Bài tổng quan
Cách Cục Tử Vi: Hợp Cách, Phá Cách, Thập Đẳng Và Mệnh Vô Chính Diệu
Theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, muốn biết phú quý, bần tiện, thọ yểu hay họa phúc của một người, trước hết phải định rõ cách cục của Mệnh. Các cách dùng để phê số chia thành phú cách như Nhật Nguyệt hiệp tài, quý cách như Quân thần khánh hội, Thất Sát triều đấu, và bần tiện cách như Sinh bất phùng thời, Mã lạc Không Vong. Mười hai bài quyết cho biết Mệnh an tại từng cung, gặp sao nào, hợp tuổi nào thì hưởng phú quý; các bài quyết khác chỉ ra chính tinh thất hãm khiến đời người khó toàn mỹ. Thập Đẳng Luận xếp con người thành mười hạng, từ Phúc thọ đứng đầu tới Tăng đạo đứng chót, theo quan niệm Nho gia. Mệnh vô chính diệu đại lược là xấu, nhưng đắc Tam Không thượng cách lại thành số cực phú quý.
Cách Cục
Tử Vi đẩu số toàn thư viết: "Ở con người Mệnh có cách cục, trước hết phải biết rõ cách cục rồi xem ác tính để biết phú quí, bần tiện, thọ yểu, để biết vận hạn, họa phúc."
Phú cách
- Tài ấm hiệp ấn (Thiên Tướng thủ Mệnh, Vũ Khúc Thiên Lương hội hiệp, ở điền trạch cung cũng vậy).
- Ấm ấn củng thân (lời giảng không rõ).
- Nhật Nguyệt hiệp tài (Vũ Khúc thủ Mệnh, Nhật Nguyệt giáp mệnh).
- Tài Lộc hiệp mã (Thiên Mã thủ Mệnh, giáp Vũ Khúc, Hóa Lộc nếu thủ mệnh ở đất tràng sinh hay đế vượng càng hay).
- Nhật Nguyệt chiếu bích (Nhật Nguyệt ở điền trạch cung, tại Thìn Tuất Sửu Mùi mới thật tốt).
- Kim sán quang huy (Thái Dương đơn thủ mệnh cung ở Ngọ).
Quí cách
- Nhật Nguyệt hiệp mệnh (Mệnh giáp Nguyệt, giáp Nhật, bản mệnh phải có sao tốt và phòng bị Không Vong).
- Nhật xuất phù tang (Thái Dương tại cung Mão thủ mệnh hoặc quan lộc cung).
- Nguyệt lạc Hợi cung (Thái Âm cư Hợi thủ mệnh, còn gọi là Nguyệt lãng thiên môn cách).
- Nguyệt sinh sương hải (Thái Âm ở cung Tí, thủ điền trạch).
- Phụ Bật củng chủ (Tử Vi thủ mệnh được Tả Phụ Hữu Bật chiếu, xung).
- Quân thần khánh hội (Tử Vi, Tả Hữu cùng ở cung mệnh, lại gặp Vũ Khúc, Thiên Tướng chiếu).
- Tài ấn hiệp lộc (Lộc thủ Mệnh, Thiên Lương Thiên Tướng hội hiệp).
- Tọa quí hướng quí (Khôi Việt chiếu mệnh, hoặc Khôi ở mệnh, Việt hướng vào và ngược lại).
- Thất Sát triều đấu (Thất Sát thủ mệnh ở Dần Thân Tí Ngọ).
- Nhật Nguyệt tinh minh (Thái Âm, Thái Dương đều đứng ở miếu vượng địa chiếu sáng).
- Mã đầu đới nhẫn (Nhẫn là sao Kình Dương gặp Thiên Mã, nhưng phải ở tứ mộ địa mới hay, ở Ngọ cung xấu).
- Hình tù hiệp ấn (Thiên Tướng thủ Mệnh Thân, có Thiên Hình, Liêm Trinh hội hiệp, quí về võ cách).
- Khoa Quyền Lộc củng (chiếu thủ có cả ba Khoa, Quyền, Lộc).
- Tham Hỏa tương phùng (Tham Lang cư miếu địa, thủ Mệnh tại cung Mão).
- Kình Dương nhập miếu (đơn thủ Mệnh cung ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi).
- Kim du phò giá (Tử Vi thủ Mệnh, có Nhật Nguyệt giáp mệnh? — sách tự phê: lời giảng sai vì làm sao có thể gặp Thái Dương hoặc giáp Thái Dương?).
Bần tiện cách
- Sinh bất phùng thời (Mệnh tọa Không Vong lại gặp sao Liêm Trinh).
- Nhật Nguyệt tàng huy (Thái Âm, Thái Dương hãm địa gặp Cự Môn).
- Quân tử tại dã (Mệnh có Tứ Sát, chính diệu lại ở hãm địa, ví như người quân tử lang thang).
- Lộc phùng lưỡng sát (Lộc tọa Không Vong, Tuần Triệt gặp thêm Không Kiếp).
- Mã lạc Không Vong (Thiên Mã ngộ Triệt Tuần, dù có Lộc Tồn, Hóa Lộc xung chiếu cũng vô ích).
- Tài dữ tù cừu (Vũ Khúc, Liêm Trinh cùng ở thân hay mệnh).
- Nhất sinh cô bần (Phá Quân thủ mệnh hãm địa).
- Lưỡng trùng Hoa Cái (Lộc Tồn, Hóa Lộc gặp Không Kiếp).
Những cách cục đặt ra trên đây thu gọn cho việc phê số. Còn cần phải đi vào chi tiết về hãm địa, đắc địa, hợp cách, phá cách của các sao thì sự định cách cục mới hoàn tất được. Tử Vi đẩu số toàn thư có viết một đoạn văn cho vấn đề này gồm bốn phần:
a. Hợp cách của các sao tại 12 cung.
b. Phá cách của các sao tại 12 cung.
c. Các sao đắc địa tại 12 cung hưởng phú quí.
d. Luận về số nghèo hèn do các sao hãm địa tại 12 cung.
Thập Nhị Cung Chư Tinh Đắc Địa Hợp Cách Quyết
Lần lượt xin chép và dịch từng đoạn một. Trước hết là phần (a): Hợp cách của các sao tại 12 cung, Tử Vi đẩu số toàn thư gọi là "Thập nhị cung chư tinh đắc địa hợp cách quyết".
Mệnh tại Tí cung
"Tí cung Tham Lang Sát Ám tinh
Cơ Lương tương củng phúc phi khinh
Canh Tân Ất Quí sinh nhân mỹ
Nhất sinh phú quí túc phong vinh."
Nghĩa là: khi mệnh đóng cung Tí có Tham Lang, Thất Sát, Thái Âm thủ mệnh, Cơ Lương củng chiếu, rất tốt đối với người tuổi Canh, Tân, Ất, Quí, suốt đời phú quí hạnh phúc.
Mệnh tại Sửu cung
"Sửu cung lập mệnh Nhật Nguyệt triều
Bính Tuất sinh nhân phúc lộc nghiêu
Chính tọa bình thường trung cục luận
Đối chiếu phú quí họa giai tiêu."
Nghĩa là: khi mệnh đóng cung Sửu, có Nhật Nguyệt chiếu thì người tuổi Bính Tuất cực hay, nhưng nếu Nhật Nguyệt ở ngay cung Sửu chỉ là trung cách, vì tính chất của Thái Âm, Thái Dương là chiếu chứ chính tọa lại kém đi.
Mệnh tại Dần cung
"Dần cung Cự Nhật túc phong long
Thất Sát Thiên Lương bách sự thông
Thân Tị Canh nhân giai vi cát
Nam tử vi quan nữ thụ phong."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng ở Dần, có Cự Môn, Thái Dương thủ hay Thất Sát, Thiên Lương, việc gì cũng thông lọt trôi chảy, hợp với người tuổi Thân, Tị và Canh. Con trai làm lớn, con gái được phong tặng.
Mệnh tại Mão cung
"Mão cung Cơ Cự, Vũ Khúc phùng
Tân Ất sinh nhân phúc khi long
Nam tử đương vi mi lẫm lộc
Nữ nhân hưởng phúc thụ bao phong."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng ở cung Mão có Cự Cơ hoặc Vũ Khúc thủ, rất hợp cho người tuổi Tân, Ất; đàn ông nhiều phúc lộc, đàn bà giàu sang.
Mệnh tại Thìn cung
"Thìn vi Cơ Lương tọa Mệnh cung
Thiên Phủ Tuất địa tối doanh phong
Yêu kim y tử chân vinh hiển
Phú hoa, quí huy trực đáo chung."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng ở cung Thìn, có Cơ Lương tọa thủ (câu thứ hai tối nghĩa, không giải được) sẽ được thắt đai vàng mặc áo gấm đỏ, hiển vinh phú quí lâu bền.
Mệnh tại Tị cung
"Tị vị Thiên Cơ, Thiên Tướng làm
Tử Phủ triều viên phúc cánh thâm
Mậu Tân Nhâm Bính giai vi quí
Nhất sinh thuận toại thiểu tai xâm."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng ở cung Tị, có Thiên Cơ, Thiên Tướng thủ, hoặc Tử Vi đóng đấy, Thiên Phủ ở Hợi chiếu lên, rất hợp cho người tuổi Mậu, Tân, Nhâm, Bính, tốt phúc dễ toại ý và ít tai họa.
Mệnh tại Ngọ cung
"Ngọ cung Tử Vi Thái Dương đồng
Thiên Cơ, Phá Sát Hỉ tương phùng
Giáp Đinh Kỷ Quí nhân sinh phúc
Nhất thế phong quang bổng lộc phong."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng cung Ngọ, có Tử Vi, hoặc Thái Dương hay Thất Sát hoặc Phá Quân tọa thủ mà lại là người tuổi Giáp, Đinh, Kỷ, Quí tất làm lớn, phong quang bổng lộc.
Mệnh tại Mùi cung
"Mùi cung Tử Vũ Liêm Trinh đồng
Nhật Nguyệt Cự Môn Hỉ tương phùng
Nữ nhân tri thử vi phúc thọ
Nam tử phùng chi vị tam công."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng cung Mùi có Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh tọa thủ hay Nhật Nguyệt, Cự Môn khá hay, số đàn bà phúc thọ, số đàn ông vị đến tam công. Sách tự nêu chỗ bất ổn của bài quyết này: Cự Môn ở Mùi vốn là hãm địa, sao lại bảo là hay, và Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi thường công danh lận đận mới phải.
Mệnh tại Thân cung
"Thân cung Tử đế Trinh Lương đồng
Vũ Khúc, Cự Môn hỉ tương phùng
Giáp Canh Quí nhân như đắc hỉ
Nhất sinh phú quí sính anh hùng."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng Thân cung có Tử Vi, Liêm Trinh, Thiên Lương, Vũ Khúc, Cự Môn tọa thủ, rất hợp với người tuổi Giáp, Canh, Quí, được phú quí thỏa chí anh hùng.
Mệnh tại Dậu cung
"Dậu cung tối hỉ Thái Âm phùng
Cự Nhật hựu phùng đương diện xung
Tân Ất sinh nhân vi quí cách
Nhất sinh phúc lộc vĩnh hanh thông."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng cung Dậu có Thái Âm tọa thủ cực tốt; cũng Mệnh ở Mão, Thái Dương, Cự Môn được Thái Âm ở Tí chiếu lên là quí cách cho người tuổi Ất, Tân.
Mệnh tại Tuất cung
"Tuất cung Tử Vi đối xung Thìn
Phú nhi bất quí hữu hư danh
Cánh gia cát diệu đa quyền lộc
Chỉ lợi khai trương mậu dịch nhân."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng cung Tuất, Thiên Phủ tọa thủ thì chỉ có hư danh thôi, rất giàu mà không sang; nếu được các sao tốt phù thêm thì chỉ lợi cho người buôn bán, thương nhân.
Mệnh tại Hợi cung
"Hợi cung tối hỉ Thái Âm phùng
Nhược nhân tri thử phúc lộc long
Nam nữ phùng chi giai xứng ý
Phú quí vinh hoa trực đáo chung."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng cung Hợi có Thái Âm tọa thủ tuyệt hảo, đàn ông đàn bà đều phú quí vinh hoa.
Thập Nhị Cung Đắc Địa Phú Quí Luận
Đoạn văn về "Thập nhị cung chư tinh đắc địa hợp cách quyết" gây nhiều thắc mắc ở điểm: những người tuổi này tuổi ấy hợp cách với sao nào thủ mệnh ở cung nào. Vậy sự hợp cách căn cứ vào đâu? Không thấy lời giảng giải thỏa đáng. Ví dụ Mão Dậu Cự Cơ chỉ hợp với người tuổi Tân Ất? Tại sao?
Tiếp sau là một bài ca tựa đề là "Thập nhị cung đắc địa phú quí luận". Bài này chẳng thêm gì mới, cốt nhắc lại những gì đã nói ở trên với dụng ý thu gọn cho dễ nhớ. Nội dung như sau:
"Tí cung đắc địa Thái Âm tinh
Sát, Phá, Liêm, Tham, Văn Khúc minh
Sửu, Mùi, Tử Phá triều Nhật Nguyệt
Mùi Trinh Lương Sửu phúc phi khinh
Dần cung tối hỉ phùng Dương Cự
Thất Sát, Thiên Đồng, Lương, Văn thanh
Mão thượng Cự Cơ vi quí cách
Vũ Khúc thủ Mão phúc phong doanh
Thìn Tuất Cơ Lương phi tiểu bổ
Tuất cung Thiên Phủ lũy thiên kim
Tị Hợi Thiên Cơ Thiên Tướng quí
Ngọ cung Tử Phủ Lương câu vinh
Thân cung Trinh Cự Âm Sát mỹ
Dậu Tuất Hợi thượng Thái Âm đình
Mão Thìn Tị Ngọ Dương chính chiếu
Tử Phủ Cự Tú Tị Hợi hưng
Hợi cung Thiên Phủ Thiên Lương cát
Tí cung Cơ tú diệc trung bình
Thất Sát Tí Ngọ phùng Tả Hữu
Văn Khúc gia chi cách tối thanh
Liêm tọa Thân cung phùng
Cánh kiêm hóa cát phúc vưu hưng
Vũ Khúc Tị Hợi phùng lục giáp suy biên đình
Tham Lang cư Mão Dậu ngộ Hỏa tác công khanh
Thiên Cơ tọa Mão quí
Dần Nguyệt lục Đinh vinh
Cự Mão phùng Tả Hữu
Lục Ất lập biên đình
Cự tọa Dần Thân vị
Tối hỉ Giáp Canh sinh
Nhị cung phùng Thất Sát
Tả Hữu hội Xương tinh
Thìn Tuất ngộ tam tú
Tất chủ tác công khanh."
Thập Nhị Cung Chư Tinh Thất Hãm Phá Cách Quyết
Tiếp theo là phần (b): Phá cách của các sao tại 12 cung, Tử Vi đẩu số toàn thư gọi là "Thập nhị cung chư tinh thất hãm phá cách quyết".
An mệnh tại Tí Sửu
"Tí Ngọ Thiên Cơ, Sửu Cự Linh
Thứ tinh lạc hãm quả vi chân
Túng nhiên hóa cát cánh vi mỹ
Nhiệm tha phú quí bất thanh ninh."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng Tị cung có sao Thiên Cơ tọa thủ, hoặc khi Mệnh đóng Sửu cung có sao Cự Môn, Linh Tinh tọa thủ. Đó là phá cách vì chính diệu lạc hãm, dù cho có được cát diệu mà phú quí thì cũng chẳng bền.
An mệnh tại Dần
"Dần thương Cơ Xương Khúc Nguyệt phùng
Tuy nhiên cát củng bất phong long
Nam vi bạn bộc nữ sương tì
Nhược phi yểu chiết tất bần cùng."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng tại cung Dần mà có Thiên Cơ, Xương Khúc, Thái Âm tọa thủ, mặc dầu có tam phương cát tinh củng chiếu vẫn không ra gì. Nam phận tôi tớ, nữ số giang hồ, nếu không chết sớm thì cũng nghèo hèn.
An mệnh tại Mão Thìn
"Mão thượng Thái Âm Kình Dương phùng
Thìn cung Cự tú Tử Vi đồng
Túng nhiên hóa cát phi toàn mỹ
Nhược phi gia sát đáo đầu hung."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng cung Mão gặp chính diệu Thái Âm, Mệnh đóng cung Thìn gặp chính diệu Tử Vi hay Cự Môn là cách bất toàn mỹ, không có sát tinh thì rút cuộc vẫn hung.
An mệnh tại Tị
"Tị cung Vũ Nguyệt Thiên Lương Cự
Tham tú Liêm Trinh cộng đáo sà
Tam phương cát diệu giai bất quí
Hạ tiện bần cùng độ tuế hoa."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng cung Tị có Vũ Khúc, Thái Âm, Thiên Lương, Cự Môn, Tham Lang, Liêm Trinh tọa thủ thì có gặp cát diệu chiếu cũng vẫn là vô ích, cuộc đời hạ tiện bần cùng.
An mệnh tại Ngọ
"Ngọ cung Tham Cự Nguyệt Xương tòng
Dương Nhẫn tam hợp tối hiểm xung
Tuy nhiên hóa cát cư sĩ lộ
Hoạnh phá hoạnh thành đáo lão cùng."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng cung Ngọ, có Tham Lang, Cự Môn cùng Thái Âm, Văn Xương và thêm Kình Dương xung chiếu. Nếu hóa cát mà bước được vào đường sĩ hoạn thì tất hoạnh thành, hoạnh phá khó lâu bền.
An mệnh tại Mùi
"Mùi cung Cự tú Thái Dương hiềm
Túng thiếu tai nguy hữu khắc thương
Lao bác bôn ba quan sự chi
Tùy duyên hạ tiện độ thời quang."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng cung Mùi có Cự Môn, Thái Dương tọa thủ rất xấu, nếu không gặp tai nguy thì cũng khắc thương, vất vả bôn ba chìm nổi suốt một đời, luôn luôn rắc rối với quan tụng.
An mệnh tại Thân Dậu
"Thân cung Cơ Cự vi phá cách
Nam nhân lãng đãng nữ nhân bần
Nhị cung nhược nhiên Đào Hoa kiến
Nam nữ phùng chi tổng bất vinh."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng cung Thân có Cự Cơ tọa thủ là phá cách, trai phiêu bạt, gái bần cùng, nếu gặp thêm Đào Hoa càng xấu.
An mệnh tại Tuất
"Tuất thương Tử Phá nhược tương phùng
Thiên Đồng Thái Dương giai chủ hung
Nhược hoàn cô hàn cánh yểu chiết
Tuy duyên cần khổ miễn bần cùng."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng cung Tuất có Tử Vi, Phá Quân, Thiên Đồng, Thái Dương tọa thủ đều chủ hung, nếu không có hàn yểu chiết thì cũng tàn khổ bần cùng.
An mệnh tại Hợi
"Hợi cung Tham, Hỏa, Thiên Lương đồng
Phiêu đãng lãng tử tẩu tây đông
Nhược hoàn phú quí dã niên súc
Bất nhiên lệ bộc dữ bần cùng."
Nghĩa là: khi Mệnh đóng Hợi cung có Tham Lang, Hỏa Tinh, Thiên Lương tọa thủ tất phiêu lãng giang hồ, nếu được phú quí thì chết yểu, chỉ sống lâu với cảnh bần cùng.
Đoạn văn trên cho thấy sự quan trọng của cung Mệnh: nếu chính diệu của Mệnh cung đã thất hãm là cuộc đời khó toàn mỹ.
Tiếp sau là bài ca tựa đề là "Thập nhị cung chư tinh thất hãm bần tiện luận". Cũng như trên, bài này cốt chỉ nhắc lại những gì đã nói với dụng ý thu gọn lại cho dễ nhớ. Nội dung như sau:
"Sửu Mùi Cự Cơ vi phá cách
Dần Thân bất hỉ phùng Dương Nhẫn
Thìn Tuất Tử Phá triều la võng
Tị Hợi Tham Trinh vi lạc hãm
Ngọ cung Thái Âm bất kham xưng
Thân cung Phá, Vũ vi hạ cách
Dậu phùng Cự Môn Nhật vô tình
Mão Thìn Tị Ngọ phùng Âm tú
Tuất Hợi phùng Dương diệc bất vinh
Tham Liêm Tị Hợi cư hãm địa
Phá Quân Mão Dậu bất vi thanh
Gia Sát ngộ Kiếp vi gian đạo
Thử thị Hình Tà bất tất luận
Tham Lang, Hỏa Lộc cư tứ mộ
Tuy nhiên ngộ cát diệc trung bình
Mệnh triền nhược địa lưu phùng Kị
Không Kiếp Kình Dương gia Hỏa Linh
Nhược phi yểu chiết chủ hạ tiện
Lục súc chi mệnh bất khả bình
Vượng địa phát phúc chung viễn đại
Hãm địa chênh vênh đáo để khuynh."
Thập Đẳng Luận
Tử Vi đẩu số toàn thư, trong vấn đề định cách cục, có một đoạn văn đặt tên là "Thập Đẳng Luận", tạm dịch là mười loại người theo thứ tự qua quan niệm nhân sinh của Đông phương xưa:
a. Phúc thọ
b. Thông minh
c. Uy dũng
d. Văn quan
e. Vũ chức
f. Hình danh
g. Phú quí
h. Bần tiện
i. Tật yểu
j. Tăng đạo
Tại sao Tăng đạo lại đưa xuống hàng chót? Trong khi thực tế ngoài đời tăng đạo vẫn được dân chúng kính trọng. Theo Nho đạo, triết lý nhân sinh đẹp nhất bao giờ cũng là vào đời tranh đấu. Xuất gia tu hành trốn việc quan đi ở chùa vốn là điều nho gia cực bài bác. Các khoa học về tướng số đều cực thịnh vào đời Đường Tống tức là thời kỳ mà Nho đạo đã chiến thắng Phật đạo sau một thời gian xung đột để dành quyền chính lưu tư tưởng khá dài. Nhà Nho còn cho đường tăng đạo là con đường cuối cùng khi số mệnh đã hết cứu vãn phải đi tu để diệt nghiệt chướng. Ngược lại, hai chữ Phúc Thọ được xếp lên hàng đầu. Giàu sang cũng không bằng Phúc Thọ. Oanh liệt, lẫy lừng cũng không bằng Phúc Thọ. Phúc Thọ là gì? Là sự bình an, khang kiện, gia đạo yên vui, con cháu nên người, vợ chồng hòa thuận, dâu hiền tử hiếu.
Tử Vi đẩu số toàn thư viết:
- Như nam nhân có Thiên Đồng, Thiên Lương tọa mệnh miếu vượng chủ Phúc Thọ. Như bắc nhân có Tử Vi, Vũ Khúc, Phá Quân, Tham Lang tọa mệnh vượng cung chủ Phúc Thọ.
- Có Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Tướng, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Phá Quân, Tam Thai, Bát Tọa, Tả Hữu củng chiếu là loại người của Thông minh.
- Có Vũ Khúc, Văn Xương, Kình Dương, Thất Sát tọa Mệnh cung được Quyền Lộc, Thiên Phủ củng chiếu là người Uy dũng.
- Có Xương Khúc, Tả Hữu, Khôi Việt tọa Mệnh vượng cung, tam phương Khoa Quyền Lộc củng chiếu là quan Văn.
- Có Vũ Khúc, Thất Sát tọa Mệnh miếu vượng, tam phương được Quyền Lộc, Khôi Việt củng chiếu là Vũ chức.
- Có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Vũ Khúc, Phá Quân cùng sự tấu hợp của một số sát tinh khác đắc địa chủ về Hình danh (tòa án cảnh sát).
- Có Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Khoa, Quyền, Lộc, Thái Âm, Thái Dương, Xương Khúc, Tả Hữu, Khôi Việt củng chiếu là Phú quí.
- Có Kình Dương, Đà La, Liêm Trinh, Thất Sát, Vũ Khúc, Phá Quân, Thiên Không, Địa Kiếp, Hóa Kị hãm địa chiếu xung là Bần tiện.
- Có Tham Lang, Liêm Trinh, Dương Đà, Không Kiếp, Hỏa Linh, Hóa Kị chủ bệnh tật, yểu chiết. Những sao trên ở cung Tật Ách cũng vậy.
- Có Thiên Cơ, Thiên Lương, Thất Sát, Không Kiếp xâm phạm Tử Vi hoặc hao sát chủ Tăng đạo.
Về số Tăng đạo có những câu ca đoán như sau:
"Cực cư Mão Dậu ngộ Kiếp Không
Thập nhân chi mệnh cửu nhân tăng
Mệnh tọa Không hương định xuất gia
...
Thiên Cơ, Thất Sát, Phá Lương đồng
Vũ khách tăng lưu mệnh sở phùng
Cánh nhược Thái Dương kiêm Đế tọa
Linh đinh cô khắc mệnh phương chung."
Nghĩa là: Tử Vi ở cung Mão Dậu gặp Kiếp Không, mười người thì chín là tăng nhân. Mệnh có Thiên Không, xuất gia mới đỡ khổ. Thiên Cơ gặp Thất Sát, Phá Quân cũng là số Tăng đạo. Nếu lại có Tử Vi, Thái Dương hãm địa nữa tất là có khắc lênh đênh.
Ngoài ra, Tử Vi đẩu số toàn thư còn ghi thêm loại thương nhân (người buôn bán) bằng mấy câu ca đoán dưới đây:
"Tham Nguyệt đồng Sát hội Cơ Lương
Nhân tài kế lợi tác kinh thương
Kinh thương Tử Phủ ngộ Kình Dương
Vũ Khúc, Thiên Di lợi thị trường."
Nghĩa là: Tham Lang, Thái Âm cùng Thất Sát gặp Cơ Lương, giỏi tính toán lợi lộc về đường kinh thương. Hay sao Tử Vi, Thiên Phủ hội Kình Dương hoặc Vũ Khúc đóng cung Thiên Di là tay cự phách trên thị trường.
Mệnh Vô Chính Diệu
Tử Vi đẩu số toàn thư không thấy lời giải đoán riêng cho cách Mệnh vô chính diệu qua các câu phú rải rác thì đại lược Mệnh vô chính diệu đều là xấu. Tuy nhiên, trong trường hợp Mệnh vô chính diệu mà có một trong tứ sát như Kình, Đà, Kiếp Không đắc địa tọa thủ lại khác hẳn, số sẽ trở thành oanh liệt phát nhanh nhưng chẳng có lâu bền.
Các sách Tử Vi Việt rất lưu tâm đến cách Mệnh vô chính diệu, cũng cho rằng phần lớn Mệnh vô chính diệu là xấu. Chỉ duy trường hợp Mệnh vô chính diệu mà được Tam Không thành ra số cực phú quí. Đắc Tam Không thượng cách là một Không thủ mệnh và hai Không củng chiếu. Còn như cả ba Không nhập cả vào cung mệnh mà xung phá thì nguy hiểm phi yểu tắc bần. Số đàn bà Mệnh vô chính diệu dễ đi vào phận lẽ mọn, gian tâm. Nếu được Nhật Nguyệt chiếu thì thông minh đa tài đa nghệ nhưng sự nghiệp, cơ nghiệp vẫn không chắc chắn.
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư – Vũ Tài Lục
