Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Thiên Đồng, Thiên Lương Ở Dần, Thân Và Vũ Khúc, Thất Sát Ở Mão, Dậu

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái17/09/202615 phút đọc4 lượt đọc
Thiên Đồng, Thiên Lương Ở Dần, Thân Và Vũ Khúc, Thất Sát Ở Mão, Dậu

Lãng mạn hay nguyên tắc, quyết đoán hay nông cạn: hai tinh hệ này được đọc qua những cặp tính cách dễ lẫn. Thiên Đồng, Thiên Lương ở Dần, Thân đối cung vô chính diệu, tam hợp Thiên Cơ và Thái Âm, thành cách Cơ Nguyệt Đồng Lương thuần túy. Thiên Đồng Hóa Lộc, Hóa Quyền hoặc gặp khoa văn, đào hoa thì thuộc loại lãng mạn; Thiên Lương Hóa Khoa hoặc gặp Kình Dương, Đà La, Hoa Cái, Thiên Hình thì thuộc loại nguyên tắc. Vũ Khúc, Thất Sát ở Mão, Dậu đối Thiên Phủ, tam hợp Tử Vi, Phá Quân và Liêm Trinh, Tham Lang. Người nông cạn bề ngoài vẫn giống người quyết đoán sáng suốt, nên khó nhận ra. Dấu hiệu phân biệt là người quyết đoán thường chừa đường lui, còn người nông cạn phần nhiều bạc tình, sống cô lập.


"Thiên Đồng, Thiên Lương" Ở Hai Cung Dần Hoặc Thân

"Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, đối cung vô chính diệu, cung tam hợp là Thiên Cơ độc tọa, và Thái Âm độc tọa, thành cách cục "Cơ Nguyệt Đồng Lương" thuần túy.

Muốn luận đoán bản chất của "Thiên Đồng, Thiên Lương" ở hai cung độ này, cần phải phân biệt nó mang sắc thái lãng mạn hay mang sắc thái nguyên tắc, kỉ luật. Hai trường hợp này có sự phân biệt khác nhau rõ rệt, ảnh hưởng rất lớn đến cách xử sự của một người.

Nếu Thiên Đồng Hóa Lộc, Quyền, hoặc gặp các sao khoa văn, các sao đào hoa, thì thuộc loại lãng mạn; nếu Thiên Lương Hóa Khoa, hoặc gặp các sao Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Ân Quang, Thiên Quý, Tam Thai, Bát Tọa, Đài Phụ, Phong Cáo, Hoa Cái, Thiên Hình, Âm Sát, Thiên Hư thì thuộc loại nguyên tắc.

Đương nhiên cũng có "Thiên Đồng, Thiên Lương" mang hai tính cách điều hòa thì phải xem chúng hội hợp với các sao phụ, tá, sát, hóa và các tạp diệu nào, phối hợp lại mà định.

Kết cấu cơ bản xấu nhất là Thiên Đồng Hóa Kị, có Kình Dương và Đà La giáp cung, thì mệnh tạo dùng dằng ở giữa tính lãng mạn và tính nguyên tắc, sẽ biến thành bủn xỉn, keo kiệt, tham lam, ti tiện, tự tư tự lợi, chỉ nghĩ đến bản thân!

Thiên Cơ và Thái Âm ở cung tam hợp đều không nên Hóa Kị, nếu không, ắt sẽ chủ về cơ tâm và tự cho mình là đúng, giảo hoạt trăm bề. Nhưng nếu Thiên Cơ Hóa Lộc và Thái Âm Hóa Lộc thì làm tăng tính lãng mạn của "Thiên Đồng, Thiên Lương"; Thiên Cơ Hóa Quyền hay Hóa Khoa, và Thái Âm Hóa Quyền, thì làm tăng tính nguyên tắc của chúng.

Hễ "Thiên Đồng, Thiên Lương" có tính nguyên tắc mạnh, ưa đến vận hạn có tính tích cực; nhưng không ưa gặp các sao hình, kị. Trong vận trình tích cực, khí chất hợp nhau, có thể phát huy thông minh tài trí của "Thiên Đồng, Thiên Lương". Nếu vận trình tiêu cực, thì dễ biến thành không hợp quần, hoặc đùa giỡn với quyền bính mà chuốc thị phi.

Hễ "Thiên Đồng, Thiên Lương" có tính lãng mạn mạnh, thì ưa đến cung hạn tính chất nhàn hạ; cũng không ưa gặp các sao hình, kị, còn không ưa gặp các sao đào hoa trùng trùng. Gặp các sao hình, kị nhiều thì nội tâm hoảng loạn, nóng nảy; gặp các sao đào hoa trùng trùng thì dễ thành lãng tử phong lưu, một việc cũng không thành. Rất ưa Lộc, Quyền, Khoa và sao cát đến hội, sẽ chủ về tinh thần vui vẻ, mà còn thành tựu sự nghiệp.

Cung có tính tích cực mạnh là: "Vũ Khúc, Thất Sát" gặp Quyền Lộc; Thái Dương nhập miếu; Thái Âm nhập miếu mang một hai sát tinh; "Tử Vi, Phá Quân" có cát tinh hội hợp; "Liêm Trinh, Tham Lang" mà Tham Lang Hóa Quyền.

Cung mang tính chất nhàn hạ là: Thái Âm hay Thái Dương lạc hãm, mà còn hội hợp với các sao khoa văn; Thiên Cơ Hóa Khoa; "Tử Vi, Phá Quân" có kèm các sao khoa văn; "Thiên Đồng, Thiên Lương" mà Thiên Đồng Hóa Lộc, hoặc hội hợp với các sao khoa văn; "Liêm Trinh, Tham Lang" Hóa Lộc; Cự Môn độc tọa Hóa Lộc, Hóa Quyền; Thiên Tướng thuộc "Tài ấm giáp ấn".

"Thiên Đồng, Thiên Lương" mang tính nguyên tắc, ở cung hạn Thái Dương tọa thủ, được cát hóa và có sao cát hội hợp, là đại hạn khai vận, ảnh hưởng rất quan trọng đến đời người.

"Thiên Đồng, Thiên Lương" mang tính lãng mạn, thì lấy cung Cự Môn tọa thủ để đánh giá xem có phải là then chốt của khai vận hay không.

Hai đại hạn mang tính then chốt trên nếu không cát tường, sẽ ảnh hưởng vận thế về sau. Ví dụ như vận hạn Thái Dương không cát tường, thì vận sau tuy có "Liêm Trinh, Tham Lang" cát hóa, nhưng cũng chỉ chủ về hưởng thụ bình thường; nếu ở cung hạn Thái Dương tọa thủ đã khai vận, thì "Liêm Trinh, Tham Lang" ở trong vận đã có thành tích, có thể thành người có cương vị chủ quản.

Còn nếu vận hạn Cự Môn không cát tường, thì "Liêm Trinh, Tham Lang" ở trong vận hạn, gặp cát tinh, cũng chỉ là hưởng thụ tửu sắc; gặp các sao sát, kị, hình thì thất chí. Nếu trong vận hạn Cự Môn đã khai vận, đại hạn "Liêm Trinh, Tham Lang" tuy không cát tường, cũng chỉ là thu nhập lớn cho những thù tạc vô vị mà thôi, không chủ về thất chí.

Nhưng nếu "Thiên Đồng, Thiên Lương" mang tính nguyên tắc đến vận hạn Hình Kị đều gặp, sẽ chủ về dễ dẫn đến thị phi, kiện tụng; còn "Thiên Đồng, Thiên Lương" mang tính lãng mạn, dù Hình Kị đều gặp, cũng chỉ là lo lắng nội tâm, tâm lí mất quân bình, hay phát tiết những toan tính mà thôi, không dễ xảy ra bất hòa, tranh chấp với bên ngoài.

Ở đây xin cử một ví dụ để thuyết minh bản chất của "Thiên Đồng, Thiên Lương" ở cung phúc đức.

Cự Môn độc tọa thủ mệnh ở cung Tí, cung phúc đức có "Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ. Người sinh năm Ất, Thái Âm Hóa Kị, hội chiếu với Thiên Cơ của cung thiên di và "Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ với Thiên Hình của cung phúc đức. Vì vậy, về cơ bản là "Thiên Đồng, Thiên Lương" mang tính nguyên tắc mạnh.

Đến đại hạn Kỉ Mão, "Vũ Khúc, Thất Sát" thủ mệnh, mà Vũ Khúc Hóa Lộc, vận trình sáng sủa phát đạt. Nhưng cung phúc đức của đại hạn vô chính diệu, mượn "Liêm Trinh, Tham Lang" của đối cung để an sao, có Lưu Đà và Văn Khúc Hóa Kị đồng độ.

Nếu "Thiên Đồng, Thiên Lương" ở cung phúc đức của nguyên cục không phải là Thái Âm Hóa Kị kèm có Kình Dương hội chiếu, thì cung phúc đức của đại vận chỉ là bất lợi về đầu cơ, không nên vạch kế sách, nhưng hiện thì vì vận trình nhất thời đắc ý, nên mệnh tạo đứng núi này trông núi nọ, bỏ rơi bạn hợp tác ban đầu, tính toán hướng phát triển khác cho mình, kết quả là trương mục của khách hàng thuộc loại không thể thu hồi, dẫn đến sự nghiệp chao đảo (chú ý: cung tài bạch của đại vận này gặp Văn Khúc Hóa Kị; còn cung điền trạch của đại vận này thì có Thái Âm Hóa Kị hội chiếu, mà còn gặp các sao sát, hình). Lúc này không bằng đừng thay đổi, trái lại có thể nhờ "cát" của Vũ Khúc Hóa Lộc để giữ sự nghiệp cũ rồi tính toán việc tiến thủ sau.

Có điều, Cự Môn ở cung mệnh của nguyên cục là thuộc loại đa nghi, "Thiên Đồng, Thiên Lương" của cung phúc đức mang tính nguyên tắc, tức cũng chủ quan, do đó đối với bạn hợp tác đã có sự nghi kị trùng trùng. Càng nghi thì càng giống, đó là tâm lí phổ biến, rốt cuộc đã gây nên phiền phức, luận đoán Đẩu Số cần phải chú trọng toàn cục, đây là ví dụ điển hình.

"Vũ Khúc, Thất Sát" Ở Hai Cung Mão Hoặc Dậu

"Vũ Khúc, Thất Sát" ở hai cung Mão hoặc Dậu, đối cung là Thiên Phủ, cung tam hợp là "Tử Vi, Phá Quân" và "Liêm Trinh, Tham Lang".

Muốn luận đoán tính chất của nhóm sao "Vũ Khúc, Thất Sát", cần chú ý xem chúng thuộc loại quyết đoán, hay suy nghĩ nông cạn. Thực ra "quyết đoán" và "suy nghĩ nông cạn" chỉ cách nhau một đường ranh, bởi vì "Vũ Khúc, Thất Sát" thuộc loại suy nghĩ nông cạn, bề ngoài vẫn giống như người quyết đoán sáng suốt; trong lúc nội tâm do dự, thiếu quyết đoán, vẫn có thể ra một quyết định sáng suốt và nhanh chóng, nhưng thường thường thì quyết đoán sai lầm và cần phải chắp vá. Cho nên nếu nhìn từ bề ngoài để phân biệt thì rất khó nhìn ra được.

Hễ "Vũ Khúc, Thất Sát" thuộc loại quyết đoán thì phần nhiều đều có chừa đường để lui, còn loại người suy nghĩ nông cạn thì phần nhiều là bạc tình, do đó đời người cũng khá cô lập. Điều này có thể dùng để phân biệt khi luận đoán nhóm tinh hệ này.

Muốn phán đoán tính chất của "Vũ Khúc, Thất Sát", chỉ cần xem tinh hệ này có gặp sao lộc hay không, bất kể được Hóa Lộc hay gặp Lộc Tồn đều được. Nếu có sao lộc mà còn gặp Tả Phụ, Hữu Bật hội chiếu, thì thuộc tính chất "quyết đoán"; nếu không có Tả Phụ, Hữu Bật, mà còn không gặp sao lộc, trái lại, có sát tinh hội chiếu, thì bản chất là "suy nghĩ nông cạn".

Lấy các sao ở cung hội hợp để nói, nếu hệ "Tử Vi, Phá Quân" có sát tinh đồng độ, nhất là Đà La, thì làm mạnh thêm bản chất "suy nghĩ nông cạn" của "Vũ Khúc, Thất Sát"; nếu không có sát tinh, mà có các sao phụ, tá hội hợp, thì có thể gây ảnh hưởng "Vũ Khúc, Thất Sát" thành bản chất "quyết đoán".

Một nhóm sao hội hợp khác là "Liêm Trinh, Tham Lang", cũng không nên đồng độ với Đà La. Nhất là các sao này được mượn để nhập cung phúc đức, cho nên ảnh hưởng đối với "Vũ Khúc, Thất Sát" càng thêm quan trọng.

Văn Xương, Văn Khúc cũng có thể điều hòa tính chất "suy nghĩ nông cạn" của "Vũ Khúc, Thất Sát"; chỉ ưa cùng ở một cung với Thiên Phủ là đối cung của "Vũ Khúc, Thất Sát", thì tính chất càng tốt, tốt hơn là cùng ở một cung với "Liêm Trinh, Tham Lang". Chủ yếu là vì ngại "Liêm Trinh, Tham Lang" có Văn Xương, Văn Khúc cùng bay đến một cung, sẽ mang tính chất đào hoa, gây ảnh hưởng đến lực quyết đoán của "Vũ Khúc, Thất Sát".

Cung độ Thái Dương tọa thủ, nếu nhập miếu thì có lợi cho "Vũ Khúc, Thất Sát". Có điều, người có tính suy nghĩ nông cạn thì sẽ hay oán trách, khiến quan hệ giao tế xấu đi, khiến ảnh hưởng đến hậu vận.

Nếu Thái Dương lạc hãm, thì "Vũ Khúc, Thất Sát" thuộc tính chất nào cũng đều bất lợi. "Vũ Khúc, Thất Sát" thuộc loại quyết đoán cũng dễ chuốc thị phi, bị oán trách trong vận hạn này. "Vũ Khúc, Thất Sát" thuộc loại suy nghĩ nông cạn, nếu có Kình Dương đồng độ, sẽ không dễ đứng vững ở nơi làm việc, nếu lại gặp sao kị, sát, chủ về gia nghiệp chao đảo.

Cung hạn Thiên Cơ độc tọa, nếu gặp Hóa Kị, nhất là lúc Thiên Đồng và Thái Âm biến thành Hóa Kị hội chiếu lưu niên, đối với "Vũ Khúc, Thất Sát" thuộc loại "suy nghĩ nông cạn", đây là năm mất cơ hội, phá tài. Người quyết đoán thì chỉ cần phòng thủ thì có thể tránh tổn thất.

Nếu Vũ Khúc của nguyên cục Hóa Kị, thì đại kị đến cung hạn Thiên Cơ tọa thủ, dù có cơ hội, ắt cũng phá tán, thất bại, hơn nữa còn chủ về bị cạnh tranh không lành mạnh, hai bên công kích lẫn nhau.

Đến cung hạn Thiên Phủ tọa thủ, "Vũ Khúc, Thất Sát" thuộc loại suy nghĩ nông cạn không nên đến, nếu Thiên Phủ lại là "kho lộ" hoặc "kho trống", thì thường thường là vận hạn hoặc lưu niên chủ về nạn tai, bệnh tật trọng đại, sự nghiệp phá sản. "Vũ Khúc, Thất Sát" thuộc loại quyết đoán mà đến cung hạn này cũng phải để phòng trộm cướp.

Cung hạn Thiên Phủ thông thường bất lợi cho mệnh "Vũ Khúc, Thất Sát", nếu lưu niên gặp cung này, có Lưu Lộc hoặc Lưu Hóa Lộc chiếu xạ, thì mới là điểm cát.

"Vũ Khúc, Thất Sát" ưa đến cung hạn Thái Âm tọa thủ. Nếu Thái Âm nhập miếu cát hóa thì càng ưa; nếu hội các sao hình kị thì "Vũ Khúc, Thất Sát" thuộc loại suy nghĩ nông cạn sẽ chủ về vì chắp vá điều sai lầm mà gây nên tổn thất nghiêm trọng. Đạo "xu cát tị hung" là có sai lầm thì lập tức dừng kế hoạch.

Thái Âm lạc hãm bất lợi cho "Vũ Khúc, Thất Sát" có tính quyết đoán, chủ về vì quyết định trọng đại mà việc khó lưỡng toàn, ắt sẽ có một phía bất mãn. Đối với người suy nghĩ nông cạn thì lại không có khiếm khuyết đáng tiếc này; nhưng nên "tịnh" không nên "động", "động" thì gây nên tổn thất; nhất là lúc Thái Âm Hóa Kị gặp Đà La đồng độ, tuyệt đối không nên bảo lãnh cho người khác, nếu không sẽ phải trả thay cho họ.

Cung hạn Cự Môn tọa thủ nếu là kết cấu "Thạch trung ẩn ngọc", thì "Vũ Khúc, Thất Sát" thuộc loại quyết đoán rất nên đến. Nếu Cự Môn lại được cát hóa hoặc gặp sao cát, thì đây là lưu niên hoặc đại vận thành tựu sự nghiệp lớn. Nếu Cự Môn cùng ở một cung với Văn Xương, Văn Khúc mà không có cát hóa, thì đây là vận trình có tính chuyển biến, cần phải xem xét kĩ các sao hội hợp để định xem sau khi chuyển biến cát hung sẽ như thế nào.

"Vũ Khúc, Thất Sát" thuộc loại suy nghĩ nông cạn đến cung hạn Cự Môn thuộc cách cục "Thạch trung ẩn ngọc", vận hạn cũng không cát tường, thường thường là sai lầm ở lúc sau cùng, hoặc vì quyết định sai lầm mà bị chỉ trích.

Cung hạn Thiên Tướng độc tọa, nếu là Thiên Tướng thuộc "Hình kị giáp ấn", thì "Vũ Khúc, Thất Sát" sẽ cảm thấy bị áp lực. Nếu "Vũ Khúc, Thất Sát" của nguyên cục thuộc loại quyết đoán thì khá dễ ứng phó. Nếu "Vũ Khúc, Thất Sát" của nguyên cục thuộc loại suy nghĩ nông cạn mà gặp đại hạn hoặc lưu niên này thì thường thường thất bại.

Thiên Tướng nếu là "Tài ấm giáp ấn" thì bất kể "Vũ Khúc, Thất Sát" thuộc tính chất nào cũng đều là "mọi toan tính chi phí sức". Nếu cung hạn Thiên Tướng có Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ, thì lại là cơ hội tốt để định hình sự nghiệp một đời.

Cung hạn tinh hệ "Thiên Đồng, Thiên Lương" tọa thủ, Thiên Lương không nên Hóa Khoa, gặp sao hình. Nếu cung có tính chất quá cô độc và hình khắc, "Vũ Khúc, Thất Sát" mà gặp cung hạn này, phần nhiều có tang. Nhưng nếu tinh hệ "Thiên Đồng, Thiên Lương" hội hợp với các sao đào hoa, mà Thiên Đồng Hóa Lộc, thì e rằng tuổi trẻ đắc chí mà biến thành thất chí, từ đó chìm đắm trong tửu sắc.

Ba cung hạn "Vũ Khúc, Thất Sát", "Liêm Trinh, Tham Lang", và "Tử Vi, Phá Quân" là lưu niên hoặc đại hạn có tính chuyển biến lớn đối với người có "Vũ Khúc, Thất Sát" tọa mệnh.

Nhưng hễ gặp Phá Quân Hóa Lộc, thì Tham Lang ắt cũng Hóa Kị, trong tình hình này, chỉ có lợi cho "Vũ Khúc, Thất Sát" có tính quyết đoán; còn "Vũ Khúc, Thất Sát" có tính suy nghĩ nông cạn thì bất lợi.

Đến đây xin cử một ví dụ thực tế để thuyết minh tình hình "Vũ Khúc, Thất Sát" ở cung tài bạch.

"Tử Vi, Phá Quân" an mệnh ở cung Sửu, người sinh năm Tuất, cung sự nghiệp là "Liêm Trinh, Tham Lang" đồng độ với Lộc Tồn, mà còn Tham Lang Hóa Lộc; lúc này "Vũ Khúc, Thất Sát" ở cung tài bạch được song lộc cùng chiếu, khí cơ toàn cục suông sẻ.

Đến đại vận Bính Thìn, Thái Âm tọa thủ lạc hãm, trong cung hạn có Đà La của nguyên cục, lại có phi tinh Lưu Đà đồng độ, cung tài bạch của đại hạn là Thiên Cơ độc tọa, ở nguyên cục là Hóa Kị, hơn nữa còn có lưỡng trùng Kình Dương, Đà La hội chiếu.

Trong vận hạn này, lúc đầu không vừa ý đối tác nước ngoài, xảy ra hiểu lầm rắc rối với đại lí hàng hóa, thế là muốn tìm một nhãn hiệu hàng hóa khác để làm đại lí. Sau đó đã tìm được một đại lí rất dễ dàng, nhưng phải tạo thương hiệu khác, đành xuất ra một số vốn lớn, trong vòng mấy năm, bị người ta giật nợ không ít.

Xin tham khảo đoạn "Vũ Khúc, Thất Sát" đến vận hạn Thiên Cơ, lợi về phòng thủ, thì có thể biết được sự quan trọng của ví dụ này.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái