Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Nhân sự trợ giúp, tài lộc và chỗ dùng của sát tinh trong quan cách

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202613 phút đọc2 lượt đọc
Nhân sự trợ giúp, tài lộc và chỗ dùng của sát tinh trong quan cách

Tử Vi phải có Tả Hữu thì vua mới có lương thần phò tá; không có người giúp sức, quan cách dù đẹp cũng chỉ là chuyên viên làm việc lẻ loi. Nhưng chốn quan trường còn một điều lạ: chính những sao dữ như Kình Dương, Địa Kiếp đôi khi lại dựng nên sự nghiệp cho người cầm quân. Chỉ cần đúng hoàn cảnh…


Phụ tinh chỉ nhân sự trợ giúp

Thiên thời, địa lợi rồi còn phải có nhân hòa: một mình một ngựa, quan cách dù đẹp cũng thiếu kiến hiệu.

Thiếu nhân sự trợ giúp, quan cách thiếu kiến hiệu, thông thường là những chuyên viên làm việc lẻ loi, âm thầm. Có nhân sự thì quyền uy rõ ràng hơn, sự kiến hiệu nhiều hơn, có sự giúp sức của nhiều đồng nghiệp trong công vụ.

Tả Phù, Hữu Bật

Chỉ sự giúp đỡ với người, đặc biệt là đồng sự, đồng song. Người có Tả Hữu ở Quan có tài giao tế nhân sự, có đức tính khéo léo thu được thiện cảm của người trên, có sự mềm mỏng cần thiết để được người ngang hàng cộng lực.

Sự đắc quan của Tả Hữu chủ yếu nhờ ở người khác.

Ngoài ra, cũng có nghĩa là quyền tước hiển vinh, nhờ có nhiều người phục tùng: đây là cách làm quan chỉ huy sai khiến nhiều hạ cấp, lãnh trách nhiệm điều khiển một cơ quan có đông nhân viên, cụ thể như sĩ quan cầm quyền, viên chức có nhiều thuộc hạ.

Có người cho sao Tả thuộc văn tinh, thiên về mưu cơ sách lược, đắc dụng với công việc cố vấn, cận thần, hợp với Tử, Phủ. Trái lại, sao Hữu thuộc võ tinh, ví như tướng ngoại biên, do đó nếu chiếu vào Tử Phủ thì tốt hơn đồng cung với Tử Phủ. Trong cả hai trường hợp Tả, Hữu không nên đi chung với sát tinh.

Sau cùng, Tả, Hữu cũng có nghĩa là đa nghệ, tức là giỏi trong nhiều lãnh vực, có thể kiêm nhiếp hai, ba chức một lần. Ví dụ như Hóa Khoa có Tả Hữu là người biết nhiều sinh ngữ, Hóa Quyền có Tả Hữu có thể điều khiển hai cơ quan, chỉ huy hai đơn vị. Tả Hữu đi với chính tinh sẽ làm cho chính tinh thêm quan trọng. Tử Vi phải có Tả Hữu thì vua mới có lương thần phò tá, cách làm vua rực rỡ hơn, lâu bền hơn. Tả Hữu là hệ số của tài năng, của quyền hành.

Thiên Quan, Thiên Phúc

Chỉ sự giúp đỡ của những ân nhân, bè bạn, Mạnh Thường Quân, cảm tình viên, cổ động viên…

Tướng Quân, Phá Quân, Phục Binh

Đặc biệt nếu cung Quan có Thiên Tướng mà được thêm ba sao này hội tụ thì sẽ tăng thêm uy quyền cho Thiên Tướng và có nghĩa như tướng có quân, cầm quân.

Thiên Mã, Tràng Sinh, Đế Vượng

Đây cũng là bộ sao phụ tùy cho quan cách. Mã biểu hiện cho nghi thức long trọng, Sinh, Vượng chỉ sự phong phú và có nghĩa như tiền hô hậu ủng, có ngựa có nhạc, lễ, uy phong.

Binh, Hình, Tướng, Ấn

Bộ sao này cũng chỉ sự cộng sự đắc lực và có quyền, trợ uy cho võ cách.

Ân Quang, Thiên Quý

Chỉ ân sủng của thượng cấp và sự hậu thuẫn trung kiên và lâu bền của thuộc hạ.

Phụ tinh chỉ tài lộc trong quan trường

Chức càng cao, bổng lộc theo sau — và những sao chỉ tiền của cũng có phần ở cung Quan.

Bất cứ sao nào đóng ở cung Quan đều chỉ bổng lộc do hoạn lộ mang lại. Nó gián tiếp đề cao sự quan trọng của chức vụ, cụ thể là xác định nghề nghiệp chuyên môn về tài chánh, kinh tế của quan cách. Những sao Hóa Lộc, Lộc Tồn, Thiên Trù, Thiên Mã, Tràng Sinh, Thiên Mã Hóa Lộc hay Thiên Mã Lộc Tồn đều đồng nghĩa, chỉ tài quan song mỹ.

Sát, hung tinh trong quan cách

Bấy lâu ta chỉ nói đến các sao tốt; nhưng ở chốn quan trường, có lúc chính những sao dữ lại làm nên sự nghiệp.

Trong suốt phần trên, ta đề cập đến cách làm quan các phụ tinh tốt gọi chung là cát tinh. Điều này có thể gây ngộ nhận là chỉ những cát tinh mới giúp thăng quan tiến chức, còn hung sát tinh làm giảm quan chức.

Nói chung, quan điểm này có phần chí lý: hung sát tinh, cho dù đắc địa, đều chứa đựng mầm móng hung họa cho quan trường.

Nhưng, đi vào chi tiết, quan điểm này không mấy chính xác vì quá giản lược vấn đề. Muốn đánh giá lợi hại của hung sát tinh, cần phải phân biệt thêm:

  • văn cách hay võ cách của lá số
  • vị trí đắc địa hay hãm địa của hung sát tinh.
  • hoàn cảnh phục vụ của con người.

Không phải lúc nào hung sát tinh cũng bất lợi cho quan trường. Đoàn sao này chỉ xấu khi nào không hợp cách, khi nào bị hãm địa mà gặp cách hãm địa, và khi con người phục vụ trong một môi trường mâu thuẫn với cách số của mình.

Hợp cách

Mỗi sao, tùy ý nghĩa, mang một tính cách riêng. Trên phương diện quan chức, có hai trong cách văn võ.

Nếu văn tinh quần tụ đông đảo với nhau thì văn cách trội yếu. Trái lại, nếu võ tinh tập trung nhiều thì võ cách trội yếu. Hai trường hợp này được gọi là thuần cách. Được thuần cách thì quan trường dễ đạt và hiển quý.

Trong trường hợp văn, võ tinh pha trộn với nhau gọi là phối cách. Khoa Tử Vi coi nhẹ giá trị của phối cách, xem phối cách kém hơn thuần cách, thậm chí còn cho là tạp cách hoặc phá cách.

Hung sát tinh được xếp vào loại võ cách. Điều này không hẳn có nghĩa là có sao này thì đương số sẽ làm quan võ mà chỉ có nghĩa là đương số có nhiều võ tính, có triển vọng, có điều kiện để làm quan võ. Theo khuynh hướng đề cao thuần cách, khoa Tử Vi cho rằng võ tính (biểu hiện bởi hung sát tinh) phải đi đôi với võ cách mới hợp vị và đắc thế. Lý do là võ nghiệp chỉ hiển đạt nơi nào người có đặc tính, tác phong của quan võ. Thuật nhân dụng cổ điển đặt văn bản trên nguyên tắc đó: dùng người đúng năng khiếu, đúng hoàn cảnh.

Hợp vị trí

Trong thế hợp cách, có nhiều mức độ hiển đạt khác nhau. Có quan võ thành công, có quan võ kém hay không thành công. Mức độ thành công tùy thuộc vào vị trí đắc địa hay hãm địa cùng tương quan ngũ hành của võ tinh với nhau. Nói chung, hung sát tinh đắc địa trong võ cách cũng đắc địa thì đại quý. Nếu sao đắc địa pha trộn với sao hãm địa thì kém hơn. Nếu hoàn toàn hãm địa thì rất xấu.

Hợp hoàn cảnh

Chỗ lợi dụng nhất của võ tinh là hoàn cảnh tạo loạn, các trường hợp cần đến biện pháp mạnh, đòi hỏi sử dụng bạo lực, chém giết sát phạt đổ máu.

Những loại võ cách

Theo quan niệm thuần cách của khoa Tử Vi, có thể kể hai loại võ cách đầy đủ và thuần túy nhất: đó là Sát Phá Liêm Tham và Vũ Tướng.

Hung sát tinh đi chung với một trong hai cách này thì hợp võ cách, gọi là võ chính cách. Nhưng võ nghiệp thành công nhiều ít còn tùy thế đắc địa hay hãm địa của hung sát tinh và của hai võ cách đó. Có hai sự phối trí khả hữu cho hai bộ võ cách với hung sát tinh.

Hung sát tinh đắc địa gặp Sát Phá Liêm Tham đắc địa hay Vũ Tướng đắc địa

Gặp bộ Sát Phá Liêm Tham đắc địa, hung sát tinh đắc địa báo hiệu sự hiển đạt của võ nghiệp trong thời loạn, nhờ đức tính táo bạo, mạo hiểm, bất khuất trong hoàn cảnh hết sức khó khăn. Bộ này có cả phú lẫn quý, tức là vừa có danh vừa có lợi. Nhưng công danh không được lâu bền, nhưng cũng tàn lụi.

Gặp bộ Vũ Tướng thì toàn mỹ về cả công danh lẫn tiền bạc trong suốt thời gian sinh tiền, không bị ảnh hưởng của sự thăng trầm, hoạnh phá.

Nếu hai bộ này hãm địa, sát tinh dù có đắc địa nhưng cũng không quân bình được bất lợi: công danh nhỏ, chức vụ thấp, thăng giáng thất thường.

Hung sát tinh hãm địa gặp Sát Phá Liêm Tham hãm hoặc Vũ Tướng hãm

Gặp Sát Phá Liêm Tham hãm địa, hung sát tinh hãm địa càng giảm chế công danh, khiến quân nhân khó thăng tiến, trở thành bất đắc chí, càng tung hoành càng gặp hung họa lớn lao. Nếu bốn sao chính mà sáng sủa thì quan cách tương đối cao hơn, nhưng thiếu thuộc hạ đắc lực vì hung sát tinh hãm địa. Chẳng những thế, hung sát tinh hãm địa còn gây họa cho chính mình.

Gặp Vũ Tướng hãm địa thì cũng dưới mức trung bình và gặp nhiều hung họa. Trái lại, nếu Vũ Tướng đắc địa thì lại rất hay: chẳng những có uy danh mà còn khắc phục được trở ngại và những âm mưu bất chính của đối thủ.

Hung sát tinh với những bộ sao khác

Đó là những bộ sao: Tử Phủ Cự Nhật và Cơ Nguyệt Đồng Lương, phần lớn chỉ văn cách.

Theo quan niệm thuần cách của khoa Tử Vi, văn cách trong mỗi bộ sao người cần phải né tránh sát tinh thì mới hiển đạt. Gặp sát tinh, các sao này có thể ví như vua gặp hung đồ, lương thần sống chung với bọn gian nịnh, đạo tặc: quan trường phải cạnh tranh, đối chọi, đấu trí gian nan, chưa kể những hung họa hiểm nghèo khả hữu. Điều kiện để tranh thắng loại hung sát tinh đó nhất định phải hội đủ sao trong một bộ, mỗi sao phải đắc địa trở lên. Nếu đắc địa, cuộc đấu tranh tuy có cam go, chật vật và đầy hung hiểm, nhưng bản Mệnh tương đối đỡ nguy. Nếu đoàn sát tinh hãm địa, nguy cơ nhiều hơn, có hệ lụy đến công danh.

Nếu chính tinh trong mỗi bộ sao mà hãm địa hết thì quan cách chẳng những không ra gì mà còn gặp nhiều hiểm nguy đến bổn mạng.

Đặc điểm của những hung sát tinh trong võ cách: Địa Không, Địa Kiếp

Chỉ khi nào đắc địa, hai sao này mới lợi cho công danh trong khuôn khổ của võ cách đã kể. Không giúp bộc phát rất nhanh, theo đúng thể cách của sao hành hỏa, đặc biệt là trong thời loạn. Dù sao, võ nghiệp của Kiếp Không hết sức cực nhọc, khó khăn và nguy hiểm, phải đương đầu với nhiều địch thủ lợi hại trong môi trường đầy hung hiểm.

Tuy nhiên, Kiếp Không dù đắc địa cũng thăng trầm chỉ giúp võ nghiệp hiển đạt mà thôi. Hầu hết công danh của hai sao này không lâu bền, bất toại, làm nhiều, làm cực mà chỉ hưởng lợi giai đoạn.

Trong giai đoạn hiển đạt, nếu Kiếp Không đắc địa được trợ lực bởi các sao khác, cụ thể như Tướng Quân, Thiên Mã hay Binh Hình, Tướng Ấn thì quan cách thêm hiển hách: đó là các tướng lãnh có quyền, có cầm quân lâm trận, đánh nam dẹp bắc, được nhiều tay chân đắc lực phò tá, tạo nên sự nghiệp sáng chói trong cảnh loạn ly. Thiếu trợ tinh đó, Kiếp Không đắc địa chỉ một tài năng cô độc.

Mặt khác, dù Kiếp Không đắc địa tương hợp với cách Sát Phá Liêm Tham đắc địa, nhưng sự hoạnh phát không tránh được cảnh hoạnh phá: con người tuy có võ chức cao, có thành công lớn, nhưng vẫn dễ bị phá sản, trong một giai đoạn nào đó.

Chỉ trừ phi đi chung với Vũ Tướng đắc địa thì quan toàn mỹ. Đây là cách hiếm có đặc biệt trong võ nghiệp.

Nếu hãm địa, Kiếp Không chẳng những vất vả gian truân mà còn bất đắc chí và thường gặp hung sự hiểm nghèo, có hại đến tính mạng, hoặc bị bệnh tật nặng nề, tai họa và binh lửa. Công danh sự nghiệp dễ bị gián đoạn bất thần, hoặc bấp bênh lụn bại, tài sản có thể bị hao hụt nặng, ít nhất cũng một lần trong đời. Có ba biệt lệ tốt đẹp cho trường hợp hãm địa:

  • Kiếp Không hãm đi chung với Vũ Tướng đắc địa: trở lực nhiều nhưng con người khắc phục được, có công danh sự nghiệp lớn.
  • Kiếp Không hãm cách gặp Tử Phủ sáng sủa, Cự Nhật hay Cơ Nguyệt Đồng Lương đắc địa: tài quan tuy lớn lao nhưng có nhiều bất trắc, vất vả gian truân. Chỉ sự hậu thuẫn của người trên mà ít được sự trợ giúp của kẻ dưới (vì Kiếp Không hãm).
  • Kiếp Không hãm gặp cách Sát Phá Liêm Tham đắc địa, công danh cao, nhưng người còn bất đắc chí, được người trên giúp đỡ, nhưng thiếu nhân sự ở dưới trợ lực, phần lớn hạ cấp đều bất tài, tham nhũng, sát thủ.

Kình Dương, Đà La

Quan cách của Kình, Đà chỉ hay khi hai sao nào miếu địa: Kình ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Đà thì đắc địa thêm ở Tỵ và Hợi. Kình Đà là sát tinh nếu gặp đắc địa thì cương nghị, quả cảm, khí phách, cơ mưu, thủ đoạn, có tinh thần bất khuất: đây là nét dũng khí của sĩ quan tác chiến, chấp nhận nguy hiểm và khắc phục nguy hiểm, đồng thời cũng là dũng khí của quan văn, không chịu đầu hàng nghịch cảnh. Cả hai hạng đều là loại anh hùng, có tài và đắc dụng.

Nếu được thêm Hỏa Linh đắc địa hội tụ thì rất khét tiếng trong binh nghiệp, có khả năng chế phục địch quân. Được Tướng Quân, Thiên Mã, Khoa, Quyền, Lộc thì quan cách hết sức lẫy lừng, thường bách chiến bách thắng.

Nếu gặp hung tinh như Kiếp, Không, Hình, Kỵ thì cũng tài giỏi nhưng phải gặp nhiều thăng trầm, hung họa lớn lao, chết thảm.

Trong trường hợp hãm địa, Kình Đà là người rất bướng bỉnh, ngoan cố, ngỗ ngược, liều lĩnh và gian trá. Quân nhân có cách này là Âm Binh, ba gai, coi thường kỷ luật, bất trị. Do đó, tai họa dễ xảy đến, từ hình tù cho đến thương phế tay, chân và chết thảm. Kình Đà hãm địa ở Quan tượng trưng cho trở lực, khó khăn gặp phải, sự gian nan cơ cực và hiểm nghèo của công tác, có làm mà không được hưởng, chung qui dễ gặp nạn.

Riêng sao Kình ở Ngọ thì rất hung hiểm, dễ chết bất đắc, trừ phi được cát tinh như Tướng, Mã, Khoa, Quyền, Lộc hội tụ mới hiển đạt.

Nếu Kình đi chung với Lực Sĩ thì, dù Kình đắc hay hãm địa, người đó khó tiến đạt, bị bỏ quên, bị đè nén. Đắc địa thì có tài mà không được biết, hoặc biết mà không được dùng, hoặc được dùng mà bị kiềm tỏa. Hãm địa thì là hạng vô dụng, bị bỏ xó, ngồi chơi xơi nước.

Riêng Đà La ở Dần, Thân, vô chính diệu thì đắc cách quý hiển cả về văn lẫn võ. Nếu bị Tuần, Triệt án ngữ tại đây thì sẽ mất hết cái hay.

Lẽ dĩ nhiên, trong mọi trường hợp Kình Đà hãm địa mà bị thêm sát tinh khác hãm địa đi kèm thì hung họa, cơ cực không sao kể xiết: nghèo thì trộm cướp, hình tù, khá thì bất nhân bất nghĩa, thông thường thì yểu vong và chết mà không toàn thây.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề