với Cự Môn

Sao Cự Môn rất hợp với những người tuổi Tân. Vì tuổi Tân, sự an bài tứ hóa theo thứ tự Cự (Lộc), Nhật (Quyền), Khúc (Khoa), Xương (Kỵ) — đương nhiên hễ Cự Môn thủ Mệnh mà tuổi Tân thì đã chắc chắn có Hóa Lộc, Hóa Quyền. Ngay cả cách Cự Đồng vào Mệnh vốn xấu, nhưng với tuổi Tân cái xấu giảm hẳn đi. Bởi vậy mới có câu phú: "Cự Môn Thìn Tuất hãm địa Tân nhân hóa cát lộc tranh vinh" — Cự Môn ở hai cung Thìn Tuất là đất hãm, nhưng nếu tuổi Tân thì lại vinh hiển.

Cự Môn tại Thìn, Tuất — Thiên La Địa Võng

Cự Môn đóng ở Thìn là cung Thiên La (lưới trời), hoặc cung Tuất là cung Địa Võng (lưới đất), kể như hãm. Thế hãm này chỉ phá được nếu Cự Môn có Địa Không, Địa Kiếp đi bên, hoặc đứng với Kình Dương hay Linh Tinh — cuộc đời trải nhiều bôn ba, thăng trầm, vượt lên mà thành công. Nhắc lại: đã Kình thì thôi Linh, đã có Linh thì đừng nên Kình thêm nữa.

Tài ăn nói và những điều kỵ

Cự Môn vào Mệnh thường là người ăn nói, lý luận vững vàng, mà cũng dễ va miệng nếu nó đứng cùng các sao xấu. Văn Khúc cũng có khả năng ăn nói, nhưng Văn Khúc biết lựa chiều nên ra tiền và làm đẹp lòng người; còn Cự Môn nói để lập luận, phân tích, đả kích mà tạo quyền uy — nếu có Hóa Quyền thì đạt ý muốn, nếu bị các hung sát phá thì kết quả gây thù chuốc oán, phiền não. Tài ăn nói của Văn Khúc mang ý hướng đào hoa, thuyết phục; tài ăn nói của Cự Môn đầy quyền lực, có khuynh hướng áp đặt. Cự Môn đứng với Thiên Đồng, ăn nói thường gàn gàn, khó nghe.

Cự Môn tuyệt đối không hợp với Linh Tinh, Hỏa Tinh. Cự Môn ngại thấy Kình Dương, Đà La. Có những câu cổ quyết ghi trong Đẩu Số Toàn Thư: "Cự Hỏa Linh Tinh phùng ác hạn tử ư ngoại đạo" (Mệnh có Cự, Hỏa, Linh, hay hạn gặp Cự Hỏa Linh Tinh rất hung nguy). "Cự Môn Dương Đà ư Thân Mệnh, tật bệnh doanh hoàng" (Cự Môn gặp Kình Dương, Đà La ở Thân hay Mệnh thì bệnh tật triền miên). Những cách trên nếu gặp Hóa Khoa, hay bộ tam minh (Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ) có thể hóa giải, thêm cả Thiên Hỷ càng tốt.

Cách loạn luân Cự Lương

Cự Môn còn một cách qua câu quyết: "Cự Lương Thân Mệnh, bại luân loạn tục" (Cự Môn và Thiên Lương một ở Thân, một ở Mệnh, thường có khuynh hướng loạn luân). Cách này chỉ xuất hiện khi Cự Môn đóng Mệnh cung mà Thân lại ở Phúc Đức. Trường hợp Thiên Lương ở Mệnh thì Cự Môn bắt buộc phải đóng cung Thê, không ăn nhập gì đến câu quyết trên. Qua kinh nghiệm, chuyện bại luân loạn tục chỉ xảy ra nếu Mệnh hay Phúc Đức có thêm những sao Đào Hoa, Thiên Riêu, Mộc Dục, Không Kiếp.

Những câu phú khác về sao Cự Môn

Cự Nhật Dần Thân thiên môn nhật lãng, kỵ ngộ Lộc Tồn ái giao Quyền Phượng. Cự Nhật thủ Mệnh cung Dần không nên gặp Lộc Tồn mà cần gặp Hóa Quyền, Phượng Các.

Cự Nhật mệnh viên, hạn đáo Sát Hình Kiếp Kỵ tu phòng tâm phế, kiêm Thiên Mã hãm tật tứ chi, duy hạnh song Hao khả giải. Cự Nhật ở Mệnh, vận hạn đến sát tinh, Thiên Hình, Địa Kiếp, Hóa Kỵ thì phải lo bệnh nơi tim phổi; nếu thấy cả Thiên Mã, Tuần Triệt thì đề phòng thương tích tay chân.

Cự Cơ Dậu thượng hóa cát giả, túng hữu tài quan đã bất chung. Cự Cơ thủ Mệnh tại Dậu, nếu giàu sang lớn thì không bền hay không thọ.

Tây Nương Tử áp đảo Ngộ tiền do hữu Cự Cơ, song Hao Quyền Ấn Đào Hồng phu cung. Nàng Tây Thi làm mưa làm gió dưới triều đại Ngô vương, bởi vì cung Phu có Cự Cơ, song Hao, Quyền Ấn, Đào Hồng — cách này tất Mệnh cung có Thiên Lương thủ, đàn bà phóng đãng nhưng cung Phu tuyệt bậc giàu sang.

Mão Dậu Cự Cơ Tân nữ ích tử vượng phu bất kiến Triệt Tuần đa tài thao lược. Mệnh Cơ Cự thủ ở Mão Dậu, người nữ tuổi Tân vượng phu ích tử, nếu không bị Tuần Triệt, là người đàn bà đảm đang, quán xuyến.

Cự Cơ nhi ngộ Lộc Tồn ngữ bất chính ngôn. Mệnh Cự Cơ đồng cung với Lộc Tồn thì hay ăn nói hồ đồ, thiếu thận trọng.

Cự Cơ chính hướng hạnh ngộ song Hao uy quyền quán thế. Cự Cơ thủ Mệnh gặp song Hao thì giàu sang hơn người.

Tân nhân tối ái Cự Môn nhược lâm tứ Mộ phùng Tả Hữu cứu Mệnh chi tinh. Người tuổi Tân hợp với sao Cự Môn — nếu vào đất tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi mà gặp Tả Hữu thì tránh được nhiều hung hiểm trong đời.

Cự, Đồng nhi phùng La Võng, ngộ Khoa Tinh thoại thuyết Lịch Sinh. Cự hay Đồng thủ Mệnh ở Thìn Tuất, có Hóa Khoa thì làm du thuyết như Lịch Sinh đời xưa.

Cự Môn Tị Hợi kỵ ngộ Lộc Tồn nhi phùng Quyền Lộc kiếm sát Đẩu Ngưu. Cự Môn an Mệnh ở Tị hay Hợi không nên gặp Lộc Tồn — Hóa Lộc, Hóa Quyền thì ví như cầm kiếm mà chém.

Cự Môn phùng Đà Kỵ tối hung. Cự Môn đóng Mệnh gặp Đà La, Hóa Kỵ rất xấu.

Cự phùng Tồn tứ cát xứ tang hung, ưu nhập tử cung vô nhi tống lão. Cự Môn đứng bên Lộc Tồn tuy tốt nhưng có hung hiểm ẩn bên trong — nếu hai sao này vào cung Tử Tức thì tới già không con cái nối dõi.

Cự Môn Thê thiếp đa bất mãn hoài. Cự Môn đóng cung Thê luôn luôn bất mãn với duyên tình, không yên với một vợ.

Cự Môn bất mãn trong lòng
Ba lần kết tóc mới xong mối sầu.
(Số nữ có Cự Môn tại cung Phu, phải mấy đời chồng.)

Giải sứ mạc ngộ Cự Đồng kiêm phùng Tang Hổ Đà Riêu hữu sinh nan dưỡng. Cung Tật Ách thấy Cự Đồng mà đi với Tang Môn, Bạch Hổ, Đà La, Thiên Riêu thì sinh mà không nuôi được.

Cự phùng Dương miếu tốt thay
Thăng quan tiến chức vận lành mừng vui.
(Vận đến Thái Dương đắc địa hội Cự Môn thì làm quan thắng chức.)

Kình Đà Linh Hỏa cùng ngồi
Với sao Cự tú một đời tai ương.

Hợi Tị Cự Lộc Quyền rất quý
Gặp Lộc Tồn biến thể ra hư.

Cự gặp Hổ Tuế Phù hội viện
Ấy là nghề thầy kiện quan tòa.

Cự Tí Ngọ gặp Khoa Quyền Lộc
Ấy là người đa học đa năng.

Cự Nhật đồng thủ Dần Thân
Một đời chức tước cháu con sang giàu.
Gặp Quyền Vượng càng thêm vinh hiển
Gặp Lộc Tồn lại kém lắm thay.

Nguồn: Tử Vi Tinh Điển – Vũ Tài Lục

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn