Bài tổng quan
Tam phương Mệnh phi hóa vào tam phương Phúc Đức: chín cặp cung
Mệnh phi Lộc nhập Phúc Đức sống vui, biết đủ nhưng ít tiến thủ; Phúc Đức phi Lộc nhập Mệnh thì phúc dày, gặp nạn có chỗ chống đỡ. Giữa người đang mưu sinh và cái phúc mang theo, chín cặp cung nói điều gì về tiền, tình và nghề…
Người đang làm và người đang sống
Tam phương Mệnh gồm Mệnh, Tài Bạch, Sự Nghiệp: ba cung của người đang ra sức mưu sinh. Đối diện với nó là tam phương Phúc Đức gồm Phúc Đức, Phu Thê, Thiên Di: ba cung của cái phúc mang theo, người bên gối và dáng đứng giữa đời. Hai nhóm phi hóa cho nhau theo chín cặp, mỗi cặp hai chiều, mỗi chiều bốn hóa.
Đọc xuyên suốt sẽ thấy một nhịp lặp lại. Lộc nhập là vui vẻ, dễ dãi, tiền và duyên đến mà không cần cố. Quyền nhập là chủ động, thích thể diện, hợp những nghề chuyên môn và kỹ năng. Khoa nhập là điềm đạm, văn nhã, nghiêng về tinh thần. Kỵ nhập là cố chấp, nặng nề, dễ đi theo những con đường hẹp. Khi gặp sao chủ về tiền bất ngờ thì chuyện trúng thưởng được nhắc đi nhắc lại; khi gặp sao đào hoa thì chuyện tình cảm đậm hơn.
Một điều đáng ghi ngay từ đầu: Lộc và Quyền, hai hóa dương, thích chiếu vào hơn là tọa; còn Khoa và Kỵ, hai hóa âm, thích tọa hơn là chiếu. Vì thế Lộc và Quyền ưa nhập vào tam phương Phúc Đức, còn Khoa và Kỵ ưa ở lại tam phương Mệnh. Chiếu là cung dương trong cung dương, mở ra khai sáng, đứng lên hành động, phát huy ra ngoài; tọa là cung dương trong cung âm, nghiêng về chịu trách nhiệm và làm việc từ bên trong.
Mệnh hóa với tam phương Phúc Đức
Mệnh là người chèo, Phúc Đức là dòng nước; chèo giỏi mà nước ngược thì cũng nhọc, nước xuôi thì chèo nhẹ cũng đi.
Mệnh với Phúc Đức
Mệnh phi Lộc nhập Phúc Đức: vui vẻ, biết đủ, tùy hoàn cảnh, dễ thỏa mãn; một kiếp tiêu tiền không lo vì Lộc chiếu Tài Bạch. Nhưng lòng ít tiến thủ, ít lo nghĩ, sống không kế hoạch, lúc đầu hăng sau trễ nải. Phải phòng cá tính lệ thuộc, thói quen sẵn mà không có tiền đồ.
Phúc Đức phi Lộc nhập Mệnh: phúc báo tốt, bằng lòng với số phận, ít so đo, vui vẻ. Không cầu mà được, an nhàn có phúc, gặp nạn có chỗ chống đỡ, tai họa không tới người. Tướng sống thọ, về già tốt, ít ác tật. Hợp nghề theo sở thích, tài ba, công việc tinh thần, du lịch, nghề nhàn. Gặp sao chủ tài bất ngờ thì trúng thưởng, không cầu mà được.
Mệnh phi Quyền nhập Phúc Đức: không chịu thất bại, tham việc lớn, dám nghĩ dám làm. Thích thể diện, nói phô trương; cách cục không tốt thì thành thích cao xa mà dễ chuốc thị phi. Nên theo chuyên môn, kỹ năng. Làm ăn chất lượng cao, giá cao, ăn to làm lớn. Thích dùng hàng cao cấp, phòng xa hoa lãng phí.
Phúc Đức phi Quyền nhập Mệnh: tích cực, có phúc, ý chí mạnh, làm trọn ý nguyện. Thành thực, đấu chí cao, không khuất phục. Chuyên môn, kỹ năng có cơ hội phát triển. Phòng coi trọng vật chất quá mức.
Khoa: Mệnh phi Khoa nhập Phúc Đức thì điềm đạm, an nhàn, không thích hư hoa, tính ôn hòa, gặp việc có quý nhân. Phúc Đức phi Khoa nhập Mệnh thì tu tâm dưỡng tính, nội hàm, biết thưởng thức, thanh tĩnh, ăn uống đạm bạc.
Mệnh phi Kỵ nhập Phúc Đức: cố chấp, khăng khăng. Coi trọng hưởng thụ, chịu chi tiền vì Tài Bạch có Kỵ xuất. Cách cục tốt thì làm việc có hứng thú; cách cục xấu thì lêu lổng chơi bời không tự kiềm chế được. Hợp nghiên cứu, thiết kế, môi giới, kỹ thuật, kế toán. Không nên đầu cơ, đánh bạc, rượu sắc; tránh mê tình, vọng dục mà tự hủy tương lai. Mệnh cách kém thì dễ buồn lo vô cớ; từ song Kỵ trở lên phải phòng bệnh nặng.
Phúc Đức phi Kỵ nhập Mệnh: nghiệp lực hơi nặng, nhiều muộn phiền, hoặc tự chuốc phiền não. Mệnh cách kém thì yêu hận cuồng si, vui giận vô lối, hoặc tham sống sợ chết. Đừng mơ không làm mà có. Nếu gặp Vũ Khúc tài tinh thì thành người yêu tiền như mạng; nếu Liêm Trinh hay Tham Lang hóa Kỵ nhập Mệnh thì ý loạn tình mê, ham bài bạc và gái, từ song Kỵ trở lên là phá cách.
Mệnh với Phu Thê
Mệnh phi Lộc nhập Phu Thê: tôn trọng bạn đời, quan hệ tốt, bạn đời thông tình đạt lý. Dễ nảy tình sớm, cưới sớm chưa chắc hạnh phúc. Để bạn đời tự do nhưng phòng mình đa tình, ngoại tình. Sự nghiệp thuận lợi vì Lộc chiếu Sự Nghiệp; cả đời không lo chuyện dùng tiền.
Phu Thê phi Lộc nhập Mệnh: có phúc lấy được hôn nhân tốt, bạn đời hiền lương, duyên cưới đến sớm. Sau cưới mọi việc thuận lợi, sống động; duyên khác phái tốt, nhưng phòng hai lòng, ngoại tình. Cách cục kém thì khi nhỏ đã lăn lộn kiếm ăn; cách cục tốt thì hai vợ, vợ có tài kiếm tiền. Làm nghiệp vụ hay hợp tác với khác phái cũng tốt.
Mệnh phi Quyền nhập Phu Thê: chiếm quyền, chi phối trong tình cảm, phòng dễ khởi tranh chấp. Thế giới tình cảm lại là lý trí. Dễ có thành tựu vì Quyền chiếu Sự Nghiệp; chuyên môn, kỹ năng có thể khai sáng. Phu Thê phi Quyền nhập Mệnh: bạn đời năng lực hành động, có chủ kiến, hôn nhân cần nhiều bao dung. Khác phái thành tựu; sau cưới mới có thành tựu.
Khoa: Mệnh phi Khoa nhập Phu Thê thì bạn đời xinh đẹp, có khí chất, tình duyên lâu dài, thêm Lộc thì lãng mạn tột bậc; phòng người thứ ba xen vào. Phu Thê phi Khoa nhập Mệnh thì bạn đời có khí chất, tình đoạn mà duyên chưa dứt.
Mệnh phi Kỵ nhập Phu Thê: cố chấp, thương yêu bạn đời. Mệnh cách kém thì hôn nhân lằng nhằng nhiều khổ đau, hoặc mê tình quên trí, vứt bỏ vợ chồng. Chớ đánh bạc, đầu cơ vì phúc phận về tiền không vượng và Kỵ xung Sự Nghiệp. Hợp đi làm, cố vấn, kế toán, môi giới, kỹ thuật. Phu Thê phi Kỵ nhập Mệnh: bạn đời cố chấp, liên lạc không tốt, chuyện gì cũng can thiệp. Hôn nhân nợ nần tình cảm, hoặc bạn đời nhiều rối loạn như sức khỏe. Sau cưới nên thu liễm, không nên kích động. Nên cưới muộn khi tâm trí đã thành thục. Đào hoa tất gây phiền toái, bên ngoài gặp ai thì giấy không gói được lửa.
Mệnh với Thiên Di
Mệnh phi Lộc nhập Thiên Di: lạc quan, sáng sủa, duyên tốt bên ngoài, thân thiện, hài hước, có sức hút với đám đông. Hướng ngoại, nhiều cơ hội xuất ngoại. Quan hệ xã hội tốt, tế ngộ càng tốt hơn. Lợi cho tuyển cử, cạnh tranh, giao tế, nghiệp vụ, tiêu thụ. Ít tai ách, gặp nạn có chỗ chống đỡ. Cách cục kém thì phòng giả nhân giả nghĩa, lòe bịp, giả thật thà lấy lòng, ít phân minh phải trái.
Thiên Di phi Lộc nhập Mệnh: tế ngộ tốt, nhiều cơ hội, dễ kết duyên, giỏi dùng nguồn lực xã hội, nghĩ gì thường thành nấy. Thông minh cởi mở, thiên phú tốt, căn khí cao. Tám phương có tài, xuất ngoại phát đạt. Phúc báo tốt, quý nhân vượng, về già không tịch mịch. Phòng a dua, khen dối.
Mệnh phi Quyền nhập Thiên Di: sức sống, năng lực, quả quyết, thông minh, điềm tĩnh, ý chí. Ứng biến tốt, giỏi mưu lược, có thể khai sáng, lãnh đạo. Lợi thăng chức, dựng nghiệp. Cách cục không tốt thì thô bạo, kết oán, sắc bén. Thiên Di phi Quyền nhập Mệnh: địa vị xã hội tốt, kinh doanh đắc thế, tạo được cơ hội. Một mình phụ trách một mảng, thống lĩnh. Xuất ngoại thành tựu cao, nên hướng ra ngoài. Giỏi dùng nguồn lực nhưng dễ thành nịnh bợ.
Khoa: Mệnh phi Khoa nhập Thiên Di thì văn nhã, thanh tú, ôn hòa, phòng kiểu cách, quý nhân tốt, gặp dữ hóa lành. Thiên Di phi Khoa nhập Mệnh thì xử thế ôn văn, có tu dưỡng, phẩm vị không hư hoa, được quý nhân và thanh danh.
Mệnh phi Kỵ nhập Thiên Di (Mệnh Kỵ xuất): ngay thẳng, thật thà, hay quên, nghiêm túc, khắc khổ, hướng nội, ít tâm cơ; nói thẳng nên phải quan sát sắc mặt. Không nặng hình tượng, dễ xấu hổ, không thích sự giả dối. Phòng tiểu nhân; chỉ lo thân mình, đừng vọng tưởng kiêm thiện cả thiên hạ. Thiếu niên khó phát, chớ đánh bạc, đừng mong áo gấm về làng. Nữ mệnh an tĩnh giữ phận. Người tu hành thì nhất tâm thanh tĩnh. Cách cục xấu, từ song Kỵ trở lên, phòng chuyện ngoài ý và bệnh nghiệp.
Thiên Di phi Kỵ nhập Mệnh: không giỏi dựa dẫm, không giỏi giao tiếp. Phòng tiểu nhân, mất danh dự, thị phi; không nên huênh hoang vì dễ gặp tai họa, bị vu vạ không bằng chứng. Tế ngộ không tốt, không nên đầu cơ, đừng mơ ôm cây đợi thỏ. Hành động cẩn thận, ăn nói giữ mồm, còn phòng hoài bích có tội. Tính cô độc, ít giao du, nhân khí lạnh nhạt. Dễ tự lập nghiệp, không thích nợ ân tình. Về già phòng cô quả.
Tài Bạch hóa với tam phương Phúc Đức
Tiền là dòng nước, người giữ nước chính là tâm: tâm rộng thì nước chảy xa, tâm kẹt thì nước đọng lại.
Tài Bạch với Phúc Đức
Tài Bạch phi Lộc nhập Phúc Đức: lạc quan có tài, tiền tới dễ, không phải tất cả do mình kiếm; áo cơm đầy đủ nhưng chưa chắc giàu. Ít quản lý, ít quan niệm về tiền, tiêu tiền tùy tính. Hợp nghiệp vụ, tiêu thụ. Phúc Đức phi Lộc nhập Tài Bạch: phúc dày có tài, bốn phương có tiền, tới dễ mà không do mình kiếm. Không lo thiếu thốn. Lạc quan, ít so đo, tùy duyên, không mưu cầu. Cách cục tốt thì làm nghề mình hứng thú mà vẫn kiếm tiền vui. Hợp tài ba, tâm linh, văn hóa, hoặc việc nhàn hạ, thời thượng.
Tài Bạch phi Quyền nhập Phúc Đức: tích cực, sức sống, thích thể hiện, dám nghĩ dám làm. Dễ lấy tiền thỏa mãn dục vọng, nặng vật chất, phòng xa hoa. Nên theo chuyên môn, kỹ năng. Phúc Đức phi Quyền nhập Tài Bạch: dục vọng tiền bạc lớn, muốn kiếm nhanh, thích túi đầy tiền, dám kiếm dám tiêu. Tích cực, hăng hái, tham việc lớn, chỉ vì cái lợi trước mắt. Nên sinh tài bằng chuyên môn, kỹ thuật. Gặp sao tài bất ngờ thì dễ đầu cơ, đánh bạc.
Khoa: Tài Bạch phi Khoa nhập Phúc Đức thì bình thường không màu mè, ít ham muốn, không gặp nạn. Phúc Đức phi Khoa nhập Tài Bạch thì ít dục vọng kiếm tiền, thu chi cân bằng, số tiền nhỏ thì quay vòng dễ.
Tài Bạch phi Kỵ nhập Phúc Đức (Tài Bạch Kỵ xuất): nặng hưởng thụ, chịu chi; tốn tiền cho bản thân còn hơn. Cách cục xấu thì không giữ được tiền, kiếm nhiều tiêu nhiều. Phòng mê mệt không dứt ra được, mất ý chí; không hợp đánh bạc. Phúc Đức phi Kỵ nhập Tài Bạch: cách cục xấu thì vì tài mà mệt, vì tiền mà hao tinh thần. Có khi tính toán tỉ mỉ, yêu tài như mạng. Hứng thú nhiều thay đổi, ít chịu đựng, nhỏ mọn, cố chấp. Bạc phúc, tổn phúc, phòng tai nạn tàn phế.
Tài Bạch với Phu Thê
Tài Bạch phi Lộc nhập Phu Thê: bạn đời không so đo tiền bạc, quản lý tiền tin tưởng nhau; hợp ý nhau, kết thiện duyên rồi mới tới hôn nhân. Sau cưới dễ tạo tài sản, an gia. Phu Thê phi Lộc nhập Tài Bạch: lương duyên mỹ mãn, kính trọng nhau, sau cưới kiếm tiền tốt, nhiều người khác phái giúp đỡ hoặc cho tiền. Có thể làm môi giới bất động sản, đồ ngủ, đồ điện gia dụng.
Quyền: Tài Bạch phi Quyền nhập Phu Thê thì hai bên phối hợp quản lý tài sản càng thuận, sau cưới thu nhập cao hơn. Phu Thê phi Quyền nhập Tài Bạch thì bạn đời nắm quyền về tiền, cũng là người giúp ta kiếm tiền. Khoa: quản lý tài sản có thương lượng; hôn nhân bình hòa, đạm bạc mà có tư vị.
Tài Bạch phi Kỵ nhập Phu Thê: hôn nhân bình đạm ít tư vị, tốt nhất mỗi người một quỹ. Thu nhập không ổn định vì xung Sự Nghiệp; không hợp trữ hàng, ép vốn, không hợp đầu cơ, đánh bạc. Phu Thê phi Kỵ nhập Tài Bạch: vợ chồng hay cãi vã hoặc lạnh nhạt, hôn nhân kiểu mắc nợ nhau, sống chung không tư vị. Không nên làm chung để tránh cãi nhau vô cớ. Dễ đào hoa phá tài.
Tài Bạch với Thiên Di
Tài Bạch phi Lộc nhập Thiên Di (Tài Bạch Lộc xuất): cách cục tốt thì nguồn lực thuận lợi, nắm được lợi thế, chưa chắc giàu. Tiền mặt ra vào nhiều, quay vòng nhanh, tới dễ. Hợp buôn bán tiền mặt. Bên ngoài duyên tốt, nhân hòa, uy tín. Hợp nghiệp vụ, giao tiếp, tiêu thụ, kiếm tiền ở nước ngoài.
Thiên Di phi Lộc nhập Tài Bạch: tế ngộ tốt, dễ dựa thế, tám phương tiền tới. Nguồn lực rộng, kiếm dễ, xuất ngoại kiếm tiền, dùng nguồn lực xã hội, quảng cáo, khai sáng nguồn thu. Trời ban hoàng phúc về tiền hoặc thọ, chuyện lớn hóa nhỏ. Hợp hoa hồng, nghiệp vụ, du lịch, nghề nhàn, thời trang; cũng có thể làm việc tinh thần, tâm linh, tôn giáo. Bạn đời thu nhập tốt.
Tài Bạch phi Quyền nhập Thiên Di: cách cục tốt thì năng lực chi mạnh, tín dụng tốt. Tự tin, chuyên môn thu nhập tốt hơn. Giỏi thủ pháp kinh doanh, dễ chi khoản lớn. Cách cục kém thì trông có tiền, nhìn kỹ thì không đáng tin. Thiên Di phi Quyền nhập Tài Bạch: sức sống, năng lực mạnh, nắm thời cơ, kinh doanh đắc thế, giỏi dùng nguồn lực xã hội, dễ chức cao lương cao.
Khoa: dùng tiền có kế hoạch, tích lũy nhỏ giọt, không tiêu vô bổ, thường đi làm hưởng lương.
Tài Bạch phi Kỵ nhập Thiên Di: ngay thẳng, không giỏi luồn cúi, ít tâm cơ, năng lực kiếm tiền kém. Tế ngộ không tốt, tài không thuận, vận làm giàu không kéo dài, tốn sức mà không được cảm ơn. Đi làm an ổn, ít kinh doanh. Phòng chi tiêu liều lĩnh, dự trù khó. Thời vận chưa đủ thì sau đó túi cạn. Ngàn lần chớ đánh bạc, đầu cơ. Thiên Di phi Kỵ nhập Tài Bạch: không giỏi luồn cúi, không thích gặp gỡ, nguồn tiền nhỏ mọn. Tế ngộ không đẹp, gặp việc đuối lý. Phòng bất ngờ phá tài, bị phạt, tiểu nhân gài bẫy, cướp công cướp tài. Ngàn vạn lần chớ đánh bạc, đầu cơ.
Sự Nghiệp hóa với tam phương Phúc Đức
Nghề nghiệp hợp lòng người thì thành niềm vui; nghề nghiệp trái ý thì thành xiềng xích, và cặp cung này nói về điều ấy.
Sự Nghiệp với Phúc Đức
Sự Nghiệp phi Lộc nhập Phúc Đức: lạc quan, biết đủ, vận khí tốt, nhiều chuyện như ý. Sự nghiệp trôi chảy, dễ tìm việc hợp hứng thú. Hợp giải trí, du lịch, cà phê, nghệ thuật ẩm thực, nghề nhàn, thời thượng. Phúc Đức phi Lộc nhập Sự Nghiệp: tùy duyên, tự tại, không tích cực lắm, chưa đủ chuyên nghiệp. Phúc dày như nguyện, phúc tới tâm linh. Hợp công việc hứng thú, văn nghệ, ăn uống, nghề nhàn, hoặc việc tài hoa, tinh thần, tâm linh.
Quyền: Sự Nghiệp phi Quyền nhập Phúc Đức thì tích cực, có mưu đồ và tín niệm, thích thể diện, nhiều xã giao; nên theo chuyên môn đặc thù. Phúc Đức phi Quyền nhập Sự Nghiệp thì dễ dựng nghiệp, nhiều giao thiệp; cách cục kém thì nói hay làm dở. Khoa: hợp nghề tinh xảo, mỹ học, văn nghệ, tâm linh, văn hóa, triết học.
Sự Nghiệp phi Kỵ nhập Phúc Đức: tốt nhất theo công việc mình hứng thú, trái ý thì nhiều uể oải. Tế ngộ không tốt, phòng thua lỗ. Nghề rủi ro lớn, thu hồi chậm, ép vốn, trữ hàng đều không hợp; tốt nhất đi làm yên ổn. Phúc Đức phi Kỵ nhập Sự Nghiệp: tốt nhất lấy hứng thú làm nghiệp. Phòng nhỏ mọn, khăng khăng, thái độ xử thế kém làm thêm khổ. Mệnh cách kém thì vào nhầm nghề, dùng sai lòng, thất vọng, thất bại; trời không chiều ý người, làm nhiều mà công ít. Nên có một kỹ năng trong người. Phòng hôn nhân bằng mặt không bằng lòng vì cung tinh thần xung hôn nhân.
Sự Nghiệp với Phu Thê
Sự Nghiệp phi Lộc nhập Phu Thê: sự nghiệp trôi chảy, sau cưới thuận toại, uy tín tốt; hợp xuất nhập khẩu, giao tiếp, tiêu thụ, nghề mai mối, buôn bán đặc chủng, nhà đất, đồ điện. Phòng ngoại tình nếu có sao đào hoa. Phu Thê phi Lộc nhập Sự Nghiệp: sau cưới sự nghiệp thuận, bạn đời giúp ta, duyên khác phái tốt, bốn phương có tài.
Quyền: Sự Nghiệp phi Quyền nhập Phu Thê thì sự nghiệp có tiền đồ, uy tín cao, hợp lập nghiệp trước rồi thành gia. Phu Thê phi Quyền nhập Sự Nghiệp thì bạn đời năng lực tốt, là thành tựu của ta, sau cưới giúp dựng nghiệp. Khoa: nên trọng vẻ ngoài, văn tuyên truyền, quảng cáo; bán hàng lâu dài, nhân duyên đến từ đồng nghiệp.
Sự Nghiệp phi Kỵ nhập Phu Thê: phòng công việc thay đổi nhiều, chịu đựng chưa đủ. Không hợp nghề đầu tư thu hồi chậm; hợp cố vấn, môi giới, dịch vụ, đi làm thuê. Dựng nghiệp cần vợ chồng bền bỉ giúp nhau. Phu Thê phi Kỵ nhập Sự Nghiệp: bạn đời nặng tâm về sự nghiệp, phòng hôn nhân có khoảng cách. Vợ chồng tốt nhất tự lo việc của mình, nếu không phòng bất đồng, miệng lưỡi.
Sự Nghiệp với Thiên Di
Sự Nghiệp phi Lộc nhập Thiên Di: bên ngoài duyên tốt, được nhân hòa, cơ hội dễ nắm. Công việc hướng ngoại tốt, vận khí trôi chảy. Giỏi quảng cáo thì công lớn. Tiếng tốt, uy tín, được hoan nghênh. Hợp nghiệp vụ, giao tiếp, vận chuyển, du lịch, nghề nhàn, mua bán. Thiên Di phi Lộc nhập Sự Nghiệp: tế ngộ tốt, có chỗ dựa, đắc nhân hòa. Có phúc, cơ hội tốt, dễ có đơn hàng. Xuất ngoại dễ kiếm tiền, gặp quý nhân, chuyện lớn hóa nhỏ. Bốn phương có tài, hợp nghiệp vụ, mua bán, vận chuyển, du lịch, thời trang. Buôn bán đặc chủng.
Quyền: Sự Nghiệp phi Quyền nhập Thiên Di thì năng lực tốt, lợi chuyên môn, khai sáng, lãnh đạo, thăng chức, sáng nghiệp. Thiên Di phi Quyền nhập Sự Nghiệp thì địa vị cao, có chỗ dựa, giỏi dùng nguồn lực xã hội, nước lên thuyền lên. Khoa: gặp nhiều quý nhân, sự nghiệp để đời, phải biết kiên nhẫn chờ.
Sự Nghiệp phi Kỵ nhập Thiên Di (Sự Nghiệp Kỵ xuất): chân phương ngay thẳng, không giỏi xã giao, làm không được cảm ơn. Tế ngộ không tốt, ít buôn bán, không nên đầu cơ. Phòng đơn từ không thuận, công việc bị đình chỉ. Nên làm môi giới, cố vấn, kế toán, hoặc đi làm lương ở xí nghiệp lớn. Thiên Di phi Kỵ nhập Sự Nghiệp: không giỏi dựa dẫm, không thích gặp gỡ. Gặp việc ít lý luận, phòng tiểu nhân hãm hại bất ngờ, mất danh dự. Nhân sự rối bời, người tính không bằng trời tính; làm việc nên cẩn trọng, giữ mồm. Nguồn lực xã hội kém, đơn độc phấn đấu.
Điều đọng lại sau chín cặp cung
Khi tam phương Mệnh phi Lộc vào tam phương Phúc Đức, người ta lạc quan, khéo léo, dễ chạy theo cái lợi gần, hợp giao tiếp và tiêu thụ. Khi tam phương Mệnh phi Quyền vào tam phương Phúc Đức, người ta ham ý đồ và ứng biến, làm việc dựa vào công trạng, hợp lãnh đạo và thi hành phát triển. Nếu Lộc được Quyền ủng, Quyền được Lộc củng, thì như gấm thêu hoa: hai hóa hỗ trợ càng tăng sức mạnh.
Nguồn: Lương Nhược Du, Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số 12 cung 672 tượng.
