Bài tổng quan
Thiên can khắc nhau, địa chi hội hợp xung và chi tháng nắm lệnh
Hai thiên can đứng sát nhau mà khắc thì mất mười hai độ, cách một ngôi thì mất sáu độ, đứng xa thì chẳng mất gì. Địa chi cũng có độ của riêng mình: ba chi tam hội gộp thành bảy mươi hai độ, hai chi bán tam hợp còn bốn mươi độ. Và tất cả lại phải nhìn qua lăng kính của chi tháng đang nắm lệnh...
Mục lục · 7 phần
- 01Thiên can khắc nhau: gần, cách ngôi và xa
- 02Địa chi đứng dưới thiên can làm tăng giảm độ vượng
- 03Địa chi có 30 độ, chia giữa bản khí và tạp khí
- 04Hội, hợp và bán tam hợp: gộp nhiều chi thành một khối
- 05Lục hợp: hai chi kề nhau và hóa thần được tháng đỡ
- 06Lục xung: hao tổn theo lệnh tháng
- 07Chi tháng nắm lệnh: tăng một phần năm, giảm một phần sáu
Thiên can khắc nhau: gần, cách ngôi và xa
Độ vượng của một thiên can còn đổi theo việc nó bị can khác khắc, và mức hao tổn phụ thuộc vào khoảng cách giữa hai can.
Khi một thiên can bị can sát bên cạnh khắc, tức khắc gần, nó hao một phần ba, mất 12 độ, còn 24 độ. Ví dụ năm Giáp, tháng Mậu: Giáp mộc khắc Mậu thổ, nên Mậu hao 12 độ, chỉ còn 24 độ.
Khi bị khắc cách ngôi, tức giữa hai can có một can khác chen vào, thì hao một phần sáu, mất 6 độ, còn 30 độ. Ví dụ năm Bính, ngày Canh: Bính hỏa khắc Canh kim, vì khắc cách nên Canh kim mất 6 độ, chỉ còn 30 độ.
Khi bị khắc xa thì xem như không hao tổn. Khắc xa là kiểu can năm khắc can giờ, hoặc can giờ khắc can năm. Vì cách xa nhau nên lực yếu, không gây tổn hại. Ví dụ năm Giáp, giờ Canh: Canh kim khắc Giáp mộc nhưng ở xa, lực yếu, nên độ vượng của Giáp không bị hao.
Thiên can còn có khắc đôi và khắc liên tiếp. Một can khắc cả hai can khác thì gọi là khắc đôi; một can khắc ba can khác thì gọi là khắc liên tiếp. Dù khắc đôi hay khắc liên tiếp, can bị khắc đều hao một phần ba, mất 12 độ, còn 24 độ; còn can đi khắc thì không hao.
Những can hư phù, hoặc bị can khác khắc đến mức hao hơn một nửa của 36 độ, thì không còn đủ lực để khắc can khác nữa. Với can có ngũ hợp thì dù hợp hóa hay không hóa, nó cũng không khắc được can khác và cũng không bị can khác khắc; trường hợp ấy thường gọi là tham hợp quên khắc.
Địa chi đứng dưới thiên can làm tăng giảm độ vượng
Xét theo từng trụ, nếu thiên can không bị can khác ngũ hợp thành hóa thì giữa can và chi của trụ ấy có năm trường hợp.
- Địa chi sinh phù thiên can. Như Đinh Mão: Đinh là hỏa, Mão là mộc, mộc sinh cho hỏa. Ất Hợi: Ất là mộc, Hợi là thủy, thủy sinh cho mộc. Nhâm Thân: Nhâm là thủy, Thân là kim, kim sinh thủy. Những can như thế, độ vượng không đổi.
- Ngũ hành thiên can cùng loại với địa chi. Như Mậu Tuất đều là thổ, Bính Ngọ đều là hỏa, Canh Thân đều là kim. Ngũ hành giống nhau thì độ vượng của can ấy cũng không đổi.
- Địa chi làm xì hơi thiên can. Như Ất Tị: Ất là mộc, Tị là hỏa, mộc sinh hỏa. Bính Thìn: hỏa sinh thổ. Mậu Thân: thổ sinh kim. Tức ngũ hành của thiên can sinh cho ngũ hành địa chi, hay nói cách khác bị địa chi xì hơi. Thiên can đó hao mất 6 độ.
- Thiên can khắc địa chi. Như Giáp Thìn: mộc khắc thổ. Bính Thân: hỏa khắc kim. Canh Dần: kim khắc mộc. Thiên can khắc địa chi nên độ vượng của thiên can giảm 12 độ.
- Địa chi khắc thiên can. Như Giáp Thân: kim Thân khắc mộc Giáp. Mậu Dần: mộc Dần khắc thổ Mậu. Tân Tị: hỏa Tị khắc kim Tân. Thiên can bị khắc nên độ vượng giảm 18 độ.
Địa chi có 30 độ, chia giữa bản khí và tạp khí
Trời có 360 độ, mười hai địa chi phân thành âm dương ngũ hành rải khắp trong đó, nên lấy 360 độ chia cho 12 thì mỗi địa chi nguyên vẹn có 30 độ. Địa chi vốn hỗn tạp, ngoài bản khí còn phần nhiều có tạp khí. Độ vượng của các nhân nguyên tàng trong địa chi như sau:
| Địa chi | Bản khí | Tạp khí thứ nhất | Tạp khí thứ hai | Tổng |
|---|---|---|---|---|
| Tý | Quý thủy 30 | – | – | 30 |
| Sửu | Kỷ thổ 18 | Quý thủy 9 | Tân kim 3 | 30 |
| Dần | Giáp mộc 18 | Bính hỏa 9 | Mậu thổ 3 | 30 |
| Mão | Ất mộc 30 | – | – | 30 |
| Thìn | Mậu thổ 18 | Ất mộc 9 | Quý thủy 3 | 30 |
| Tị | Bính hỏa 18 | Canh kim 9 | Mậu thổ 3 | 30 |
| Ngọ | Đinh hỏa 21 | Kỷ thổ 9 | – | 30 |
| Mùi | Kỷ thổ 18 | Đinh hỏa 9 | Ất mộc 3 | 30 |
| Thân | Canh kim 18 | Mậu thổ 9 | Nhâm thủy 3 | 30 |
| Dậu | Tân kim 30 | – | – | 30 |
| Tuất | Mậu thổ 18 | Tân kim 9 | Đinh hỏa 3 | 30 |
| Hợi | Nhâm thủy 21 | Giáp mộc 9 | – | 30 |
Độ vượng của các địa chi cùng một trụ còn biến đổi theo hai điều kiện. Một là địa chi cùng ngũ hành với thiên can trực đỉnh (thiên can trực đỉnh nghĩa là số độ của thiên can ấy phải đạt từ 18 độ trở lên), hoặc được thiên can cùng trụ sinh phù. Hai là bản thân địa chi không gặp hợp. Địa chi hội đủ hai điều kiện này thì bản khí tăng thêm 6 độ, tạp khí không đổi. Còn nếu địa chi bị thiên can trực đỉnh khắc thì bản khí giảm 8 độ, tạp khí giữ nguyên.
Hội, hợp và bán tam hợp: gộp nhiều chi thành một khối
Khi các địa chi tham gia tam hội cục, tam hợp cục hoặc bán tam hợp cục, và có thiên can cùng ngũ hành với hóa thần của hội hay hợp cục dẫn ra khiến hợp hóa thành công, thì độ vượng của chúng gộp lại như sau: ba địa chi của tam hội cục cộng lại 72 độ; ba địa chi của tam hợp cục cộng lại 60 độ; hai địa chi của bán tam hợp cục cộng lại 40 độ.
Ví dụ ba chi Dần, Mão, Thìn tam hội thành mộc cục, có can Giáp mộc dẫn ra nên hội hóa thành công: ba chi ấy cộng thành 72 độ. Hai chi Hợi và Mão bán tam hợp hóa mộc, có can Giáp mộc dẫn ra: hai chi hóa thành mộc 40 độ. Hai chi Dần và Ngọ bán tam hợp hóa hỏa, có cặp can Bính Tân ngũ hợp hóa hỏa dẫn ra nên thành hóa: hai chi hóa hỏa 40 độ.
Điều kiện chung của mọi hợp hóa thành công là ngũ hành của thiên can phải cùng loại với hóa thần của các địa chi; chỉ có vậy mới dẫn hóa được. Với tam hội cục và tam hợp cục, chỉ cần đủ ba chi, không nhất thiết ba chi phải liền kề hay theo thứ tự. Với bán tam hợp cục thì nhất thiết hai chi phải liền kề nhau.
Địa chi tam hội, tam hợp, bán tam hợp mà không có thiên can dẫn thì gọi là hợp mà không hóa; lúc ấy các chi chỉ tính theo bản khí, tạp khí tan mất, gọi là khử bì. Nếu cùng lúc bốn địa chi xuất hiện cả tam hội cục, tam hợp cục và bán tam hợp cục thì lấy tam hội trước, tam hợp thứ hai, bán tam hợp sau cùng. Khi trong mệnh cục không có điều kiện dẫn hóa thì các hội, hợp, bán tam hợp mãi mãi không thành hóa, các chi tính theo khử bì.
Nếu trong mệnh cục có tam hội, tam hợp hoặc bán tam hợp nhưng điều kiện dẫn hóa chưa đủ, thì phải đợi hành đến vận hoặc năm có đủ điều kiện dẫn hóa thì cục ấy mới thành hóa. Khi đó cuộc đời có những thay đổi trọng đại.
Lục hợp: hai chi kề nhau và hóa thần được tháng đỡ
Lục hợp đòi hỏi hai chi phải gần kề, không thể có chi khác xen giữa; đồng thời bản khí của chi tháng phải sinh phù hoặc cùng loại với hóa thần của lục hợp, và thiên can có dẫn ra thì lục hợp mới hóa thành được. Khi lục hợp hóa thành, hai chi ấy hóa thành ngũ hành mới, có độ vượng 36 độ. Ví dụ năm Bính, Tị và Thân lục hợp, tháng Ngọ tàng bản khí Đinh hỏa, thiên can lại có Bính dẫn hóa, nên Tị Thân lục hợp hóa thành hỏa 36 độ.
Khi trong lục hợp có chuyện tranh hợp thì xem như hợp mà không hóa; cả hai địa chi chỉ còn bản khí, tạp khí tan mất. Lục hợp cục nếu không đủ điều kiện dẫn hóa trong mệnh, mà hành đến vận hoặc năm có đủ điều kiện, thì đến vận hoặc năm ấy sẽ thành hóa và cuộc đời nhất định có thay đổi lớn. Lục hợp cục nếu gặp tam hội cục, tam hợp cục hay bán tam hợp cục thì dù những cục ấy có thành hóa hay không, lục hợp đó cũng không còn được coi là hợp cục nữa.
Lục xung: hao tổn theo lệnh tháng
Lục xung trong mệnh cục chỉ tính với hai chi kề nhau; nếu có chi khác xen vào giữa thì không còn gọi là xung. Lục xung nếu gặp tam hội cục, tam hợp cục, bán tam hợp cục hay lục hợp cục thì dù thành hóa hay không cũng không gọi là lục xung nữa; trường hợp này gọi là tham hợp quên xung.
Sau khi lục xung thành lập, hai địa chi xung nhau đều tính theo khử bì, tức chỉ còn bản khí, không còn tạp khí. Mức hao tổn được tra theo bảng chi tháng. Nếu có hai chi kẹp xung một chi thì mỗi chi kẹp hao một phần ba, còn chi bị kẹp hao hai phần ba. Bốn cặp xung thường gặp là: xung tứ chính, Tý Ngọ đối xung và Mão Dậu trợ xung; xung tứ sinh, Dần Thân đối xung và Tị Hợi đối xung; xung tứ kho, Thìn Tuất tương xung và Sửu Mùi tương xung.
Theo bảng tra chi tháng làm tổn thất, mức hao mặc định của chi bị xung là một phần ba. Riêng một số trường hợp thì hao một nửa: tháng Dần thì cặp xung Thân và Dậu hao một nửa; tháng Thân thì cặp xung Dần và Mão; tháng Tị thì cặp xung Hợi và Tý; tháng Hợi thì cặp xung Tị và Ngọ; tháng Tý cũng cặp xung Tị và Ngọ; tháng Ngọ thì cặp xung Hợi và Tý; tháng Mão thì cặp xung Thân và Dậu; tháng Dậu thì cặp xung Dần và Mão. Xung của tứ kho (Thìn Tuất, Sửu Mùi) thì bản khí không bị hao tổn.
Chi tháng nắm lệnh: tăng một phần năm, giảm một phần sáu
Trong Tứ trụ, ngoài nhật chủ ra thì cái quan trọng nhất là chi tháng. Chi tháng nắm lệnh hay không có quan hệ đến toàn bộ mệnh cục, nên ngoài các phép tính trên còn phải căn cứ vào chi tháng nắm lệnh để tăng hoặc giảm tương ứng. Phàm sinh vào thời kỳ ngũ hành của chi tháng đang nắm lệnh, trong Tứ trụ những ngũ hành cùng loại với ngũ hành chi tháng thì độ vượng tăng một phần năm; những ngũ hành bị ngũ hành chi tháng nắm lệnh khắc thì độ vượng giảm một phần sáu.
Khi chi tháng hợp với các chi khác mà hóa thì ngũ hành mới hóa ra sẽ nắm lệnh, chứ không còn là ngũ hành cũ của chi tháng. Nếu hợp mà không hóa thì ngũ hành cũ của chi tháng vẫn nắm lệnh.
| Ngũ hành nắm lệnh | Chi | Thời kỳ nắm lệnh |
|---|---|---|
| Mộc | Dần, Mão, Thìn | Từ lập xuân (tháng Dần), kinh trập (tháng Mão), đến trước thanh minh 19 ngày thì sang tháng Thìn |
| Hỏa | Tị, Ngọ, Mùi | Từ lập hạ (tháng Tị), mang chủng (tháng Ngọ), đến trước lập thu 19 ngày thì sang tháng Mùi |
| Thổ | Thìn, Tuất, Sửu, Mùi | Mười tám ngày trước lập xuân (tháng Sửu), trước lập hạ (tháng Thìn), trước lập thu (tháng Mùi) và trước lập đông (tháng Tuất) |
| Kim | Thân, Dậu, Tuất | Từ lập thu (tháng Thân), bạch lộ (tháng Dậu), đến trước lập đông 19 ngày thì sang tháng Tuất |
| Thủy | Hợi, Tý, Sửu | Từ lập đông (tháng Hợi), đại tuyết (tháng Tý), đến trước lập xuân 19 ngày thì sang tháng Sửu |
Ví dụ: sinh tháng Dần sau lập xuân thì khí mộc nắm lệnh; những can chi thuộc mộc trong Tứ trụ được tăng độ vượng, còn những can chi thuộc thổ bị giảm. Sinh tháng Thân sau lập thu thì khí kim nắm lệnh; can chi thuộc kim được tăng, can chi thuộc mộc bị giảm.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
