Bài tổng quan
Càn Khôn, đức hạnh và chữ Thời trong lý âm dương
Trời có đức Nguyên Hạnh Lợi Trinh, đất có đức An Trinh Cát, hai quẻ Càn Khôn tưởng đối lập tuyệt đối nhưng lại cùng dạy một điều: cương kiện quá cũng phải biết dừng, nhu thuận quá cũng phải biết tiến. Còn trên lá số, mỗi cung dương hay âm cũng mang một chữ Thời riêng, sai một nhịp là cả đời phải trả giá…
Càn khôn một khối vĩ đại đức hạnh
Vũ trụ là một khối thái cực bao gồm một cặp lưỡng nghi thiên địa được biểu tượng nên hai thế Càn (dương) và Khôn (âm) chứa chất biết bao khả năng trong đó có cương kiện và nhu thuần. Một đức tính người thường ghi dành riêng cho hạnh kiểm của những hiền nhân quân tử mới có.
Trời đất tất nhiên là sáng suốt có vạn năng hun đúc uốn nắn đến cái thứ ba là đệ tam tài (nhân) thừa hưởng và thi hành. Người đời được sinh ra vốn bản thiện, một điều tiên quyết mà mấy ai đã kiên trì vứng tay nắm chắc từ thửa sơ sinh cho đến lúc bạc đầu.
Hai quẻ Càn Khôn dịch lý chứng minh giảng giải cho thế nhân thấy tất cả những gì khả năng vô địch của lưỡng nghi trời đất.
Biết rằng mỗi quẻ dịch có hai quái: nội quái là dương và ngoại quái là âm. Mỗi quái có 3 hào nên mỗi quẻ có 6 hào vì lẽ tam tài (thiên nhân địa). Mỗi tài phải có một hào dương và một hào âm để biến nên vị trí chính. Lấy hai hào chính giữa mỗi quẻ để giao hợp nhau nên gọi là trung. Nếu hào nhị âm và hào ngũ là dương là đắc chính.
Thấy hai quẻ, Càn nêu là Bát Thuần Càn và Khôn ghi Bát Thuần Khôn, tức là mỗi quẻ 6 hào đều đứng về một phía.
Theo luật âm dương thấy lệch hẳn một bên thì hẳn có sự mắc nghẽn không xuôi chiều, vì thế hai quẻ này soán từ giảng giải rất cao siêu để biện lý tất cả những gì là khả năng của Càn Khôn xây.
Sáu hào của Càn đều là dương, thấy sự khó khăn ở ba hào nhị, tứ và thượng đáng lẽ phải là âm mới đắc vị. Nhưng đã là Trời mà phải khoanh tay trước thế bí sao? Soán từ đề cao 4 chữ của Càn: Nguyên Hạnh Lợi Trinh. Nguyên là nguồn gốc đầy đủ. Hạnh là thông thái thuận tiện. Lợi là tiện ích thỏa mãn. Trinh là chính đính bền chặt đến cùng.
Chủ yếu gồm ý phơi bày vạn năng của Trời ngay từ gốc thiện căn, đủ sáng suốt hành động công ích thỏa mãn mọi trường hợp với ý chí bền chặt đến cùng. Mặc dầu có những trở ngại chỉ là giai đoạn (nhị, tứ). Cương kiện là bản chất của Càn, nên nhu phần nào cho trúng lúc (chữ Thời). Qua hào cửu ngũ đã thành công đến hào cửu thượng không nên quá cương, vì cùng tắc biến, đầy quá phải tràn, giữ khoan hồng nới tay để tránh vòng biến họa. Đây là chân bản sáng suốt của Thiên.
Quẻ Khôn cũng 6 hào toàn âm, thấy nghịch cảnh ngay ở hào sơ, tam và ngũ đáng lẽ phải dương hào mới đắc cách. Khôn cũng như Càn không lẽ không thể có chu đáo, Càn cương kiện bao nhiêu thì Khôn đương nhiên nhu thuận bấy nhiêu. Thông minh có thừa biết không được ban phát cương kiện như Càn, nên phân định đâu là thuận lợi thuận theo bước của Càn mà tiến bước. Soán từ đề ra 3 chữ: An, Trinh, Cát. An là yên bề thuận theo. Trinh là chính đính bền chặt. Cát là tốt đẹp hoàn hảo.
Với đầy ý nghĩa răn khuyên giữ chữ Trinh đến cùng đến khi thấu đáo đâu là phải thì thuận theo phò trợ, cũng được tốt đẹp hoàn hảo như ai, vì với ba hào là sơ, tam và ngũ thận trọng trong việc nghĩ xét không quá vội vàng, tới lúc gặp được Càn nên thuận theo cương quyết gắng công.
Càn Khôn đã khuyên giải chữ Thời quan trọng. Cuộc nhân thế tùy theo cương kiện của Càn và nhu thuận của Khôn mà hành động tiến thoái. Trên địa bàn Tử Vi cũng chỉ là bức phóng ảnh bước đường Càn Khôn. Từ lúc mang tiếng chào ban đầu ra ánh sáng cho đến ngày thất trận cổ lai hy cũng trải qua 6 giai đoạn: nào thời Thái Tuế, nào hạn Thiên Không, lúc vận sinh xuất, lúc hạn khắc nhập. Đương số dầu là Tử Phủ, Sát Phá Tham hay Đồng Lương, Cự Nhật phải tùy chữ Thời mà cương nhu. Đừng tưởng Quyền Lộc tô điểm mà múa tay nhảy với, sáng suốt nhận định tư thế của mình với cơ duyên đắc thất. Quyền Lộc kia chỉ là bậc thang thuận tiện cho cả hai chiều đi lên hay bước xuống cùng mau lâu như nhau. Sự khác biệt tùy theo thiện tâm dẫn dắt lẽ sống.
Càn cương, Khôn nhu, mỗi bên một đức — nhưng khi hai đức ấy giao hoà với nhau trong một quẻ, con người sẽ sống ra sao?
Đức hạnh Càn Khôn đi đến Đồng Nhân Đại Hữu
Càn Khôn biểu tượng cho vạn năng nhất là đức hạnh cương nhu kiên thuận, lần xuống Tứ tượng có Khảm Ly: Ly thiếu dương của Càn, Khảm thiếu âm của Khôn.
Đạo Càn Khôn bao gồm ban phát ra 4 chữ Nguyên Hạnh Lợi Trinh (Càn) và 3 chữ An Trinh Cát (Khôn) cho đời được hưởng những gì là hoàn hảo tốt đẹp công bằng mọi người như nhau.
Với hai quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân và Hỏa Thiên Đại Hữu thấm sâu lòng người, cho biết đâu đường lối mà thế nhân muốn thực thi tất cả tiến tu đến thánh đức, ngày ngày kiến tạo biểu hiện đức mình trong công việc.
Thiên Hỏa Đồng Nhân có nội quái Ly, ngoại quái Càn. Ly ở dưới Càn tượng là lửa bốc lên tới Trời chiếu sáng mọi nơi hết thảy sinh vật đều hưởng quang minh. Chữ "đồng" nơi đây có nghĩa tất cả mọi người không kể thân sơ gần xa quen lạ tức là đại đồng. Như thế mới đại đạo chí công. Thể theo quái Ly biểu hiệu đức tiến bộ. Càn có đức cương kiện. Hai hào nhị và ngũ có đức trung chính ứng hợp với nhau. Trong vốn sẵn sáng suốt, ngoài cương quyết thực thi. Tưởng đó phải chính đại quân tử mới chu đáo được, vì tâm tư người đời thiên trạng vạn thái rất khó bỏ sạch được tì tâm để làm sáng tỏ chí công vô tư. Với 6 hào chỉ có hai hào tứ và thượng là trở ngại vì quá cương kiện nên pha vào nhu thuận nguyện ý cầu mong biết hồi đầu nghĩ lại đã có gì bất trực hoặc vô tư. Biết điều lỗi rồi tự tu sửa, tưởng chẳng điều gì tốt hơn.
Hỏa Thiên Đại Hữu trình bày Càn nội Ly ngoại có nghĩa là cộng đồng với người, tất thảy mọi người đều là bạn. Nhận xét 6 hào chỉ một hào sơ đắc vị, hào tam tuy là dương nhưng sợ quá kiện dương hóa kiêu vì 3 hào nội quái đều dương. Nhưng đã sanh ở dòng giống thiện đức (Càn) há không biết tùy thời ứng đối. Hạ Càn nguyên gốc quân tử thượng Ly đã thông sáng suốt giao hợp. Quan trọng ở hào ngũ là âm, vạch lối cho người biết khi đã công thành danh toại nên khiêm nhượng để tránh hiềm khích, làm gì mà không thâu thái được lòng người trở nên đại hữu.
Thủy Địa Tỷ thành lập do hai quái Khôn hạ, Khảm thượng, tức là Thái âm và Thiếu âm chung hợp, cũng như Hỏa Thiên Đại Hữu có Càn nội Ly ngoại (Thái dương, Thiếu dương cộng tác). Một bên, Trời được lửa cháy sáng quang minh. Một bên, đất được nước thấm nhập mềm dẻo.
Nguyên lý trong Càn Khôn không giống một loại vật nào sống cô lập mà thành công trường tồn mỹ mãn, luôn luôn có giao dịch phụ giúp lẫn nhau. Trông vào 6 hào thấy ngũ hào oai nghiêm dương cường hòa hợp với hào nhị ở hạ quái. Đây là hào độc nhất lãnh tụ có tất cả sáng suốt dìu dắt 5 âm hào quy tụ trên dưới. Tiếc rằng nội quái toàn hào âm, quan hệ ở sơ hào nơi nguồn gốc đều quá nhu giúp sức cho hào thượng cùng tính chất. Sự bền vững khó lâu dài. Vậy người kết bạn, tìm thầy nên thận trọng ngay từ lúc đầu mới mong tránh suy tàn.
Hình ảnh của Đồng Nhân Đại Hữu chiếu ánh sáng Tử Vi màu sắc hai sao Tài Thọ nhập Mệnh Thân Tài Quan và Di đồng điệu. Số được Tài Thọ nhập Mệnh có khác gì người trước khi giao dịch với đời, nhất là công việc có lợi ích chung, trước hết phải chỉnh tu đức hạnh ngay bản thân. Trường hợp Tài Thọ nhập Quan, đương nhân phải chí công vô tư, hành vi cương nhu cho trúng lúc. Tài Thọ ở Di bó buộc vị tha ngay với cả đối phương không vì tỵ hiềm mà hành động trái chính tâm.
Đức hạnh của Càn Khôn đã tỏ trong từng hào quẻ — còn thể hiện xuống địa bàn Tử Vi, chữ Thời gắn với lý âm dương ra sao?
Chữ Thời với lý âm dương
Hình tượng bát quái cho thấy 8 lực lượng của vũ trụ (Càn là trời, Khôn là đất, Khảm là nước, Ly là lửa, Tốn là gió, Chấn là sấm, Cấn là núi, Đoài là sông) do một chữ Càn biến dịch mà nên. Sở dĩ phải để 3 nét là do một quái là muốn chứng minh trong hư không có 3 khả năng chính là trời đất và người, ngôi vị đại diện cho sinh vật.
Thời tiết thay đổi do Thiên khó có gì ngăn chặn. Những sự rung chuyển đất núi thành sông biển cũng không có gì kìm hãm nổi. Cái sức thứ 3 là nhân, cái thai sản hợp đúc do 2 thế âm dương thực hiện không phải là không đáng kể, trải bao thời gian đã in lại bao dấu tích.
Thiên Địa Nhân chỉ là thế đứng bất dịch. Ngày tháng trôi qua phải có biến dịch tức là phải có âm dương canh cải. Vậy mỗi Tài tất có 2 thế (âm và dương) mà tài là 6 hào tức là 2 giáp hợp lại. Thiên 2 hào trên hết. Nhân 2 hào ở giữa. Địa 2 hào ở dưới cùng. Mỗi hào như trên định thực thi thế đứng âm hay dương.
Mỗi quẻ dịch gồm hai quái mới đủ tư thế âm dương cho 3 thế Tài mà mỗi vị trí của mỗi quái nhất định: Hạ tức nội là dương, Thượng tức ngoại là âm. Sáu hào cũng có vị trí nhất định. Hào sơ là hào dương, hào nhị là âm. Thuộc tài của địa, hào tam (D) hào tứ (Â) thuộc tài nhân. Hào ngũ (D) hào thượng (Â) thuộc tài thiên. Mỗi quẻ ứng lên hào nào đóng trúng ngay vị trí của nó như sơ tam và ngũ là dương, nhị, tứ và thượng là âm như quẻ Thủy Hỏa Ký Tế có nghĩa là mọi sự được hanh thông. Nếu nghịch lý ở chỗ nào tức là có sự bế tắc nơi đó, sự việc chủ phải tùy cơ ứng biến.
Trên địa bàn Tử Vi cũng vậy. Dương Mệnh phải là dương cung, người âm nên ngồi ở âm cung mới đắc cách. Tốt đắc ý ở nơi tam hợp Thái Tuế, còn chẳng may bị đặt ở tam hợp Tuế Phá cũng vẫn có tư cách hơn ai với Thiên Mã ngầm giúp. Trái lại với người dương đóng ở cung âm hay người âm đóng ở cung dương, tức nghịch lý âm dương phải khoác lấy thể bài khắc chữ "Thiếu" vào mệnh coi như bị thua thiệt (Thiếu dương hay Thiếu âm) nên chấp nhận ngay Thiên Không (Thiếu Dương) hay Trực Phù (Thiếu Âm) và nền tự hướng dần trên đường Tứ Đức.
Biết rằng dương thì tính tình cương kiện mà âm thì nhu nhược. Người đóng cung dương tất nhiên mọi việc đối với dương nhân hẳn là cẩn thận chu đáo kiên quyết. Trái lại đóng cung âm trộn pha thêm nhu nhược phần nào không thể cứng rắn như cung dương. Với người âm đóng cung âm tính tình dễ dàng miễn là việc chủ trương được hoàn thành là mãn ý không ngại sự lãng phí. Nếu ở cung dương sự rộng rãi phải phần nào nhường cho sự cẩu thả. Thêm vào bộ sao Tử Phủ Sát Phá Tham có tính cách thực hành thêm phần rộng rãi với bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương Cự Nhật luôn để trên lý thuyết tính toán sao cho đúng mức, cũng là thế lưỡng nghi âm dương hướng dẫn.
Vận hạn xoay vần hết dương là đến âm, hết âm phải chuyển đến dương, muốn thực thi chữ "thời" nên thận trọng nhận định đâu là hợp cương kiện, đâu là nhu thuận với bản chất cố hữu của Mệnh trên cung số. Quyền Lộc nghịch lý âm dương chỉ là phù vân, Mệnh nghĩa mà có mới là hoàn hảo, trường hợp Tuế Phá cũng là hư danh (Thiên Hư).
Sáu hào trong Quẻ dịch chia cho 2 quái. Nội quái là dương có 2 hào dương sơ và tam. Ngoại quái là âm có 2 hào âm là tứ và thượng, cho thấy rằng trong dương có âm và trong âm có dương, đó là gốc của biến dịch. Hào sơ vốn là dương đủ cách như khi bắt đầu chủ trương một công việc phải tính toán mọi chi tiết để tiếp giai đoạn 2 còn thừa trừ cắt xén, song giai đoạn 3 không thể nhu yếu để bị gò ép, đến giai đoạn 4 phải cởi mở phần nào để thuận bước qua giai đoạn 5 thành công phải được sự thỏa mãn rộng rãi là ý nghĩa của hào thượng thuộc âm nhu thuận.
Trường hợp thông thường Mệnh hay Thân bị Tuần hay Triệt chận đầu, chờ đến thời gian gặp Tuần hay Triệt còn lại cởi mở mới đắc ý. Nhưng nếu là người dương đóng cung âm hay người âm đóng cung dương khi gặp Tuần hay Triệt cởi mở phải tùy theo cung âm hay dương đắc cách với Mệnh dương hay âm diễn chuyển những may hay rủi, tức là người dương đáo dương cung là Thái Tuế, mà gặp âm cung là Thiên Không. Trái lại người âm gặp âm là Thái Tuế chuyển đến dương cũng là Thiên Không.
Mệnh hay Thân từ sơ sanh đã bị Tuần hay Triệt kìm hãm, nay gặp được giai đoạn tháo gỡ, dương gặp dương, âm gặp âm khác gì hạn Thái Tuế mở màn. Thiên Không cũng vậy, người bị Tuần Triệt đương đầu đã ghi nhận như là cái rủi nhưng không hẳn là không may.
Trường hợp 3 phương xung sát có một Triệt ở Mệnh kể như có gì làm đảm bảo, cũng như 4 hướng phò trợ mà không đứng chặn ngay cửa ngõ ví cũng như vô ích.
Lý âm dương chi phối vận hành cũng như tính cách nhân sinh thành một căn bản nhất định. Người dương đáo hạn dương cung hay người âm gặp vận ở âm cung có 2 cách là Thái Tuế hay Tuế Phá. Thái Tuế là trung cách hưng thịnh. Còn Tuế Phá tuy có phần không mãn ý vì Phá Hư nhưng vẫn đưa dẫn dương nhân đến chỗ cao đẹp hơn là vị trí có chữ "Thiếu" (Âm hay Dương) tức là nghịch lý âm dương dầu đầy đủ Quyền Lộc. Người bộ hành trên đường thiên ký nên tùy nghi sáng suốt nhu thuận hay cương kiện dẫn bước.
Điều đáng lưu ý mỗi cá nhân đến tuổi ngoài 40 bắt đầu lập sự nghiệp lớn là đắc vị âm dương. Thái Tuế thì lưu danh thơm muôn thuở. Còn Tuế Phá chỉ là hư nghiệp hậu thế mỉa mai. Người mệnh Thái Tuế và Thân Tuế Phá có nghĩa người này vụng suy muốn 2 tay hứng gió mọi phía để cho thân được mát mẻ, rồi ra ăn năn đã muộn. Không như người mệnh Tuế Phá Thân Thái Tuế, chiếc thuyền nay xa khơi hứng chịu biết bao sóng gió nhồi lắc để rồi thỏa mãn cùng lòng dạ vững kiên đi đôi cùng tuổi thọ trên dưới cổ lai hi hữu.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư - Thiên Lương
