Bài tổng quan
Tam phương Phúc Đức phi hóa vào tam phương Điền Trạch: chín cặp cung
Điền Trạch phi Lộc nhập Phúc Đức thì hưởng sản nghiệp tổ tiên, nhà an đất lành; Phúc Đức phi Kỵ nhập Điền Trạch thì tổ đức không phương, về già cô độc. Cái phúc mang theo và mái nhà đang ở nói với nhau những gì…
Cái phúc mang theo và mái nhà đang ở
Tam phương Phúc Đức gồm Phúc Đức, Phu Thê, Thiên Di; tam phương Điền Trạch gồm Điền Trạch, Huynh Đệ, Tật Ách. Một nhóm nói về phúc báo, tình duyên và dáng đứng giữa đời; nhóm kia nói về mái nhà, kho tiền và thân thể. Hai nhóm phi hóa cho nhau theo chín cặp cung, mỗi cặp hai chiều và bốn hóa.
Nhìn xuyên qua cả chín cặp thì thấy gốc rễ rất rõ: nhà cửa, gia thế, tổ tiên và tài sản của một người thường là hệ quả của phúc đã gieo. Lộc nhập thì phúc ấm, nhà an, tiền dư. Quyền nhập thì có sức sống, gia vận vượng, nhưng dễ xa hoa. Khoa nhập thì điềm đạm, thư hương. Kỵ nhập thì nhà cửa hoặc gia đạo gặp trở ngại, người thân dễ xa nhau. Khi gặp sao chủ về bất động sản hay tiền bất ngờ, mọi chuyện nhà đất và trúng thưởng được đẩy lên rõ hơn.
Phúc Đức hóa với tam phương Điền Trạch
Phúc là cái ta mang theo, nhà là chỗ cái phúc ấy đậu lại, nên đôi cung này thường được dùng để nhìn xa về tổ đức.
Phúc Đức với Điền Trạch
Phúc Đức phi Lộc nhập Điền Trạch: vượng gia, ích trạch, phúc ấm con cháu. Tổ đức lưu danh, hoặc tổ tiên từng phát đạt. Hòa khí vào nhà, tình cảm thắm thiết, hưởng thụ cuộc sống. Họ hàng hòa thuận, phong thủy phúc trạch. Điền Trạch phi Lộc nhập Phúc Đức: gia đình che chở cho ta, hưởng sản nghiệp tổ tiên để lại, tông thân hòa mục. Thu nhập gia đình cao, hậu đãi. Gia vận tốt, nhà an, sinh khí tốt, nhà rộng rãi dễ chịu, bất động sản được phúc.
Phúc Đức phi Quyền nhập Điền Trạch: tổ tiên có người làm lớn. Trong nhà có người dạy bảo nghiêm khắc, tính bảo vệ gia đình mạnh. Sức sống tích cực, gia vận hưng vượng, mở rộng cơ nghiệp. Đời sống cầu kỳ, chú trọng bề ngoài; gặp thêm Lộc thì phòng xa hoa thái quá. Điền Trạch phi Quyền nhập Phúc Đức: gia vận mạnh, kinh tế tốt, thu nhập cao, tinh thần cả nhà phấn chấn; đời sống vật chất tốt nhưng xa hoa lãng phí.
Khoa: Phúc Đức phi Khoa nhập Điền Trạch thì thu chi có tính toán, lo mất mát nên trong nhà thường dự trù cho mọi tình huống; nặng đời sống tinh thần, sống giản dị, nếp thư hương. Điền Trạch phi Khoa nhập Phúc Đức thì tinh thần thư hương, đạm nhã, chỉnh tề, thanh tĩnh; tổ ấm không dày; trong nhà ít khi ầm ĩ.
Phúc Đức phi Kỵ nhập Điền Trạch: khăng khăng, nói đi nói lại. Phòng cá tính tư lợi, nhỏ mọn. Cách cục xấu thì lâu dài sinh bất lương, chơi bời thành thói quen, nghiện. Tổ đức không phương, nhà khiếm trữ. Phòng thân sơ rời xa, làm giàu bất nhân, về già cô độc. Tốt nhất nên tập từ bi, trí tuệ, triết lý. Điền Trạch phi Kỵ nhập Phúc Đức: hoàn cảnh nhà ở kém, hoặc dương trạch nghèo nàn. Nhà không yên, thối tài, bệnh, mọi việc bế tắc. Gia đạo bị lỗi, thân sơ ly biệt. Tâm tình bất nhất, phiền lòng, ở nhà không sống được.
Phúc Đức với Huynh Đệ
Phúc Đức phi Lộc nhập Huynh Đệ: nặng tình anh em, ít so đo, thường cậy nhờ gia sản. Tài phúc dày, tiền bạc vừa ý. Phúc dày ít bệnh, sống thọ. Vợ chồng và con cái đều vui vẻ. Lạc quan biết đủ nhưng ít nghiêm cẩn quản lý tài sản. Huynh Đệ phi Lộc nhập Phúc Đức: anh em yên vui, tay chân tình nồng. Kinh tế dư đủ, sự nghiệp bình thuận, kiếm tiền ung dung. Gia đình thu nhập tốt, cơm áo đầy đủ, sức khỏe ôn hòa.
Phúc Đức phi Quyền nhập Huynh Đệ: can thiệp vào chuyện anh em, tranh đấu không khoan nhượng. Mạnh dạn, tích cực, hăng hái. Tốt nhất là tích cực, chuyên môn, mở mang sáng tạo. Phòng chủ quan quá nặng, không nghe lời khuyên thẳng thắn vì Quyền xung Giao Hữu. Huynh Đệ phi Quyền nhập Phúc Đức: anh em hiếu thắng, yêu thể diện, có người xa xỉ. Kinh tế mạnh, thu nhập tốt, nhiều sự nghiệp thuận lợi; dám kiếm tiền, đời sống đắt giá; sức khỏe, sức sống tốt.
Khoa: Phúc Đức phi Khoa nhập Huynh Đệ thì biết trữ súc, mua bảo hiểm, phòng bị thì đỡ lo; biết dưỡng sinh. Huynh Đệ phi Khoa nhập Phúc Đức thì tích từng chút cũng không vô ích; anh em nhàn nhã vô ưu.
Phúc Đức phi Kỵ nhập Huynh Đệ: làm người so đo, vô tình vì xung Giao Hữu. Tình tay chân, anh em thối tài. Lo cho sức khỏe. Phòng hôn nhân bằng mặt không bằng lòng vì xung Phu Thê. Huynh Đệ phi Kỵ nhập Phúc Đức: anh em có người nặng tính hưởng thụ, khó cậy nhờ. Kho rò rỉ khó tích trữ, kinh tế cực khổ. Sức khỏe xuống dốc, nên dưỡng sinh, vận động.
Phúc Đức với Tật Ách
Phúc Đức phi Lộc nhập Tật Ách: tâm khoan thể rộng, hưởng thụ cuộc sống, lười biếng, sợ đổ mồ hôi. Thâm tâm nghĩ vẩn vơ, tùy hoàn cảnh. Phòng lười thành tính, không ôm chí lớn. Tật Ách phi Lộc nhập Phúc Đức: lười vận động, phát phì. Không bệnh lâu, gặp thầy thuốc tốt, bệnh nặng chết nhẹ nhàng. Gia vận tốt, nhà an trạch cát. Sinh hoạt hậu đãi, hưởng thụ vật chất.
Phúc Đức phi Quyền nhập Tật Ách: sức sống, năng động, hăng hái, có sức chống chịu. Thường hợp nghề cần sức chịu đựng, gan dạ, chuyên môn. Dám chịu khổ, dám hưởng thụ. Tật Ách phi Quyền nhập Phúc Đức: cường tráng, ít bệnh, hay vận động, chịu vất vả. Cá tính thô, thống khoái, túi cơm túi rượu. Phòng nhiều nhục dục, tham ăn khi có Tham Lang, Liêm Trinh.
Khoa: cử chỉ không nhanh không chậm, du nhã, ôn hòa, hơi ưu nhu; biết kiệm, dưỡng sinh, tích thân, tích phúc.
Phúc Đức phi Kỵ nhập Tật Ách: vui vẻ không mệt mỏi, lòng dạ chính trực, ưa sạch sẽ, thích chưng diện chỉnh hình (nếu có Thái Âm). Cách cục kém thì thiếu ý chí, tự hủy hoại, tính nửa này nửa nọ, tự yêu mình. Thường lo buồn về sức khỏe, cách cục kém thì nghiệp lực bệnh. Với người tu hành thì khổ hạnh tu trì, thân tâm hợp nhất. Tật Ách phi Kỵ nhập Phúc Đức: hoàn cảnh sống khẩn trương áp lực, bệnh lâu trầm kha, cả người tiều tụy, tâm tình không sáng.
Phu Thê hóa với tam phương Điền Trạch
Hôn nhân là cánh cửa dẫn đến mái nhà; người ta lập gia đình rồi mới gây dựng nhà cửa.
Phu Thê với Điền Trạch
Phu Thê phi Lộc nhập Điền Trạch: kết hôn rồi tạo tài sản, tức dùng tiền để mua nhà, xe. Hôn nhân vui vẻ, sau cưới kinh tế vững, trôi chảy. Bạn đời dễ sống chung với người nhà, ấm gia, mang tài đến. Hai vợ chồng đồng lòng hoặc tương trợ nhau tạo sản nghiệp; người khác phái giúp ta tài sản. Phòng người khác phái xen vào đời sống gia đình, thành cách hai thê, hai phu. Lúc nhỏ gia cảnh không khổ, cơm no áo ấm. Điền Trạch phi Lộc nhập Phu Thê: mua nhà khi kết hôn, tên bạn đời cũng ghi trong bất động sản. Hôn nhân vui vẻ, ít vấn đề gia đình. Gặp sao tài hợp thì đầu tư bất động sản có lợi. Sau cưới tài sản vững hơn. Người nhà hoặc hàng xóm quan tâm thúc đẩy hôn nhân.
Phu Thê phi Quyền nhập Điền Trạch: bạn đời chăm lo việc nhà, hoặc nắm quyền. Kết hôn dễ tạo tài sản, sau cưới kiếm tiền thuận, nhỏ không khổ. Điền Trạch phi Quyền nhập Phu Thê: gia đình thành tựu chi phối hôn nhân của ta. Sau cưới dễ đổi sang nhà lớn, có nhiều tài sản ổn định, gặp sao hợp thì đầu tư bất động sản được lợi.
Khoa: Phu Thê phi Khoa nhập Điền Trạch thì hôn nhân đạm bạc vui vẻ, bạn đời lo việc nhà sạch sẽ an ổn; hôn nhân có thể từ người nhà hay hàng xóm. Điền Trạch phi Khoa nhập Phu Thê thì thanh tĩnh yên ổn, coi trọng đời sống tinh thần.
Phu Thê phi Kỵ nhập Điền Trạch: mệnh chủ theo đuổi cuộc sống gia đình ổn định lâu dài; bạn đời không đẹp nhưng cần kiệm giữ nhà. Nam mệnh cưới nhiều lần, thiên về nghề phụ nữ. Ít vọng tưởng tề nhân chi phúc, tức một thê một thiếp theo lời Mạnh Tử. Đào hoa bại tài. Điền Trạch phi Kỵ nhập Phu Thê: sau cưới không hợp đại gia đình, nên ra ở riêng cho đỡ rắc rối. Bạn đời sẻ chia gia kế. Vợ chồng ít sống cạnh nhau, ở nhiều thì mệt mỏi. Phòng sinh hoạt hôn nhân cứng nhắc. Ít nên hợp tác đầu tư vì không hợp tính.
Phu Thê với Huynh Đệ
Phu Thê phi Lộc nhập Huynh Đệ: bạn đời nhiều đắn đo, dễ ở chung với anh em. Bạn đời kinh tế tốt, sau cưới kinh tế sáng sủa. Tình cảm sớm phát, khuê phòng rộn tiếng oanh ca. Chị em dâu thân cận. Một đời áo cơm phong túc. Huynh Đệ phi Lộc nhập Phu Thê: anh em đa tình với khác phái. Anh em cùng ta kiếm tiền thuận lợi vì Lộc chiếu Sự Nghiệp. Chị em dâu thân cận, ít vấn đề với mẹ chồng.
Quyền: Phu Thê phi Quyền nhập Huynh Đệ thì bạn đời năng động, giỏi quản lý tài sản, sức khỏe tốt; sau cưới tiền và sự nghiệp thuận toại; phòng chị em dâu không thuận. Huynh Đệ phi Quyền nhập Phu Thê thì anh em có hành động, dễ dựng nghiệp, ta cũng có thể hành động; phòng chị em dâu không nhường nhịn. Khoa: sau cưới có thể qua lại với tình duyên cũ, quản lý tài sản có thu chi; dễ là thanh mai trúc mã, bạn học, đồng nghiệp sinh tình rồi cưới.
Phu Thê phi Kỵ nhập Huynh Đệ: bạn đời cần kiệm giữ phận; nam mệnh nhiều vợ. Bận rộn một mình, hôn nhân ít thời gian bên nhau vì xung Phu Thê. Sau cưới tình tay chân nhạt, cũng dễ ít đi bạn bè. Di chứng hôn nhân uể oải. Huynh Đệ phi Kỵ nhập Phu Thê: sau cưới anh em rảnh nhà ai nấy ở, thường độc lập môn hộ. Phòng sức khỏe xuống dốc, hôn nhân ít lạc thú. Đầu tư ít lợi nên đi làm ổn định.
Phu Thê với Tật Ách
Phu Thê phi Lộc nhập Tật Ách: bạn đời quan tâm đến người khác phái, hoặc đối phương đa tình. Duyên khác phái tốt, lâu dài dễ sinh tình cảm; dễ có tình một đêm nếu có sao đào hoa. Bạn đời ít can thiệp hành động của ta. Sau cưới cũng dễ mập. Tật Ách phi Lộc nhập Phu Thê: dễ mập, giảm cân khó, càng ngày càng lười. Ôn nhu chu đáo, tứ chi tỏ tình. Gia vận tốt vì Lộc chiếu Sự Nghiệp.
Phu Thê phi Quyền nhập Tật Ách: bạn đời khỏe mạnh, sức sống, thích để đối phương chủ động tỏ tình, nhiệt tình; hay can thiệp hành động; cá tính thẳng thắn dứt khoát. Tật Ách phi Quyền nhập Phu Thê: có thể là vận động viên, thân thể cường tráng, vận động bền bỉ; đẹp khỏe, hoạt lực, ham động; năng lực chăn gối tốt.
Khoa: tình cảm ưu nhu, kín đáo, thêm Lộc thì lãng mạn; duyên tình chưa dứt, dẫu lìa vẫn vương tơ lòng; vóc người vừa phải, đẹp mắt, cử chỉ ưu nhã.
Phu Thê phi Kỵ nhập Tật Ách: bạn đời chuyên cần không ở yên. Hôn nhân nhạt nhẽo, hoặc bạn đời dính lấy mình, bám riết, luyến ái không rời. Tật Ách phi Kỵ nhập Phu Thê: thể chất gầy yếu, năng lực chăn gối chưa đủ, hôn nhân nhạt nhẽo.
Thiên Di hóa với tam phương Điền Trạch
Từ cánh cửa đi ra, Thiên Di mở ra thế giới; quay về, cái nhà là nơi ta đặt chân xuống.
Thiên Di với Điền Trạch
Thiên Di phi Lộc nhập Điền Trạch: bên ngoài duyên tốt, nhiều cơ hội xuất ngoại. Dịch mã dễ dàng, lìa quê mà thành quê khác; dễ phát đạt nơi xa, dễ tạo tài sản ở vùng khác, dễ áo gấm về làng. Thiện duyên phúc tốt, ngũ phúc lâm môn, ngũ phúc gồm thê, tài, tử, lộc, thọ. Mở tiệm ở khu vực tốt thì làm ăn khá, tám phương tiền tới. Về già tốt, con cháu đầy nhà. Láng giềng hòa thuận, nhà an. Tổ đức lưu danh.
Điền Trạch phi Lộc nhập Thiên Di: gia thế tốt, đại nghiệp lớn, vận phát tốt. Mặt tiền đẹp, nhà rộng có sân vườn. Gia tộc hưng vượng, quan hệ xã hội tốt. Đổi chỗ ở càng đổi càng tốt. Thường có cơ hội ở bên ngoài. Nhà ngoài trống trải hoặc có đường xe lớn chạy qua. Quan hệ láng giềng cần cẩn trọng, với họ hàng thì nhiệt tình vui vẻ. Dễ có người trong tông môn là sĩ phu, văn nhân.
Thiên Di phi Quyền nhập Điền Trạch: hoạt lực, khai sáng, được người trợ duyên. Bên ngoài phát đạt, tạo tài sản nơi khác, có thể áo gấm về làng. Mặt bằng vàng, khu náo nhiệt. Lợi sáng nghiệp, buôn bán. Tổ tiên hoặc có người làm quan. Điền Trạch phi Quyền nhập Thiên Di: gia thế tốt, nhà to nghiệp lớn; nhà sang, diện tích lớn, mặt tiền lớn. Gia đình tinh thần phấn chấn, gia vận vượng. Tông môn nhiều công chức hay địa vị cao. Ngoài cửa náo nhiệt hoặc đường xe chạy nhiều. Tông môn thành tựu cao, quan hệ chính thương tốt, còn phòng giàu mà không sang.
Khoa: Thiên Di phi Khoa nhập Điền Trạch thì nhà ở yên tĩnh, nhã nhặn, tổ tiên có người là sĩ phu, văn nhân. Điền Trạch phi Khoa nhập Thiên Di thì môn đệ thanh danh tốt, tông môn nhiều văn sĩ, gia đình thư hương.
Thiên Di phi Kỵ nhập Điền Trạch: quan hệ xã hội của gia tộc không tốt hoặc gia đạo đi xuống. Không giữ tổ nghiệp, lìa quê, thành người xa xứ. Phòng chuyện vô danh, ngoài thì thần thông trong thì quỷ. Cẩn thận môn hộ, phòng trộm cướp, thiên tai. Chớ đánh bạc, đầu cơ. Về già phòng cô đơn, con cháu ít hoặc ai đi đường nấy. Trước cửa đìu hiu. Điền Trạch phi Kỵ nhập Thiên Di: ra đời thân thế kém, hoặc phòng gia đạo giữa chừng sa sút. Dễ dọn nhà, rời nghiệp, thối tài, hao tán. Bất động sản duyên mỏng, nhất là về sau. Nhà cũ, mặt tiền kém, chỗ ở hẻo lánh. Phòng nam đinh mỏng, hoặc không tiền đồ. Danh tiếng môn đệ kém, họ hàng xa cách.
Thiên Di với Huynh Đệ
Thiên Di phi Lộc nhập Huynh Đệ: tế ngộ tốt, nhiều cơ hội kiếm tiền, giỏi xã giao, có sức hút. Tám phương tiền tới rộng, tốt nhất phát triển nghiệp vụ. Vận dụng được nguồn lực xã hội. Trời ban phúc, vô tình cắm liễu liễu xanh rờn. Sức khỏe tốt, nhiều quý nhân. Lợi thăng chức, dựng nghiệp, buôn bán, có khả năng phát phú. Huynh Đệ phi Lộc nhập Thiên Di: anh em có quan hệ xã hội tốt. Sự nghiệp của ta thuận toại, kinh tế sung túc, thực lực, uy tín và địa vị đều lộ rõ vì Thiên Di và Huynh Đệ cùng một mạch. Quay vòng thuận lợi, chữ tín tốt, tiền sinh tiền. Giỏi dùng quảng cáo, truyền thông. Hợp nghiệp vụ tiêu thụ. Sức khỏe, du lịch như ý. Anh em, nhà vợ đều vinh hiển.
Quyền: Thiên Di phi Quyền nhập Huynh Đệ thì tế ngộ tốt, dễ tạo thế, địa vị xã hội cao, dễ tạo cục diện; lợi thăng chức, dựng nghiệp, tranh cử; thành công, có thể giàu sang. Huynh Đệ phi Quyền nhập Thiên Di thì thực lực mạnh, tài lực dày, địa vị cao; kế hoạch tỉ mỉ, sách lược kinh doanh, quảng cáo thu hoạch nhiều; uy tín, chuyên môn, kỹ thuật thủ thắng. Cung Huynh Đệ là điền trạch của Tài Bạch, cũng là cục diện sinh tài của Sự Nghiệp, nên có thể dùng nó đánh giá toàn diện thực lực; cung Huynh Đệ đẹp thì địa vị xã hội cao, nước lên thuyền lên.
Khoa: Thiên Di phi Khoa nhập Huynh Đệ thì gặp hung hóa cát, tuyệt xứ phùng sinh. Huynh Đệ phi Khoa nhập Thiên Di thì quản lý sổ sách, thu chi cân bằng, có kế hoạch.
Thiên Di phi Kỵ nhập Huynh Đệ: nguồn lực xã hội hơi kém, tay trắng dựng nghiệp, độc lập phấn đấu. Không giỏi múa may, không giỏi dựa dẫm. Không hợp ý, thích cao xa. Phòng hao tổn việc ngoài, phá tài, thiên tai nhân họa. Cần lấy quản lý tài sản làm đầu, kế toán kín đáo. Phòng bệnh phổ biến mà bất ngờ tổn hại sức khỏe. Hợp đi làm ổn định. Huynh Đệ phi Kỵ nhập Thiên Di: anh em có người thật thà. Bản thân không giỏi quản lý tài sản hoặc chi nhiều, kinh tế chán chường. Không hợp trữ hàng, ép vốn; hợp môi giới mua bán, kỹ thuật, dịch vụ, cố vấn, buôn bán vốn nhỏ. Không nên xử lý vốn lớn, sản xuất quay vòng chậm.
Thiên Di với Tật Ách
Thiên Di phi Lộc nhập Tật Ách: phần nhiều thích du lịch, tính thích tiêu dao. Thích cảm giác mới, tình cảm tốt đẹp. Dễ buông thả, ít trách nhiệm và lý trí. Người tu hành thì phóng hạ, tự tại. Tật Ách phi Lộc nhập Thiên Di: tính hiền lành, dễ ở chung. Dễ mập nhưng ít bệnh lâu hành hạ. Bệnh nhẹ hay nặng đều gặp lương y. Không tích cực, ưu du tự tại, tùy hoàn cảnh nên ý chí dễ ngả nghiêng. Hoàn cảnh làm việc tốt.
Thiên Di phi Quyền nhập Tật Ách: hoàn cảnh làm việc thường khẩn trương, tốn sức, hoạt động liên tục. Hoạt lực, tinh thần phấn chấn, sức khỏe tốt, chịu đựng cao. Phòng bất ngờ bị thương, lao lực nội thương. Tật Ách phi Quyền nhập Thiên Di: thân thể cường tráng, đề kháng mạnh, ham động. Cá tính mạnh bạo, dứt khoát, can đảm, rộng lượng; sự nghiệp, công việc lớn.
Khoa: xuất ngoại gặp dữ hóa lành; thân hình văn chất; có bệnh dễ gặp lương y; cử chỉ ưu nhã nhưng phòng ưu nhu, do dự.
Thiên Di phi Kỵ nhập Tật Ách: bôn ba vội vã, nóng tính, không rảnh rỗi. Cuộc sống khẩn trương, thân bất do kỷ. Công việc nguy hiểm cao, phòng tai ách, thương tích, lây vi khuẩn. Phòng nhân sự phức tạp, tiểu nhân dây dưa. Cách cục xấu, từ song Kỵ trở lên, nghiệp lực bệnh. Tật Ách phi Kỵ nhập Thiên Di: cá tính hấp tấp, không sức chịu đựng. Phòng xử sự thiếu nguyên tắc, tự rối loạn. Hoàn cảnh làm việc kém hoặc phải đi lưu động. Gầy khó mập, mập là có bệnh. Cách cục kém dễ bị thương tàn phế, có thể phải cắt bỏ một bộ phận.
Nguồn: Lương Nhược Du, Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số 12 cung 672 tượng.
