Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Sao dữ, Tuần Triệt ở cung Quan và quan niệm mới về nghề nghiệp

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202617 phút đọc4 lượt đọc
Sao dữ, Tuần Triệt ở cung Quan và quan niệm mới về nghề nghiệp

Triệt làm chậm công danh lúc thiếu thời, Tuần kéo dài trục trặc suốt đời — nhưng gặp Sát Phá Liêm Tham, hai kẻ chắn lối ấy lại thành ra hợp cách. Còn xã hội xưa chỉ có bốn nghề sĩ, nông, công, thương, thì nay hàng trăm nghề mới đã xuất hiện mà các sao chưa kịp đổi nghĩa. Lá số phải đọc thế nào…


Những sao dữ đứng ở cung Quan

Có sao dữ chỉ sáng được khi trời còn sáng, có sao dữ chỉ cần một lần nổi giận là gieo họa cho cả thiên hạ.

Hỏa tinh, Linh tinh

Hai sao này vốn là hỏa cho nên chỉ đắc địa ở những cung ban ngày. Tính tình Hỏa Linh đắc địa giống như Kình Đà.

Đắc địa, nhất là khi hội với Tham miếu địa, Hỏa Linh đều có tài năng, có chí khí, có uy danh và thường hiển đạt trong binh nghiệp.

Nếu hãm địa thì công danh trắc trở, chậm lụt, nhất là hay gặp tai nạn, thường phải bôn ba đây đó. Duy chỉ có hai biệt lệ của Hỏa Linh sau:

  • Ở Sửu, Mùi có Tham Vũ, Việt đồng cung thì võ cách hết sức hiển hách, nhất là về hậu vận. Nhưng cách này rất kỵ hai sao Địa Không, Địa Kiếp sẽ làm phá tán hết cái hay.
  • Ở Hợi đồng cung với Tuyệt có Tham, Hình hội chiếu sẽ rất vang danh trong binh nghiệp.

Kiếp Sát

Sao này là ác tinh, chỉ sự đa sát, chém giết, gieo họa, hay xuống tay mạnh, thường dùng biện pháp cứng rắn, cực đoan lúc xử thế, nóng tính, không chịu nổi sự bất bằng, hay tầm thù. Quân nhân có sao này sát phạt rất mạnh, tàn nhẫn, không nương tay. Vì vậy sao này cần thiết để trị hung đồ. Nhưng Kiếp Sát là người lợi hại và nguy hiểm, có thể ví như hung đồ, có thể làm loạn dễ dàng, và trong cách loạn thường có đổ máu.

Do đó, Kiếp Sát ở Quan dễ gặp họa và có nhiều kẻ thù. Đi với các sao hung khác rất dễ thành phiến loạn, cướp của giết người, bất lương, vô loại.

Thiên Không

Thiên Không rất kỵ cung Quan lộc vì tượng trưng cho sự cản trở. Có Thiên Không, viên chức hay quân nhân khó thăng tiến, chậm thăng, thăng trật vật, thăng không cao, bị đè nén, kìm chế trong hoạn lộ. Do đó, Thiên Không ở Quan là người bất mãn, hay làm hỏng việc, giữ chức vụ gì lớn không bền vững, lên thì chậm, xuống thì nhanh, quan trường hay bị đố kỵ, ganh ghét, và chính đương số cũng có bụng tiểu nhân, ganh hiềm, ghét ngỏ, đâm thọt, xuyên tạc, phá phách, gây chia rẽ, ly gián. Đó là thành phần phá hoại trong công sở.

Phục Binh

Ở Quan, sao này ám chỉ sự đố kỵ, hãm hại, bằng thủ đoạn ngầm, có khi đi cài chỗ phục kích, ám sát để loại trừ địch thủ. Phục Binh có thể hoặc là nạn nhân của bọn tiểu nhân, hoặc vừa là nạn nhân vừa là tiểu nhân, do sự trả đũa qua lại.

Thông thường Phục Binh có tòng phạm, kết bè, kết phái để loại trừ đối thủ hoặc bị đối thủ bí mật loại trừ mình, bằng những đường lối bất chính và bí mật. Đây là phần tử phá hoại và bè cánh trong cơ quan.

Hóa Kỵ

Hóa Kỵ trước hết có nghĩa đố kỵ, thấy người hơn mình thì không thích. Thủ đoạn của Hóa Kỵ cũng bí mật, lén lút, thường là dùng miệng lưỡi để gièm pha, chỉ trích, xuyên tạc, vu khống (vì Hóa Kỵ là cái lưỡi). Do đó, Hóa Kỵ ở Quan tượng trưng cho thị phi, khẩu thiệt, vạ miệng.

Mặt khác, Hóa Kỵ hãm địa có nghĩa là nông nổi, xu thời, thiếu lập trường, ai mạnh thì theo, dễ bỏ bạn bè để theo danh lợi. Trong trường hợp đắc địa thì là người có khuynh hướng cách mạng muốn thay cũ đổi mới, ý nghĩa thở dài hướng thượng, quan cách dễ thành công nếu được cát tinh hỗ trợ.

Thiên Hình

Đắc địa ở Dần, Thân, Mão, Dậu, Thiên Hình chuyên về quân sự, có dũng khí, có uy phong, có tài cầm binh, thiên về sát phạt. Còn nếu là quan văn thường là thẩm phán, trạng sư, có năng khiếu luật pháp, xét xử công minh. Cũng có thể là bác sĩ giải phẫu, châm cứu nếu có Thiên Y đi kèm.

Thiên Hình thường là người nóng tính, khắt khe, cương nghị làm việc theo nguyên tắc, không chấp nhận sự trái lệ, trái luật, có tinh thần liêm chính, công bình, có tinh thần chu đáo, tinh vi kỹ lưỡng, hay chú ý đến chi tiết. Công chức, quân nhân có Thiên Hình đắc địa ở Quan thường rất mực thước, ngay thẳng, có lương tâm chức nghiệp, có bản lãnh hành sử trách nhiệm một cách khả quan. Đi với Binh, Tướng, Ấn thì võ cách tham mưu, có uy dũng và có mưu lược, thường được giao phó trọng trách.

Nếu Hình hãm địa thì quan cách hay gặp hung sự, cụ thể là tụng ngục (ở tù, bị kiện), bị điều tra, bị tố cáo, gặp Tuần, Triệt án ngữ thì có thể bị giáng chức, cách chức, ở tù, bị kiện.

Tuần Triệt ở cung Quan

Sau các sao dữ, đến hai kẻ chắn đường không phải sao: Tuần và Triệt, đặt đâu thì cung ấy vướng lối.

Thông thường, Tuần Triệt là sao phá, đóng ở cung nào thì gây trở ngại cho cung đó: ở Mệnh thì thiếu thời lận đận, ở Thân thì trắc trở, gian truân, ở Phu Thê thì hỏng một duyên nợ, ở Tử thì hao con, ở Tài thì kém tiền bạc. Chỉ có ở Tật Ách, Tuần Triệt phá tán bệnh tật, họa tạo sức khỏe cho đương số.

Trong chiều hướng tổng quát đó, Tuần Triệt đóng ở Quan tiên quyết gây trục trặc cho quan trường, sự trục trặc này thể hiện dưới nhiều hình thái:

  • Hoặc chậm công danh.
  • Hoặc công danh phải lận đận, chật vật.
  • Hoặc công danh không mấy cao, thăng giáng thất thường hoặc không bền vững.

Nếu gặp Triệt, công danh chậm phát lúc thiếu thời, chỉ về già mới hanh thông. Nếu gặp Tuần, sự trục trặc có tính cách triền miên, tuy không nặng như Triệt nhưng kéo dài suốt đời. Đó là nói về tổng quát.

Trong chi tiết cần phải phân biệt nhiều trường hợp để luận đoán cho cụ thể:

  • Cung Quan có chính tinh.
  • Cung Quan vô chính diệu (không có chính tinh).

Trường hợp cung Quan có chính tinh

Chính tinh đóng ở Quan có thể hoặc sáng sủa hoặc hãm địa.

Nếu chính tinh sáng sủa, Tuần Triệt làm cho bớt sáng, có thể trở thành tối. Do đó, công danh có thể bị trở ngại, hoặc chậm phát hoặc trục trặc, hoặc không lâu bền, hoặc có nhiều hung sự xảy ra, có thể làm mất chức, mất quyền, bị thay đổi, bằng không thì cũng bất toại, hay gặp sự bực mình, bất mãn, tài năng không thi thố được.

Nếu tại Quan mà có Thiên Tướng hay Tướng Quân thì càng bất lợi: vào công quyền ắt phải có lần mất chức, bị cách chức.

Tuy nhiên có hai chế giảm cho cung Quan bị Triệt, Tuần:

  • Cung Quan có Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh sáng sủa gặp Tuần Triệt thì tương đối bền vững, chức vụ tương đối cao, không đến nỗi phải lụn bại, thăng trầm. Trong thế này, Tuần Triệt tương đối hợp cách với Sát Phá Liêm Tham. Những sao Tử Phủ, Cự Nhật, Cơ Nguyệt – Đồng Lương đi với sao sáng sủa khác gặp Tuần, Triệt thì công danh thất thường, không bền, gặp hung sự.
  • Cung Quan ở Sửu, Mùi có Âm Dương tọa thủ đồng cung. Quan lộc được rực rỡ, đặc biệt là về sau vì tại Sửu, Mùi, Âm Dương tương đối xấu, gặp Tuần Triệt thì sáng sủa trở lại và tại Sửu Mùi vốn là âm cung nên tốt cho hậu vận.

Nếu chính tinh ở Quan mà hãm địa, Tuần Triệt phục hồi sức sáng cho chính tinh, công danh sẽ quý hiển. Nhưng vì có Tuần Triệt nên sự trắc trở không tránh khỏi: quan trường chỉ phát lúc hậu vận. Đặc biệt nếu Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh hãm địa gặp Tuần Triệt đồng cung thì lại phát nhanh và mạnh hơn những bộ sao khác như Tử Phủ – Cự Nhật hay Cơ Nguyệt – Đồng Lương hãm địa. Một lần nữa, Tuần Triệt lại tỏ ra tương hợp với Sát Phá Liêm. Duy đối với Thiên Tướng, dù đắc hay hãm địa, Tuần Triệt bao giờ cũng gây thảm tử, kiểu như quân nhân chết trận, viên chức bị cách, giáng.

Trường hợp cung Quan vô chính diệu

Chính tinh tọa thủ ở cung nào thì chỉ rõ đặc tính quan yếu của cung đó, giúp cho người giải đoán một khuôn khổ, một hình thái để tìm hiểu cung đó. Trái lại, một cung vô chính diệu giống như một người không mặt, một kẻ vô danh, không ai biết chân tướng hay lý lịch.

Vì vậy, để định sắc thái cho cung này, khoa Tử Vi mượn chính diệu xung chiếu để nhất diện đặc điểm của cung vô chính diệu. Sở dĩ phải dùng chính diệu xung chiếu vì chỉ có thế xung chiếu mới tỏa ảnh hưởng trực tiếp vào cung vô chính diệu. Cho nên cung vô chính diệu lệ thuộc vào chính tinh đối diện, mượn cái hay, cái dở của chính tinh đối diện làm cái hay cái dở của mình.

Nhưng vì có sự vay mượn, vì có sự phản chiếu, nên những sắc thái, thu nhận phải bị phai nhạt ít nhiều. Ví dụ như chính tinh đối diện sáng sủa tốt đẹp khi chiếu vào cung vô chính diệu phải giảm đi một phần chân quang nguyên thủy, khiến cho đi đến cung này ánh sáng chỉ còn là một dư quang. Để có một hình ảnh, có thể ví ánh sáng thu nhận tại cung vô chính diệu như ánh sáng của mặt trăng, kém hấp lực và kém mãnh lực hơn ánh sáng mặt trời. Như vậy, đứng về mặt quan lộc mà xét, cung Quan vô chính diệu, dù được chính tinh đối diện sáng sủa chiếu vào, quan lộc cũng không toàn mỹ (công danh tầm thường, chức vị không mấy cao) huống hồ gặp chính tinh đối diện hãm địa.

Duy có hai liệt kê quan trọng làm khởi sắc cho cung Quan vô chính diệu:

Cung Quan có Tuần hoặc Triệt án ngữ

Cách này nói chung không hoàn hảo, nhưng cũng đỡ xấu. Quan trường tuy gặp nhiều trở ngại (vì ảnh hưởng của Tuần hay Triệt) nhưng vẫn có thể hiển đạt trong văn vận. Nếu tảo đạt và phát nhanh thì lại sớm tàn và hoạnh tàn.

Cung Quan nhưng Nhật Nguyệt cùng sáng sủa hợp chiếu hay xung chiếu

Cách này trở thành đắc lợi nhờ ánh sáng phối hợp của hai nguồn năng lực Nhật Nguyệt: công danh sáng lạng, chức vụ lớn, quyền hành cao, có triển vọng đắc phú, tóm lại vừa sang vừa giàu. Ảnh hưởng của Âm Dương rất mạnh trong trường hợp này.

Nếu cung Quan có được Tuần hay Triệt trấn thủ tại đó thì phú quý sẽ tăng tiến nhiều hơn nữa.

Quan niệm nghề nghiệp trong khoa Tử Vi

Cung Quan xưa chỉ là chuyện làm quan; nhưng ngày nay người ta kiếm sống bằng trăm nghề, và lá số cũng phải học cách nhìn khác.

Vào lúc khoa Tử Vi ra đời, tại Trung Hoa, sinh kế được qui tụ vỏn vẹn trong 4 nghề chính yếu: sĩ, nông, công, thương. Xã hội Trung Hoa ngày trước là xã hội tĩnh, nghề nghiệp vì thế cũng ít, thường không thay đổi và không mấy bành trướng. Trong 4 nghề này, chỉ riêng nghề sĩ được coi trọng, được xếp hàng đầu, có thể xem là một nghề thực sự vì có học, có trường, có thi cử và nhất là có địa vị cao quý trong xã hội. Chế độ quân chủ phong kiến với hệ thống quan lại đông đảo đã biến công quyền thành nơi tiến thân cho kẻ sĩ. Những ai có khoa bảng hầu như có cơ hội được trọng vào việc nước, việc làng.

Coi trọng nghề làm quan, xã hội coi nhẹ nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và các tạp nghề khác. Lãnh vực tư trở thành thứ yếu, thậm chí bị cho là thấp kém. Quan niệm này đã được phản ánh toàn diện trong khoa Tử Vi. Chữ “công danh”, chữ “hoạn lộ” được hiểu theo nghĩa công quyền thay vì theo nghĩa nghề nghiệp sự nghiệp nói chung. Quý cách được hiểu theo nghĩa quan cách, tức là cách làm quan. Ngoài ra, khoa Tử Vi nói rất nhiều đến cách làm quan trong khi chỉ đề cập sơ sài đến các nghề tư, kinh doanh, thương mại, kỹ nghệ.

Ngày nay, sự phát triển của kinh tế, sự phồn tạp của đời sống cũng như sự mở rộng khoa học, nghệ thuật đã làm nảy sinh vô số nghề mới. Đã vậy, trong một nghề, còn có thêm nhiều chi nhánh chuyên khoa. Lãnh vực nông nghiệp, kỹ nghệ, thương mại ngày càng bành trướng và nhất là đắc lợi hơn lãnh vực công quyền. Từ đó nó có sức hấp dẫn mới mẻ, đủ để làm thay đổi cả một quan niệm lỗi thời về quan lộc. Thành thử, dần dần, tập tục tư tưởng đã biến cải chữ quan lộc lúc bấy giờ được hiểu như nghề nghiệp, sinh kế nói chung, không còn bị giới hạn trong phạm vi công quyền nữa. Song, mặc dù ý nghĩa mở rộng, nội dung các sao chưa được thích nghi kịp thời. Người ta vẫn luận về nghề nghiệp như một phụ nghề của quan cách. Cái gì bất lợi cho quan cách thì được xem như tốt đẹp hơn cho nông, công, thương. Và những ai có số bất lợi trong lãnh vực công, nếu xoay qua buôn bán kinh doanh thì lại được vừa ý hơn. Quan niệm phong kiến đó chưa được rũ bỏ một cách toàn vẹn. Tập tục giải đoán Tử Vi vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào quan cách.

Những ai có dịp đọc sách Tử Vi cũ và cả những sách hiện tại đều thấy sự nghịch lý đó. Nghề nghiệp chưa được các sao canh tân và thích ứng cho kịp trào lưu tiến hóa. Để thử góp phần cập nhật kiến thức Tử Vi theo trào đại mới, phần này sẽ cởi bỏ quan niệm phong kiến cũ kỹ, chấp nhận một đường lối tư tưởng mới mẻ hơn để khảo sát cách nghề nghiệp. Chữ nghề nghiệp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm hết thảy các lãnh vực sinh kế, ngoài địa hạt nhà nước. Khi thử làm một cuộc canh tân về nội dung như vậy, soạn giả cũng cảm thấy có phần liều lĩnh, đồng thời cũng tự biết có sai lầm. Tuy nhiên, chúng ta không nên ngại sai lầm mà bất động trước một nhu cầu hợp lý. Cho nên, phần bàn về cách nghề nghiệp ở đây có tác dụng đặt nền tảng cho vấn đề, ngõ hầu giúp người khác có một căn bản tiên khởi để tham chiếu và khai triển. Khuyết điểm khả hữu của phần này có thể liệt kê các nghề không đầy đủ và phân biệt nghề không rõ ràng.

Cách nghề nghiệp qua các cung

Đã không thể chỉ nhìn một cung Quan, lá số phải được đọc bằng nhiều cung cùng lúc mới đoán ra được nghề.

Vì lối hiểu truyền thống của khoa Tử Vi về cung Quan Lộc có phần chật hẹp, cho nên khi tìm kiếm nghề nghiệp, chúng ta không nên đóng khung trong cung Quan mà phải xét thêm những cung cường khác nữa, đặc biệt là cung Mệnh, Thân, Tài, Phúc, Nô. Các cung này phải được phối nghĩa để tìm cách trội yếu nhất giúp chỉ danh nghề.

Cung Quan

Vì hiểu Quan là nghề nghiệp nói chung cho nên trong cung Quan, cần lưu ý các sao chỉ năng khiếu chuyên môn, những yếu nghĩa nghề nghiệp của các sao, xem đó là yếu tố chính tinh để xem xét nghề nghiệp.

Sự phân loại cổ điển của cổ nhân thành nghề văn và nghề võ, thành lãnh vực công truyền và lãnh vực tư nhân đến nay không còn chính xác. Vì thế, lối phân biệt này không còn hữu hiệu để định nghề một cách chắc chắn được. Chung qui qua cung Quan, người xem số chỉ có thể khẳng định khả năng chuyên môn và triển vọng của một môi trường thích hợp với khả năng đó mà thôi. Không thể và không nên dứt khoát về nghề cụ thể nào, trừ phi có đủ yếu tố rõ ràng, lấy từ các cung khác.

Cung Mệnh, cung Thân

Tại hai cung này cũng có những sao chỉ năng khiếu, sự thích hợp với một công việc nào đó, khả dĩ giúp kết luận nghề của đương số.

Còn dựa vào các cục của Mệnh, Thân để tìm nghề cũng có nhiều may rủi, dễ sai lầm. Lý là vì chỉ có một số ít cách, cục trong khi có rất nhiều nghề trong một cách hay cục. Trong trường hợp có cách cục tương phản, kết luận sẽ càng khó khăn.

Một yếu tố nữa hữu ích cần sử dụng là vị trí Thân. Những trường hợp Thân cư Quan, cư Tài, cư Di hay cư Thê, Phu đều có tính cách đặc biệt vì, một khi Thân đóng ngoài cung Mệnh, thì thường hay có chuyển đổi nghề nghiệp vào hậu vận. Tùy theo Thân đóng ở cung nào, cung đó sẽ giúp tìm hiểu thêm loại nghề lúc con người lập thân. Như vậy, từ tuổi 30 trở đi, con người mới có được sự nghiệp an bài hay tương đối lâu dài. Nếu cung Thân tốt, điều đó hàm ý rằng đương số có nghề đủ mưu sinh và từ đó, ít có sự thay đổi công việc. Ngược lại, nếu Thân xấu, thì dễ có sự chuyển nghề mà vẫn gặp khó khăn chật vật.

Trong trường hợp con người có nhiều nghề, điều đó thường được phản ảnh qua nhiều năng khiếu, biểu lộ trong cung Mệnh, Thân hay Quan. Một lần nữa, xem nghề nghiệp mà chỉ nói lên năng khiếu thì ít sai hơn xác định rõ cái nghề.

Cung Tài

Vì chỉ tiền bạc kiếm được từ nghề nghiệp, cung Tài góp phần giải đoán nghề nghiệp, đặc biệt là các nghề kinh doanh buôn bán, thường có nhiều tiền hơn công nghệ.

Nhờ những sao chỉ cách hái ra tiền, hoặc những sao nói lên cá tính con người trước đồng tiền, ta có thêm yếu tố để định nghề. Trong trường hợp Thân cư Tài, nghề nghiệp càng rõ rệt hơn: đương số làm những nghề liên quan đến kinh tế, tài chánh, và nếu tại cung Tài mà có thêm nhiều sao trấn đồng thì càng dễ xác nhận điều đó.

Cung Phúc

Cung này không trực tiếp xác định nghề. Đây là những yếu tố phụ thuộc và chỉ có tính cách xác định khi nào đồng quy với những yếu tố xác định ở cung Quan, Mệnh, Thân hay Tài. Duy năng khiếu di truyền ở Phúc là điều cần phải lưu ý.

Cung Nô, cung Di

Cung Nô chỉ người dưới quyền, cho nên sẽ góp thêm chi tiết để định danh nghề nghiệp. Thông thường những hạng người có Nô tốt hay làm những nghề có ảnh hưởng lớn đến xã hội, như thầy giáo, giáo sư, bác sĩ, chủ nhân xí nghiệp, lúc nào cũng có dưới trướng nhiều thuộc quyền. Tư cách cụ thể được luận đoán qua năng khiếu.

Cung Di cũng là ảnh hưởng của cung Nô và trợ lực cung Nô trong việc định nghề.

Việc khảo sát những cung kể trên thường phát ra một loạt nhiều nghề. Việc lựa chọn bấy giờ phải dựa trên yếu tố nào nổi bật nhất. Có nhiều trường hợp khó xác định. Gặp những trường hợp này chỉ nên nói về năng khiếu và ước đoán một nghề thích hợp với năng khiếu đó mà thôi.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề