Bài tổng quan
Hai chữ Tài Thọ trong truyện Kiều và trạm gác Thương Sứ của đời người
Nguyễn Du gửi cả một bản lập thành tử vi vào những vần Kiều, nơi mỗi nhân vật mang sẵn một chính tinh và một số phận riêng. Đời người bước qua tuổi 49 cũng vậy, phải vượt đủ hai trạm gác Thương Sứ mới chạm được các mốc thọ tiếp theo.
Hai chữ Tài Thọ giấu trong những vần Kiều
Sau khi đọc truyện Kiều, ai học lý số cũng phải công nhận tiên hiền Nguyễn Du là một nhà đại danh lý số. Cụ đã khéo diễn tả những nhân vật trong sách như một bản lập thành tử vi kiệt tác.
Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
là hình bóng của Đồng Âm cư Tí đắc Hồng Đào, oan nghiệt bị bồi thêm Hóa Kỵ. Sắc đẹp cô Kiều đến hoa phải thua thắm, liễu cũng phải nhường xanh tươi, khác gì Thái âm ở Tí được Hồng Loan Đào hoa tô màu thắm, rồi bị nghiệp báo Hóa kỵ hờn oán tức là dây tơ hồng bị vấy bùn đen. Cô Vân lại khác:
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
đúng là tượng ảnh Thiên Phủ của tuổi Ất Hợi đóng ngay Thái Tuế. Ý nói Thúy Vân đứng đắn phương phi phúc hậu được hưởng phúc, Lộc Tồn tuổi Ất.
Từ nhan sắc Thúy Kiều, Thúy Vân đến khí phách Từ Hải
Với Từ Hải:
Râu hùm hàm én mày ngài
Vai năm tấc rộng thân mười thước cao
…
Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Chính xác là Phá Quân Tí Ngọ tuổi Giáp đắc Hóa Quyền.
Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo.
Phá Quân không những là một kiếm khách giang hồ nhà võ, còn là một nghệ sỹ, một tài tử thấu đáo đàn ngọt hát hay.
Tả Hồ Tôn Hiến:
Nghĩ mình phương diện quốc gia
Quan trên ngắm xuống người ta trông vào
…
Phải tuồng trăng gió hay sao
Sự này biết tính thế nào được đây?
rõ ràng là một Nhạc Bất Quần ngụy quân tử, Tử Phủ Dần Thân Không Kiếp.
Để kết luận truyện Kiều cụ Tố Như tóm tắt bằng 4 câu:
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
là tất cả nguyên ý 2 chữ Tài Thọ ở đây.
Tài do Mệnh, Thọ do Thân — luật thừa trừ của định mệnh
Tài ngoài ý nghĩa tài năng, còn một ý nghĩa là đo lường cắt giảm, chữ Thọ là nhân hậu.
Nguyên lý Tài do mệnh, Thọ do Thân là luật thừa trừ do định mệnh cắt giảm, còn nhân hậu do bản thân tự đào tạo. Tài Thọ là một đạo lý trá hình bằng 2 sao bắt đầu di chuyển từ Mệnh và Thân đến ở cung nào, mách bảo cho biết phần liên hệ giữa Thân Thế với cung đó đã có sự hoán cải do luật thừa trừ mình đã gây nên, như tuổi Đinh Hợi âm nữ sinh ngày 22 tháng 5 giờ Mùi.
Mệnh, Thái Tuế Thiên Tướng Thiên Phúc, hành nghề cứu nhân độ thế. Thiên tài ở Bào có Cự Môn Hóa Kỵ. Thiên Thọ ở Phụ Mẫu hòa hợp với Thiên Lương. Có phải người này chịu hy sinh thân thế, Thân cư Phúc đức ở vị trí Tang Môn có Liêm Sát Thiên Hình, vì Phúc có phần khiếm khuyết để cho cha mẹ được tiếng hiền lương nhân hậu và anh em cũng được đầy đủ êm đẹp. Nơi đây thấy sự thừa trừ rất nhiều do định mệnh, thân thế băn khoăn nặng lo cho giòng họ gia đình. Cả Mệnh lẫn Thân từ Thiên Tướng đến Liêm trinh Thất sát không phải là nòng cốt. Thiên Phủ ở cung Tài mới là chính diệu hiện nguyên hình người này, thấy ngay đâu là tư cách căn bản của người điều động được Thiên Thọ.
Nếu người tuổi Tí Thân Mệnh đồng cung có nghĩa là định mệnh với mình là một. Nơi đây định mệnh thừa lệnh của Thân. Nếu được Thân Mệnh ở Thái Tuế là người nhân hậu ngay trong huyết quản, chữ Tài cắt dọn tất cả những gì trở ngại cho Mệnh. Là Tử Vi, hay Thiên Lương, Thiên Tướng, Tài sẽ làm cho đời ngộ nhận nhân phẩm, nhưng rồi ra Thái Tuế sanh đối với Thiên Thọ sẽ đâu lại hoàn đó. Trường hợp có Tả Hữu là tư cách vạn năng, bằng như đụng nhầm Không Kiếp là sinh bất phùng thời không được hưởng tư tưởng cao đẹp.
Người tuổi Ngọ sinh giờ Mão hay Dậu nếu là Mệnh Thái Tuế, Thân phải là Tuế Phá là người hành động bày tỏ lòng trinh bạch của mình, Thân đặt ngay Thọ ở Mệnh, thì định mệnh cũng cải chính ngay thân thế, Mệnh đặt Tài ở Thân. Tuy ở trong hoàn cảnh thất ý nhưng lòng son sắt không thiếu nhân hậu.
Biết rằng Thân chỉ có 12 cung số. Thân Mệnh đồng cung, Thân Phúc đức, Thân Quan Lộc, Thân Thiên di, Thân Tài bạch, Thân ở Phối, không bao giờ có ở Phụ, Bào hay Tử là những cung có giây liên lạc hệ trọng với Mệnh vì cá nhân mỗi người có một hành động riêng, ai làm nấy hưởng.
Thân ở 6 cung thường được coi là cường cung thấy rõ ràng luật giang hồ ân oán. Mình thừa hưởng phúc tích lũy, mình chịu ảnh hưởng công việc hàng ngày, mình gánh chịu kết quả tiếp xúc với ngoài, mình hưởng sự nghiệp ở hoàn cảnh nào, trên đường đời mình đã làm gì trong việc kết tóc se tơ. Từ 6 cung này Tài Thọ kiểm điểm tư cách rồi quyết định đến ở một cung nào trong 12 cung của đương số, thêm bớt sao cho hợp lý đi đôi với tính cách cá nhân định mệnh an bài và thân thế cư xử.
Rời những vần Kiều đo lường tài mệnh, đường đời thật còn phải qua hai trạm gác lặng lẽ khác — canh giữ đúng vào những năm tưởng chừng bình yên nhất.
Thương Sứ: hai đồn canh giữa ba đoạn đường lượn dốc của đời người
Câu nói thường ngày đã thành tục ngữ "49 chưa qua, 53 đã đến". Có ý lo sợ cho ai trong thời gian ngắn ngủi 4 năm mà đến 2 lần xui xẻo có thể về với tổ tiên.
Vì sao năm tuổi 49 luôn bị coi là xấu
Chữ Thọ là rất quí vì có thọ mới từng trải cuộc đời hướng dẫn cháu con, đâu là đường quang lẽ phải. Thọ có 3 đợt: Sơ Thọ, trung thọ và thượng thọ. Sơ thọ là tuổi 50. Người nào mà về cõi năm 49 kể như yểu tử đã phạm một lỗi lầm gì nên không được phép bước tới thêm một bước được liệt vào hàng phước thọ. Cho nên năm 49 được coi như là tối quan trọng. Thường thường trong mỗi thời gian 10 năm có 4 năm cuộc đời thấy mọi lẽ hên xui khác biệt hẳn là 4 con số: 3 và 7, 5 và 9 là hên. Tại sao vậy?
Tuổi người ta có 2 phần: hàng Can là gốc, hàng Chi là ngọn, như tuổi Giáp Tí thì Giáp là Can thuộc dương mộc, Tí là chi thuộc dương thủy, thì cứ mỗi năm nào gặp 1 con số 3 hay 7 là những năm bị sinh xuất hay khắc nhập, tức là cây bị lay gốc hay bị cắt rễ, như 1 tuổi là Giáp Tí. Năm lên 3 tuổi là Bính Dần tức là Giáp sinh Bính là hao mòn cho nên đặt ở ngay cung tật ách, Thiên Sứ. Năm tuổi là năm Mậu Thìn ở Phúc đức chữ Giáp khắc xuất chữ Mậu là Mệnh chiến thắng được năm. Năm 7 tuổi ở Nô, Thiên Thương, là năm Canh Ngọ, chữ Canh khắc chữ Giáp. Đến năm 9 tuổi là Nhâm Thân, chữ Nhâm sinh cho chữ Giáp ở tử tức có nghĩa là nẩy nở. Vậy có thể xắp xếp: 3, 13, 23, 33, 43, 53, 63 là những năm sinh xuất, chịu đựng; 5, 15, 25, 35, 45, 55, 65 là những năm khắc xuất, phấn đấu; 7, 17, 27, 37, 47, 57, 67 là những năm bị khắc nhập, thua thiệt; 9, 19, 29, 39, 49, 59, 69 là những năm được sinh nhập, hưng vượng — trừ năm 49. Hàng Can tuy được sinh nhập như các năm có số 9 khác, nhưng lại là năm Chi đến năm tuổi, nghĩa là năm 49 là năm tuổi của mình. Tại sao năm tuổi lại xấu?
Trong bản lập thành tử vi, vị trí năm tuổi luôn luôn đóng ở thế tam hợp không đắc ý, Tuế Phá Tang Môn Điếu khách. Thiết tưởng từ chỗ thành công, Can sinh nhập, đưa đến chỗ bất mãn, còn gì là tốt đẹp khác gì cây bị úng nước, rễ phải sinh, ngọn sẽ tàn héo, nên tiền nhân sợ năm tuổi không dám khuếch trương hành động ở những năm đó.
Thường ngày chỉ nói đến 49 và 53 là 2 đoạn đường dổ dốc trước khi lên ngôi sơ thọ (50) và trung thọ (60). Còn một đoạn đường nặng nề gay cấn để đưa đến thượng thọ (70) là năm 67. Bất cứ một lão nhân nào đều lâu mau nằm dưỡng bệnh. Năm thiên khắc địa xung rất khó mấy ai vượt nổi mới có câu 70 cổ lai hy hữu. Tại sao lại gọi là thiên khắc địa xung?
Năm 67 tuổi bất cứ người tuổi gì, hàng Can đều bị khắc nhập nên gọi là thiên khắc. Còn hàng Chi đều bị đối nghịch tức là thế xung, như tuổi Tí gặp năm Ngọ, tuổi Mùi gặp năm Sửu. Gốc bị cắt xén, ngọn bị dập bể làm sao mà sanh tồn. Mỗi giai đoạn bước tới từ sơ thọ đến thượng thọ đều có 1 đoạn đường dổ dốc để lượn lên, người lái xe phải lành nghề (Thái Tuế), vững tay lái, xe không ham chở nặng, nới tay Quyền Lộc, mới mong an toàn.
Ai đi xuôi gặp Thương trước, ai đi nghịch gặp Sứ trước
Thương Sứ là 2 đồn canh ở giữa 3 đoạn đường này. Thương là tổn hại, Sứ là thừa lệnh. Sứ ở Tật Ách là chấp chưởng thi hành tai ách, là một việc làm trúng chỗ. Còn Thương sao lại ở cung Nô, không lẽ người dưới tay người nào cũng mất nhân nghĩa chỉ báo hại mệnh hình thương!
Nô và Ách là 2 mốc độ đoạn đường thời gian bằng nhau, dầu đương số là dương nam âm nữ đi xuôi thì thời gian ngoài 50 phải gặp Thương. Nếu là âm nam dương nữ đi nghịch thì cũng thời gian ngoài 50 phải đụng đối đầu Sứ.
Kiếp nhân sinh khi đã vượt được mức yểu tử 49 thì hạn 53, 67 không chừa ai là không bị Thương Sứ kiểm soát, dầu mình ở vào hạng nào (Thái Tuế hay Tuế Phá, Thiếu Dương hay Thiếu Âm), nam hay nữ, đi xuôi hay đi nghịch.
Người Thái Tuế thi hành sứ mạng đến thế nào hay có làm gì lầm lỡ. Người Tuế Phá liều lĩnh quá đà hay nương tay hiểu phận. Người Thiếu Dương thi tài lạm dụng nếu biết tu tỉnh. Người Thiếu Âm không biết an ủi mà cố lội ngược dòng.
Thương Sứ kiểm tra đâu là uẩn khúc oan ứng lập thành quả. Thường tình người đi xuôi là thuận đường nên gặp Thiên Thương trước, có phần nhẹ hơn người đi ngược phải đụng độ Thiên Sứ ngay bước đầu. Thiên sứ kể như vị chánh sứ thi hành mệnh lệnh, còn Thiên thương chỉ là phận phụ tá nên có phần nhẹ tay quyết định. Nhưng cũng tùy trường hợp. Nếu Thiên Thương có Kình Dương đứng hộ vệ ở Tí Ngọ Mão Dậu thì cảnh quan tha ma bắt thường diễn tả.
Cung Nô của những tuổi Giáp Mậu Canh Nhâm ở tứ chính thường diễn những cảnh tang thương đau xót mỗi lần đụng độ, tiểu hạn không có gì, đại vận gặp Thương Kình là tuổi ngoài 50.
Phải kể tuổi thọ là đáng quí trọng, nhưng mỗi khi ăn mừng tuổi lão thượng thọ (70) sau đó một vài năm nếu là thủy nhị cục, các cụ có được giấy mời của vị Đại sứ, kể cũng là phải lúc tham quan non bồng nước nhược, đó là giai đoạn nhập cuộc Thương Sứ, trong vị trí thường có Thiên Không, Không Kiếp, Tang Môn, mấy ai được Long đức hay nói gì Phúc đức trọn vẹn.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư, Thiên Lương.
