Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Năm loại sao gây họa, cung hạn và họa của phái nam

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202615 phút đọc4 lượt đọc
Năm loại sao gây họa, cung hạn và họa của phái nam

Khoa Tử Vi xếp sao gây họa vào năm loại: sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh và sao trợ họa, nhưng cũng cảnh báo rằng ngay hung tinh đắc địa cũng chỉ tốt được một thời. Với người đàn ông, tai họa đáng sợ nhất thường xuất hiện dưới dạng binh lửa, nước, điện và lưỡi cưa. Bộ sao nào báo trước từng loại tai nạn ấy…


Cung Hạn và những cung khác trước tai họa

Cung Hạn

Những cung hạn cũng có nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa họa. Cung này dùng để xem những biến cố gần, trong một thời kỳ cố định, hoặc 10 năm, hoặc 1 năm, 1 tháng. Nhờ cung hạn, bản chất và thời điểm họa xuất hiện sẽ rõ ràng hơn, cụ thể hơn. Họa cách của hạn sẽ xác nhận họa cách của những cung kể trên. Tuy nhiên, không bắt buộc các mối họa của các cung trên đồng loạt xảy ra trong hạn kỳ này. Những mối họa đó có thể rải rác dài theo mỗi hạn. Dù sao, gặp một hạn xấu, chỉ cần một họa hung hiểm, cũng đủ tác hại, hoặc cho tính mệnh, hoặc cho tài sản hoặc cho gia đạo… đặc biệt là khi hai hạn trùng phùng.

Những cung khác

Họa cách của một cung nào khác chỉ xảy ra cho địa hạt của cung này mà thôi. Ví dụ như Tài chỉ di lụy đến tiền bạc, ở Quan chỉ hại cho sự nghiệp công danh, ở Phu Thê chỉ ứng cho gia đạo.

Đây là những loại họa có tính cách cục bộ. Việc vị trí hóa địa hạt ảnh hưởng của được căn cứ vào sao tọa thủ, sao xung chiếu hay sao chiếu. Tuy nhiên, lắm khi quy luật này không đúng: sao tam chiếu nhiều lúc cũng gây họa trực tiếp và trước tiên.

Cách họa qua các sao

Sau các cung là những vì sao — và khoa Tử Vi thú nhận rằng gần như vì sao nào cũng có thể mang họa nếu đứng sai chỗ.

Khoa Tử Vi có rất nhiều sao gây họa, có thể nói đa số sao đều có ý nghĩa họa nếu phạm vào một số điều kiện, bất luận đó là cát tinh hay hung tinh.

Không phải chỉ có sao xấu mới tác họa. Nhưng sao xấu tác họa mạnh mẽ hơn, vì bản chất của nó là một sao dữ. Ý nghĩa họa tiềm tàng của đa số sao cho thấy khoa Tử Vi quan niệm rất thực tiễn cuộc sống con người. Khi bày ra nhiều sao họa, khoa Tử Vi xem cuộc sống cá nhân rất khó khăn, dẫy đầy bất trắc. Cuộc sống vốn vui ít buồn nhiều, có rất nhiều người bất hạnh trên thế gian, chỉ có một thiểu số có phước. Có người tốt phúc trong địa hạt này lại bạc phúc trong lãnh vực khác: không ai tự hào tránh được hết các họa.

Những điều kiện của sao gây họa tương đối khá nhiều. Tổng quát có thể kể:

  • Sao hãm địa. Nếu sao hung mà hãm địa thì sức phá càng dữ dội.
  • Sao nghịch cách. Có một số sao cần đi chung với nhau mới tương ứng, ví dụ như sao văn hội với văn tinh, sao võ hội với võ tinh. Nếu hai loại này trà trộn, cuộc sống chung bị xáo trộn. Sao cũng như con người. Có cá nhân thuận hợp với kẻ này mà không thuận hợp với người khác. Nếu gặp nghịch khắc trong một cung thì có xung đột, không tốt.
  • Sao nghịch hành với Bản Mệnh. Hành của sao phải phù sinh cho hành của Bản Mệnh thì mới có lợi. Nếu khắc, Bản Mệnh bị thiệt, ngụ ý có trắc trở, nguy hại.
  • Bị sát, hung tinh xâm phạm. Hung tinh trong khoa Tử Vi có thể ví như côn đồ hay người bạn xấu. Chơi chung sẽ có nguy hại tiềm tàng.
  • Đắc địa mà bị hóa giải, cụ thể như sao miếu, vượng, đắc địa mà bị Tuần, Triệt đồng cung.

Nhân tiện, cần có một sự cảnh giác quan trọng đối với sao xấu, gọi chung là hung tinh. Không phải lúc nào hung tinh cũng tác họa. Có trường hợp hung tinh có lợi. Có trường hợp nó gây họa. Hung tinh mà thuận cách thì có lợi. Hung tinh mà đắc địa thì cũng có lợi. Duy, lợi của hung tinh thuận hay đắc địa thường có tính cách nhất thời, không được lâu bền. Khi nói lợi nhất thời, điều này hẳn không có nghĩa là hung tinh không giúp đạt đến tuyệt đỉnh cao sang của hạnh phúc con người. Hung tinh thuận cách đắc địa vẫn chưa đưa con người đến đó, chỉ hiềm hạnh phúc đó không được lâu bền, không bảo đảm chung cuộc đời con người được toàn vẹn.

Trong hung tinh, bao giờ cũng ẩn chứa mối nguy tiềm tàng, bộc phát bất cứ lúc nào. Cho nên sao hung tinh không khi nào được xem như hoàn toàn tốt được: nó chỉ tốt có thời mà thôi.

Xét về họa cách của các sao, ta không thể tiến hành bằng cách định nghĩa từng sao. Ý nghĩa các sao đã được diễn tả đầy đủ trong quyển Tử Vi Hàm Số. Ta chỉ cần xếp loại các sao xấu theo ý nghĩa trội yếu thông dụng của nó mà thôi.

Thông thường, người ta hay căn cứ vào hình thái tác họa của sao để xếp thành 5 loại: sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh và sao trợ họa.

Sát tinh

Sát tinh gây họa nặng nhất. Tai họa mà người đời sợ nhất là cái chết.

Sát tinh làm cho mất mạng, chấm dứt luôn sự nghiệp, tài sản, gia đạo, ảnh hưởng sâu rộng đến rất nhiều lãnh vực.

Áp dụng cho công danh, sát tinh tiêu diệt quý cách, chấm dứt cơ nghiệp. Gặp sát tinh, quan chức bị bãi miễn, bị hạ bệ, hoặc bị tai nạn quan trọng không thể tiếp tục công vụ được nữa. Gặp sát tinh, thương gia bị bại sản, bị đoạt nghề, bị cạnh tranh đào thải, hoặc bị tai nạn mất cả sự nghiệp, gặp sát tinh học trò thi rớt hoặc bị đuổi, hoặc bị tai nạn giao thông không thi cử được.

Ứng vào tài sản, sát tinh tiêu diệt phú cách. Những nhà tư bản gặp sát tinh sẽ tiêu tán sự nghiệp, tài sản bị truất hữu, hoặc bị tai nạn chiến tranh hoặc bị cướp đoạt, lường gạt, quịt nợ hoặc bị tai nạn hay đau ốm mà bán hết của cải, hoặc bị con cái phá tàn tài sản, hoặc bị chủ nợ siết hết ruộng vườn, xí nghiệp.

Đó là nói về những trường hợp phú, quí. Một khía cạnh khác của ý nghĩa sát tinh là không phú, không quí. Sự hiện diện của sát tinh ở những cung chỉ phú quí có nghĩa là đương số vừa nghèo, vừa hèn tức là không có tài sản, không có chức phận: sát tinh bấy giờ tượng trưng cho giai cấp hạ lưu trong xã hội.

Ứng vào gia đạo, sự hiện diện của sát tinh ở Phu Thê báo hiệu cho sự sát phu, sát thê, sự gián đoạn vợ chồng dưới hình thức ly hôn, ly thân hoặc vợ chồng phải sống xa cách nhau lâu năm, chưa kể các trường hợp bị ruồng bỏ vì ngoại tình hoặc đâm chém nhau vì xung đột hay khảo của.

Ứng vào con cái, sát tinh là dấu hiệu sự sát con, con cái không vẹn toàn, sinh thiểu, nuôi ít, hoặc bị tàn tật hoặc thuộc thành phần côn đồ, du đãng, đĩ điếm, gây phiền nhiều cho cha mẹ, phá tán tài sản, ăn hết di sản lại còn mắc nợ, tạo nợ cho cha mẹ.

Được xem là sát tinh có tám sao: Địa Kiếp, Địa Không, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Không, Kiếp Sát. Càng hội tụ nhiều, càng bị hãm địa nhiều, những tai biến và thiệt hại kể trên càng dễ xảy ra sớm, mau, nặng nề. Sát tinh hội tụ ở cung nào thì cung đó bị ảnh hưởng nhiều nhất. Ngoài ra, còn phải kể thêm những yếu tố ngoại thuộc nữa như chính tinh hãm địa, khắc hành Bản Mệnh phối trí nghịch cách với phụ tinh, thiếu sao giải mạnh… Càng thêm nhiều yếu tố bất lợi, tai biến càng dễ xác nhận. Bằng không, chỉ có thể kết luận trên một phần tai biến mà thôi.

Hình tinh

Hình tinh tạo ra hình ngục, ảnh hưởng đến tự do cá nhân, kiện cáo di lụy đến uy tín cá nhân.

Gặp hình tinh, trong trường hợp là nạn nhân, đương số sẽ bị giam cầm, tra tấn, đói khát, hành hạ thể xác và tinh thần, có thể bị đau ốm hay tật nguyền trong thời gian bị bắt giữ, có thể bị đày ải ở chỗ rừng thiêng nước độc, hoặc bị cầm cố ở xà lim chật hẹp, dơ dáy. Ở mức độ nhẹ hơn, hình tinh là dấu hiệu của sự kiện tụng, sự điều tra bởi tòa án, cảnh sát hay giám sát viện. Trong trường hợp này, uy tín, tài sản có thể bị hao hụt, chưa kể những lần lo lắng cạnh tranh thù hằn phải gánh chịu.

Được xem như hình tinh các sao Thiên Hình, Quan Phù, Thiên La, Địa Võng, Thái Tuế, Quan Phủ, Liêm Trinh chỉ hình ngục, quan tụng một cách trực tiếp. Ngoài ra, sát tinh cũng có nghĩa hình tụng, nếu đi kèm với một trong những hình tinh kể trên. Mặt khác, hao tinh, bại tinh, kỵ tinh, ám tinh cũng góp phần xác định rõ rệt hơn đặc thái của sao hình.

Bại tinh, hao tinh

Sao bại hay sao hao làm cho lụn bại, hao tán. Có thể sự hao này liên quan đến cơ thể, chẳng hạn như bệnh nan y, suy nhược toàn bộ thân thể hay làm tê liệt bán thân hoặc tứ chi. Có thể sự hao bại liên quan đến quan trường sự nghiệp, chẳng hạn như bị giáng chức, sụt lon, không được giữ chức vụ chỉ huy hoặc bị mất uy tín, giảm hậu thuẫn kém thế lực, thất sủng, kém điểm. Có thể sự hao bại liên quan đến tài sản, ví dụ như mất của, hao tài, bị ăn chận, giựt nợ, bắt địa, tống tiền, sang đoạt. Có thể sự hao bại liên quan đến gia đình như tang khó, thân nhân đau ốm, tai nạn, gia đạo xào xáo, vợ chồng nghi kỵ, anh em bất hòa, nhân tình ruồng bỏ.

Ám tinh

Là những sao gây trở ngại, trục trặc.

Ứng dụng cho cá nhân, ám tinh có thể là vài tính nết đặc biệt kìm hãm sự tiến thủ của con người về mặt công danh tài lộc. Trong trường hợp đương số là nạn nhân, ám tinh tượng trưng cho tiểu nhân, đố kỵ, phá hoại, ganh ghét làm cản trở bước tiến của mình.

Ứng dụng cho công danh, ám tinh chỉ sự cạnh tranh trong quan trường, sự trục trặc về thủ tục, sự gò bó khắt khe của điều kiện hoặc những cơ hội, hoàn cảnh bất lợi cho sự thăng tiến. Các hình thái này cũng ứng dụng cho tài lộc.

Ứng dụng cho gia đạo, ám tinh là sự cản trở hôn nhân, sự phá hoại hôn nhân, sự cạnh tranh giữa hai gia đình tổn hại đến hôn nhân, hoặc là sự xâm nhập của một người thứ ba vào đời sống vợ chồng, sự bắt ghen, sự gièm pha, nói xấu, chim vợ, chim chậu của người khác…

Được xem như ám tinh các sao Hóa Kỵ, Cự Môn, Phục Binh, Thiên Riêu, Thiên Không, Phá Quân, Thái Tuế, Tử Phù, Suy, Tử, Trực Phù, Tuần, Triệt, Cô Thần, Quả Tú, Tuế Phá, Thiên Thương, Thiên Sứ, sát tinh, hình tinh, hao bại tinh đều đóng góp vào ý nghĩa của ám tinh.

Sao trợ họa

Hầu hết sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh đều hỗ trợ cho nhau để gây tác hại dây chuyền. Chính tinh nào hãm địa cũng đều trợ họa như thế. Ngoài ra, có những sao trực tiếp trợ họa bao gồm: Tả Phù, Hữu Bật, Hóa Quyền, Quan Đới, đi chung với sao xấu, sao trợ họa làm xấu thêm, nặng hơn. Riêng sao Thiên Tài thì làm xấu đi ảnh hưởng của Thái Dương và Thái Âm miếu, vượng địa.

Ngũ hành của sao cũng góp phần trợ họa. Thông thường sao hỏa đi chung với nhau tác họa lẹ hơn hết, báo hiệu sự bạo phát của biến cố, làm cho tai họa nặng hơn, nhanh hơn, khó tránh hơn: đây có thể là những trường hợp bất khả kháng, trong đó con người hầu như bất lực.

Để khảo sát họa cách cho phong phú và cụ thể, có thể tạm chia họa của con người thành bảy loại:

  • Họa cho cá nhân.
  • Họa cho nghề nghiệp.
  • Họa cho tài sản.
  • Họa cho gia đạo.
  • Họa cho con cái.
  • Họa cho cha mẹ.
  • Họa cho anh em.

Họa cho cá nhân: họa của phái nam

Bảy loại họa đã được gọi tên; loại đầu tiên chạm ngay vào chính con người — tính mạng, thân thể, tự do.

Ở phần này, ta chỉ nói đến họa ảnh hưởng đến tính mạng, cơ thể, đến tự do, đến đời sống tâm lý tình cảm, đến nếp sống đạo đức con người, nam cũng như nữ. Bệnh tật không được đề cập ở đây.

Có ba loại họa đáng kể cho nam mệnh là họa đến tính mạng hay cơ thể, họa ngục hình, họa sắc dục.

Họa đến tính mạng, hoặc cơ thể

Họa này có thể xảy ra bất cứ ai chớ không riêng gì cho quân nhân. Nhưng, nếu là quân nhân, họa dễ xảy ra hơn. Có nhiều hình thái phức tạp với họa này, cụ thể như bị tử trận, bị ám sát, bị thanh toán, bị chiến nạn. Tai họa càng chắc chắn nếu sao hãm địa.

Không, Kiếp, Binh, Hỏa, Linh

Đây là năm sao điển hình của tai nạn binh lửa. Có khi không cần phải hội đủ cả năm, chỉ cần ba cũng đủ. Trong số ba sao, tối thiểu phải có Địa Không, (hoặc Địa Kiếp) và Hỏa Tinh (hoặc Linh Tinh).

Địa Không, Địa Kiếp chỉ các tai nạn bất khả kháng, dữ dằn, nặng nề, thủ phạm rất lợi hại và hung bạo, hành động bất ngờ và nhanh chóng.

Phục Binh chỉ sự ám hại, sự phục kích, thường có tòng phạm giúp đỡ. Hỏa hay Linh chỉ họa lửa như phỏng lửa, chết cháy, bị bom, bị đạn, bị chất nổ…

Nếu có thêm sát tinh khác, hình tinh, hao bại tinh thì càng dễ chết. Nếu gặp sao trợ họa như Tả Phù, Hữu Bật, Hóa Quyền thì họa càng khó tránh. May ra gặp được nhiều sao giải mạnh mẽ hội tụ trong bối cảnh Phúc, Mệnh, Thân tốt mới khỏi. Trong trường hợp này, có thể bị thương. Vị trí thương tích tùy thuộc vào những sao chỉ cơ thể đi kèm. Nếu có nhiều sao chỉ cơ thể đi cùng thì có thể nhiều bộ phận bị thương phế cùng một lúc.

Đối với quân nhân năm sao đó thường ứng dụng cho bộ binh, mặc dù không phải lúc nào cũng nhất thiết như vậy.

Phi, Việt

Hội với sát tinh, đặc biệt là Không, Kiếp, Hỏa, hai sao này chỉ làn tên mũi đạn, đặc biệt là sao Phi Liêm.

Bộ sao này thường ứng cho các tai nạn trên phi cơ (máy bay bị bắn, phi công bị đạn…), cho giới không quân.

Một hình thái khác là họa về điện, cụ thể như bị điện giật chết hoặc bị thương hay bị sét đánh.

Lưu Hà, hoặc Cự, Kỵ

Đi với sát tinh, đặc biệt là Không Kiếp, Lưu Hà chỉ tai họa ở dưới nước, thường ứng dụng cho hải quân. Người thường có thể chết đuối vì tai nạn hoặc bị dìm dưới nước, hoặc tự trầm. Ứng về tài sản thì có thể thuyền, bè bị chìm, tàu bị đắm.

Kình, Đà

Hai sao này nhẹ họa hơn Không, Kiếp, thường ám chỉ thương phế nhiều hơn là chết. Nhưng đi đôi với Không, Kiếp vẫn có thể chết.

Thương phế thường xảy ra cho tay chân (gãy tay, gãy chân, trặc chân, lọi tay…), đi với Hỏa, Linh thì bị phỏng ở tay chân.

Hình, Kiếp Sát

Về mặt tai nạn, Thiên Hình và Kiếp Sát chỉ tai nạn nói chung, cụ thể là thương tích có thể đi đến chỗ mổ, cưa. Bộ phận cơ thể nào bị Hình hay Kiếp Sát thì bị mổ hay bị cưa. Ví dụ như Thiên Mã, Thiên Hình thì bị cưa chân, cưa tay hoặc bể xương chân tay, Thiên Đồng, Thiên Hình thì đổ ruột, bể gan, lủng bao tử…

Đi với sát tinh đặc biệt là Kiếp Không thì có thể chết vì binh đao hay vì bị mổ xẻ.

Quan Đới

Đi với sát tinh, sao này chỉ cái chết bất đắc dĩ, tức là không bệnh mà chết, chết nhanh chóng.

Tử, Tuyệt

Hai sao này cũng chỉ bước đường cùng tức là cái chết, nếu đi chung với sát tinh.

La, Võng

Có tác giả cho rằng 2 sao này mà gặp sao tốt thì thành hung, từ đó góp phần gây họa vào các hạn xấu.

Thương, Sứ

Hai sao này chỉ dùng để xem hạn. Đi với sát tinh, Thương Sứ tác họa. Có khi họa này không hẳn là họa binh đao.

Những phụ tinh kể trên càng hội tụ nhiều càng làm cho họa nặng thêm, khó tránh, dễ chết. Đặc biệt là khi đại, tiểu hạn trùng phùng mà gặp thì rất nguy kịch. Đối với hai sao Kình, Đà nếu gặp Lưu Kình, Lưu Đà đồng cung thì hiểm họa càng tăng.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề