Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tính lý

Bài tổng quan

Tứ sinh, Tứ chính, Tứ mộ và phúc đức thực sự nằm ở đâu trên lá số

Tử Vi Nam Phái - Tính lý26/09/202611 phút đọc7 lượt đọc
Tứ sinh, Tứ chính, Tứ mộ và phúc đức thực sự nằm ở đâu trên lá số

Mười hai cung địa bàn chia thành ba nhóm Tứ sinh, Tứ chính, Tứ mộ, mỗi nhóm ban một thể trạng khác nhau cho Mệnh Thân. Nhưng phúc đức ghi trên lá số chỉ là hình ảnh chung của một dòng họ — muốn biết ai mới thật sự gánh chữ Thọ, phải nhìn sang cung Thân.


Tứ sinh, Tứ chính, Tứ mộ: ba thể trạng của Mệnh Thân

Tử vi là một khoa nằm trong dịch lý. Căn bản của dịch lý là âm dương. Trong âm dương phân tách thấy ngũ hành phối hợp. Từ cái bất dịch là hình xác một vật gì, trải qua thời gian là giao dịch sinh khắc chế hóa tạo mối hưng thịnh đến lẽ suy vong, thay đổi là biến dịch.

Trong địa bàn tử vi có đầy đủ ngũ hành, thấy phần trội là Thổ, có nghĩa là mọi sự diễn biến đều ở trong đất mà ra, mà sự khắc chế chỉ ở 4 thế Kim, Mộc, Thủy, Hỏa mới đáng kể. Mỗi hành đều có thể liên minh để củng cố thế tranh đua như Thân Tí Thìn là Thủy, Dần Ngọ Tuất là Hỏa, Tỵ Dậu Sửu là Kim và Hợi Mão Mùi là Mộc, được ghi danh là tam hợp cục.

Tứ chính là cái nguyên bản ngã của nó nên Tí Ngọ Mão Dậu được liệt danh là chính xác của hành đắc dụng làm 4 phương chính: Tí là Bắc phương thuộc thủy. Ngọ là Nam phương thuộc Hỏa. Mão là Đông phương thuộc Mộc. Dậu là Tây phương thuộc Kim.

Trong thế liên minh, cái thế phát nguồn được đặt ở trên để nuôi dưỡng thế chính đứng ở giữa được gọi là tứ sinh: Dần Thân Tỵ Hợi. Dần là Mộc nuôi Hỏa là Ngọ. Thân là Kim bù trừ cho Thủy là Tí. Tỵ là Hỏa, ở trong có cái Mậu Thổ sản sinh ra Kim là Dậu, Hợi là Thủy dưỡng Mộc là Mão. Mọi sự đều dùng sân khấu thế gian là Thổ, đến khi tàn tạ cũng về với đất là Thìn Tuất Sửu Mùi, giai đoạn chót ghi danh là Mộ địa.

Mỗi thế liên minh (tam hợp cục) đều có cung sinh, cung chính và cung mộ. Mỗi cung đều có ảnh hưởng trực tiếp cho cái bản xác Mệnh Thân ở đó, từ tinh thần cho đến thể xác tùy theo trách nhiệm của cung làm phận sự.

Dần Thân Tỵ Hợi là tứ sinh, công việc của chúng vốn là bồi bổ cho Tí Ngọ Mão Dậu nên có lòng tự hào quá cao (ưa đề cao khoe khoang), nuôi dưỡng người được sức khỏe dồi dào (tràng sinh) nhưng không phải là người nặng cân.

Tí Ngọ Mão Dậu là phần danh dự lãnh vai trò chính xác của ngũ hành, phải là người cương nghị, sức khỏe đầy đủ (Đế vượng).

Vị trí tứ Mộ là nơi gần đất xa trời, người này thường thiếu thốn sức khỏe (năm ngày ba tật). Biết phận mình nên không ưa muốn phiền nhiễu ai, là tư cách chính đáng của người tứ mộ (mềm dẻo).

Dầu là tứ sinh, tứ chính hay tứ mộ vẫn một phần quan trọng phối hợp lẽ âm dương, mỗi hành đều có một cung dương và một cung âm, tức là dương cung thì cứng rắn nhiều hơn, trái lại âm cung thì phần hòa hợp có lấn trội, vì dương là tư cách của người sinh nhập nên chu đáo cẩn thận đúng mức, còn âm là tư cách của người sinh xuất nên rộng rãi bao dung.

Có thể xếp thành nguyên tắc căn bản đại cương như sau. Mệnh Thân ở tứ Sinh: mạnh khỏe, ít khi nặng cân, tính tình hay đề cao ưa phô trương. Mệnh Thân ở tứ Chính: đầy đủ sức khỏe, tinh thần kiên quyết. Mệnh Thân ở Tứ Mộ: hay đau yếu nhưng không muốn phiền lụy ai, tính tình mềm dẻo.

Như thế chẳng hóa ra thiệt thòi cho 4 tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi một khi được vinh dự đóng ở Thái Tuế (tứ mộ)?

Thưa rằng: Thái Tuế không phải là khi nào ngồi vào vị trí chính xác Thái Tuế. Bốn tuổi này đều ở vị trí Quan Phù hay Bạch Hổ, phải kể là dị nhân kỳ tài, đem hết khả năng tận tình suy tính để tạo nên sự nghiệp huy hoàng, phải kể là đáng trọng (số Trương Lương, Hàn Tín). Bốn tuổi này đã được quy định là nơi Mộ địa, là nơi trình diễn những vở tuồng đời sáng giá với chiếc lọng che uy nghi cao cả (Hoa cái do hàng chi xắp đặt ngôi vị thực thể) để đền bù sự suy kém sức khỏe.

Đứng trước cái tài tình thông đạt của dịch lý, là hậu sinh không thể không nghiêng đầu kính cẩn vị thánh nhân Phục Hy thời Thái cổ đã khám phá rành rẽ được sự bí hiểm huyền bí tạo vật, một ý nguyện mong người đời thấu đáo đạo lý xử thế.

Tràng Sinh, Đế Vượng, Hoa Cái: ba phần thưởng bù trừ sức khỏe

Những thành quả đặc biệt của Tràng sinh, Đế vượng và Hoa Cái (một hình tượng của Mộ theo luật âm dương).

Tràng sinh chỉ đứng ở 4 cung Dần Thân Tỵ Hợi tức là thế sinh của tam hợp. Vậy chỉ những tuổi tứ sinh mới đắc cách hợp thức luật âm dương và Thái Tuế. Về phương diện ngũ hành, người Thủy mệnh được chủ cách bền vững lâu dài.

Đế vượng chỉ ở 4 chính cung Tí Ngọ Mão Dậu thì cũng chỉ 4 tuổi này mới thụ hưởng những gì là tư thế thịnh đạt vượt mức với Kim mệnh.

Hoa cái, một lợi điểm danh dự cho những người tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi, tùy theo ngũ hành chế hóa của Mệnh với Hoa cái (Kim) tới mức nào.

Nhưng khỏe mạnh hay yếu đuối chỉ là phần thể xác. Phúc đức thật của một đời người còn nằm ở một cung xa hơn — cung mà chính Thân, không phải Mệnh, mới là người nắm giữ.

Phúc đức ghi trên lá số và chữ Thọ thật của riêng Thân

Người học số thường bị vấp ngã trước những câu: phước đức tốt thắng số mệnh; mệnh tốt không bằng thân tốt, thân tốt không bằng hạn tốt. Vậy phước đức là gì? Có phải cái cung số đứng trên cung Phụ mẫu chứa đựng tất cả sự hên xui của đương số?

Số của một người thì mệnh là căn bản với 2 cung Quan là công việc hành nghề và Tài là tiền của thu hoạch, đứng chung một thế tam hợp, tuy 3 mà là 1. Phước đức là cả một việc trời mênh mông. Phước đức lớn đẹp hẳn phải khiến Mệnh Thân chiếm được khu đất thuận lợi (Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ) mà chính Thân điều khiển được Thiên Thọ đúng mức như khuôn Thiên đã giao phó lúc ra đời, thì định mệnh mới có đủ Thiên Tài để hoạch định chính xác hồ sơ dự thảo của kiếp nhân sinh.

Biết rằng một người khi nhập thế cuộc đã nhập ngay vào Thiên can (vòng Lộc tồn ấn định sự thọ hưởng), Địa chi (vòng Thái Tuế sắp xếp tư cách). Còn một phần lớn do mình tùy theo cục diện sinh sống mà hành động (vòng Tràng sinh theo cục bộ dịch thế khuôn xử).

Vì sao Hán Cao Tổ vẫn giữ ngôi hoàng đế dù Phúc đức bị Triệt

Phúc đức in trên lá số chỉ là hình ảnh chung của một dòng họ sinh hoạt, thuận lợi hay ngang trái cho mệnh số chỉ có một phần nào trong đó, còn do nơi Thân tự mua chuộc lấy, cho nên phúc đức cần vô chính diệu được Nhật Nguyệt đồng chiếu thì không gì sánh bằng, ví như tờ giấy trắng tinh phơi bày giữa ánh sáng trời đất, bồi đắp thêm hay tự bôi lem luốc là nơi Thân không biết điều hành chữ Thọ (nhân hậu). Cao tổ nhà Hán tuổi Giáp Ngọ sanh ngày 13 tháng 11 giờ Ngọ, mệnh an tại Ngọ có Tử Vi Tả Hữu Song Lộc Hóa Khoa, xứng đáng ngôi vị hoàng đế lâu dài. Vậy mà Phúc đức có Phá Quân Hóa Quyền bị Triệt. Thử hỏi nếu Phúc đức bao gồm chi phối Mệnh Thân thì làm sao tồn tại nghiệp đế hàng mấy trăm năm. Phải chăng Tài Thọ ở Di ông đã rất rộng lượng nhân ái đối với mọi tầng lớp thế nhân, dẫu là kẻ địch đã uy hiếp mình (Tí khắc Ngọ), Tài Thọ hợp chung là những bộ đôi này đem đến.

Thưa rằng không phải dễ dàng giản dị đến như thế. Mệnh đứng vào một thế liên minh tam hợp nào, khi vận hành đến thế liên minh đó mới chính là hợp cách Thiên thời (Thái Tuế). Số đã dành riêng cho cơ hội Thái Tuế là đẹp nhất (Thái là tối cao đẹp) thì không còn gì vượt hơn lên trên được nữa, nên phải ngăn chặn bằng thế Thiên không (tay không), nếu trong đó chứa đựng những bộ đôi như trên đã nói, thì đó chỉ là bùa mê thuốc lú mang lụy vào Thân. Người học số nhiều khi ngã lòng vì những thuyết di hạn vận, di Lộc tồn, di Thiên mã, đủ các thứ di, để che lấp, bênh vực các khuyết điểm mà người đời chưa được thông suốt thấu đáo mạch lý.

Phúc đức nay đã hiện nguyên hình là Thiên Thọ do Thân sản xuất chi phối cả Tứ đức, điều mà cổ nhân liệt cho là bất hạnh lớn nhất cho người vô tự, ví người đó như là người bỏ cuộc trong một giải tranh đua, là người mất hết hy vọng của cuộc sống lâu dài cho đến ngày tàn tạ trở về với đất, nên thường phải kiếm dưỡng tử để mua lấy tin tưởng, dẫu có thua cuộc trường chinh, nhưng cũng không hổ thẹn nửa đường bó gối, cũng đi đến nơi về tới đích cũng như ai lực sỹ trên võ đài thế cuộc.

Tử tức đứng ở thế yếu điểm không bao giờ đồng hành âm dương với Mệnh Thân, luôn luôn tam hợp với Nô. Vì vậy phải tính Nô với Tử như răng với môi. Hở môi thì răng lạnh. Nô quan hệ với Tử vì Thiên thương nằm trực, phải có điều bất hạnh cho Tử về phương diện nào nhiều hay ít (Nô là ngoại nhân). Như một khi Mệnh là Cơ Nguyệt Đồng Lương ở dương cung, thì Nô phải là Sát Phá Tham ở âm cung. Sự đề phòng oan trái vô cùng thận trọng, nếu lại là thế tam hợp Tỵ Dậu Sửu vì Phá Quân tối hãm đi đôi với Phá Toái (Toái quân lưỡng Phá). Trường hợp này phải kiếm cầu cứu ngay Hóa Khoa và Quang Quí. Nếu được hai sao này chiếu cố có thể yên tâm tính cuộc lâu dài.

Nỗi ưu tư của thế nhân không phải đến đây là hết, còn ách với Thiên sứ có đầy đủ quyền uy thi hành nghiêm khắc tùy theo tập nhật ký nhân nghĩa của từng người. Mừng cho ai khi thấy Thiên Quan ngồi chung với Thiên sứ, hai vị thông cảm nhau điều hòa mọi chi tiết thì thế nhân âu cũng dễ dàng mọi sự khó khăn trên bước đường rong ruổi.

Thuyết Mệnh đẹp không bằng Thân đẹp, ngụ ý Mệnh điều khiển nửa đời trước còn Thân điều khiển nửa đời sau, cho rằng nửa đời trước dẫu có huy hoàng cách mấy, nhưng khi về già được mát mặt vẫn là hơn, cũng không còn vững lý, vì khi tính đại vận luôn luôn bắt đầu từ Mệnh tính đi liên tiếp đến ngày mãn cuộc. Không phải chỉ có 3 đại vận đầu, còn ngoài 30 tuổi lấy Thân xuất phát.

Thuyết không hợp lý thì kết cục chắc không tài nào thắng vững chắc.

Bảng đồng hạn tuổi thơ và bốn con số 3, 5, 7, 9

Người đời khi nhập thế cuộc phải lên tiếng khóc ban đầu mà thánh Phục Hy đã tính thấy đầy đủ ý nghĩa bằng bảng đồng hạn: 1 tuổi ở Mệnh, 2 tuổi ở Tật, 3 tuổi ở Ách, 4 tuổi ở Phối, 5 tuổi ở Phúc, 6 tuổi ở Quan, 7 tuổi ở Nô, 8 tuổi ở Di, 9 tuổi ở Tử, 10 tuổi ở Bào, 11 tuổi ở Phu, 12 tuổi ở Điền.

Mười hai cung này thấy ngay 4 số: 3, 5, 7, 9 trình bày ngay trước mắt: Ách là 3, Nô là 7, Phúc là 5, Tử là 9, là những con số có năng lực hy vọng hay xui xẻo do hàng Can làm gốc của số mạng định đoạt, gán cho Phúc Đức điều động. Sự thật chính là Thân tạo nên, rồi Mệnh sẽ kiểm điểm thi hành đúng mức.

Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư, Thiên Lương.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tính lý