Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Tám bước luận lá số và Mệnh theo Tử Vi đóng ở Tý, Sửu, Dần, Mão

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn01/10/202614 phút đọc2 lượt đọc
Tám bước luận lá số và Mệnh theo Tử Vi đóng ở Tý, Sửu, Dần, Mão

Cùng một ngôi sao Tử Vi, nhưng đóng ở Tý thì cung Sửu và Mão bỏ trống, đóng ở Mão thì lại gặp Tham Lang kéo người ta về phía cửa chùa hay chốn phong trần. Muốn đọc được những khác biệt ấy, trước hết phải biết bắt đầu từ bước nào…


Tám bước biến một lá số thành bản luận đoán

An xong lá số Tử Vi thì dễ, nhưng đứng trước một lá số đầy sao mà không biết bắt đầu đọc từ đâu mới là chỗ nhiều người bí. Có thể làm theo tám bước, đi từ cái lớn đến cái nhỏ, vừa đọc vừa ghi lại những câu đoán khớp với lá số.

Bước thứ nhất là mở bảng nền theo chỗ Tử Vi đóng. Tử Vi nằm ở cung nào thì tra bảng ứng với cung đó, đọc xem bảng nói gì rồi chép những câu hợp vào bản luận. Chẳng hạn lá số có Tử Vi ở Hợi thì mở bảng Tử Vi ở Hợi.

Bước thứ hai là tra từng sao trong mười hai cung. Bắt đầu từ Tử Vi: nếu Tử Vi ở Hợi cùng Thất Sát, thì xem phần Tử Vi ở Hợi có điều gì khớp thì chép; rồi lật sang Thiên Cơ, và cứ thế đi hết từng sao một. Sao nào cùng cung với sao nào, sinh ra hiện tượng gì, cũng chép vào.

Bước thứ ba là học thuộc tính chất của mỗi sao và những điều xảy ra khi nó đồng cung với các sao khác; hễ lá số có hiện tượng giống, thì ghi đúng như vậy.

Bước thứ tư là đi theo từng cung: Mệnh, Thân, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Nữ, Tài Bạch… lần lượt đối chiếu, thấy hiện tượng nào trùng thì ghi lại.

Bước thứ năm là xét tứ hóa, nghiên cứu tình hình Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ rồi ghi vào.

Làm xong năm bước ấy thì đại khái đã luận được hơn tám phần mười lá số. Nếu người hỏi muốn biết thọ mệnh, phải nghiên cứu kỹ riêng phép xét sinh tử.

Bước thứ bảy dành cho chuyện kết hôn: xem trong lá số có Hồng Loan và Thiên Diêu nằm ở tiểu hạn, hoặc đối chiếu, hoặc củng chiếu hay không. Đó đều là vận đào hoa mở ra, có người khác giới tìm đến, có hôn nhân hỉ khánh. Thiên Hỉ ở Mệnh thì đính hôn sớm; Hồng Loan ở Mệnh thì người bạn đời đẹp đẽ.

Bước thứ tám là xem Đẩu Quân năm nay đi qua cung nào. Giả sử qua Phu Thê: sao trong cung ấy tốt thì năm nay vợ chồng hòa thuận, sao không tốt thì người bạn đời có bệnh hoặc tai nạn. Giả sử qua Tật Ách: sao trong cung tốt thì năm nay sức khỏe yên ổn, sao không tốt thì có bệnh đau. Mỗi lần xét đều phải tham chiếu thêm tam phương tứ chính.

Tử Vi đóng ở Tý: số phận từng người theo cung Mệnh

Tử Vi ở Tý là thế sao mà Sửu và Mão trống, nên người có Mệnh ở hai cung đó nhờ sao chiếu hơn là nhờ sao ngồi.

Mệnh ở Tý, Tử Vi bình: người sinh năm can Đinh, Kỷ, Canh thì quý. Có Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc chiếu về thì có thành tựu đến bất ngờ. Xương Khúc đồng cung thì sinh ra trong nhà có tiền.

Mệnh ở Sửu: cung trống, không sao chính.

Mệnh ở Dần, Phá Quân đắc địa: người sinh năm Giáp, Đinh, Kỷ, Canh thì tiền tài và công danh đều đẹp. Thiên Mã đồng cung thì nam phóng đãng, nữ nhiều chuyện dâm. Dương Nhẫn, Đà La đồng cung dễ tàn tật; Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung thì vất vả bôn ba; Xương Khúc đồng cung chủ quý nhưng có họa về nước.

Mệnh ở Mão: cung trống.

Mệnh ở Thìn, Thiên Phủ miếu cùng Liêm Trinh lợi: người sinh năm Giáp, Canh, Nhâm thì tiền và quan đều đẹp. Gặp Văn Xương thì ưa lễ nhạc, hợp làm công chức hoặc nghề dạy học. Gặp Tả Phụ thì làm người đứng đầu một bộ phận. Gặp Dương Nhẫn thì thị phi nhiều. Gặp Đà La thì có họa đổ máu. Gặp Hỏa Tinh ở đất hãm không thì có họa tự hủy hoại thân mình.

Mệnh ở Tỵ, Thái Âm hãm: nên sớm rời nhà, xa quê ra nơi khác mà gây dựng. Có tứ sát đồng cung thì chân tay thương tật. Đại hạn tiểu hạn gặp thì có đào hoa.

Mệnh ở Ngọ, Tham Lang vượng: người sinh năm Đinh, Kỷ thì phúc hậu. Xương Khúc đồng cung thì ngoài đẹp trong rỗng. Dương Nhẫn đồng cung, người sinh năm Bính, Mậu thì giàu sang.

Mệnh ở Mùi, Thiên Đồng và Cự Môn đều không đắc địa: người sinh năm Giáp, Ất, Bính, Canh, Tân, Nhâm, Quý thì tiền và quan đều đẹp, nhưng cả đời nhiều miệng tiếng thị phi. Dương Nhẫn, Đà La đồng cung thì sinh hoạt không bình thường, dễ bị thương từ bên ngoài; gặp Đà La thì dễ mập. Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung, gặp hạn xấu thì chết ở nơi bên ngoài.

Mệnh ở Thân, Vũ Khúc hãm cùng Thiên Tướng đắc địa: người sinh năm Giáp, Ất, Kỷ, Canh thì phúc hậu, tiền và quan đều đẹp. Gặp Lộc Tồn, Thiên Mã thì nên đến quê người mà phát triển, mai sau áo gấm về làng. Gặp Xương Khúc thì thông minh, khéo tay nghề. Có tứ sát đồng cung thì vì tiền mà bị cướp; gặp Dương Nhẫn thì bị hình phạt tra hỏi.

Mệnh ở Dậu, Thái Dương bình cùng Thiên Lương hãm: người sinh năm Ất, Tân, Nhâm thì tiền và quan đều đẹp; người sinh năm Giáp, Canh thì bị khốn, dễ mai một, là bậc nhân tài ôm tài mà không gặp thời.

Mệnh ở Tuất, Thất Sát miếu: gặp cát tinh thì tiền và quan đều đẹp, có trí mưu. Tả Phụ, Hữu Bật, Xương Khúc củng chiếu thì nắm quyền sinh sát, nhưng phải trải nhiều gian truân. Nếu không thấy sao cát hóa giải thì chết non.

Mệnh ở Hợi, Thiên Cơ bình: gặp bảy sao cát thì chủ phú quý. Có tửu lượng. Nên sớm rời nhà đến phương xa mà gây dựng.

Tử Vi đóng ở Sửu: Phá Quân cùng cung và những kết cục trái nhau

Tử Vi cùng Phá Quân đứng ở Sửu thì Dần và Hợi trở thành chỗ trống, và cả bức tranh đổi hẳn so với khi Tử Vi ở Tý.

Mệnh ở Sửu, Tử Vi miếu cùng Phá Quân vượng: người sinh năm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Nhâm thì giàu sang có thể trông đợi. Nếu cung Dần có sao cát thì nắm quyền; nếu không có Tả Phụ, Hữu Bật và cũng không có sao cát thì hung ác: làm quan thì bất trung với vua, làm con thì bất hiếu. Gặp Dương Nhẫn, Đà La thì làm nghề buôn bán lợi.

Mệnh ở Dần: cung trống, nhưng có Tử Vi và Thiên Phủ kẹp hai bên Mệnh, là cách quý, chẳng sợ nguy hiểm, chủ thọ.

Mệnh ở Mão, Thiên Phủ đắc địa: người sinh năm Ất, Bính, Tân thì tiền và quan đều đẹp; người sinh năm Kỷ thì chủ quý; người sinh năm Giáp, Canh thì không quý, trước giàu sau nghèo, có đầu mà không có cuối. Gặp Lộc Tồn, Xương Khúc thì là kẻ giàu có. Gặp Địa Không, Địa Kiếp thì cô độc.

Mệnh ở Thìn, Thái Âm hãm: nên sớm rời nhà đến nơi khác phát triển. Tứ sát đồng cung thì chân tay thương tật; ham mê rượu và sắc thì chết non, đời sống rối loạn.

Mệnh ở Tỵ, Liêm Trinh hãm cùng Tham Lang hãm: nam phóng đãng, nữ dâm loạn. Lộc Tồn đồng cung thì có giàu sang. Xương Khúc đồng cung thì ngoài đẹp trong rỗng. Gặp Dương Nhẫn, Đà La thì kỵ vì sắc mà rước họa, cô đơn nghèo khó, hình tướng tổn hại tàn tật, rượu và sắc quá độ. Dương Nhẫn ở Dậu củng chiếu thì phạm pháp bị bắt. Nữ mệnh gặp sát tinh thì sa vào chốn phong trần.

Mệnh ở Ngọ, Cự Môn vượng: người sinh năm Tân, Quý thì thượng cách; người sinh năm Đinh, Kỷ thì kém hơn; người sinh năm Bính, Mậu thì bị khốn, cô quả, chết non. Gặp Dương Nhẫn, Đà La thì sinh hoạt không bình thường, tuy giàu sang nhưng không bền. Tam hợp sát tinh tụ lại thì có họa lửa.

Mệnh ở Mùi, Thiên Tướng đắc địa: gặp bảy sao cát thì tiền và quan đều đẹp. Gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Xương Khúc thì nắm quyền. Hỏa Tinh, Linh Tinh xung phá thì tàn tật.

Mệnh ở Thân, Thiên Đồng vượng cùng Thiên Lương hãm: người sinh năm Giáp, Ất, Đinh, Kỷ, Canh thì phúc hậu. Gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Xương Khúc thì hiển quý, không sợ hung nguy. Thiên Mã đồng cung thì phiêu bạt; Đà La đồng cung thì mập. Gặp Dương Nhẫn, Hỏa Tinh thì cô quả, chết non. Nữ mệnh nên làm vợ lẽ.

Mệnh ở Dậu, Vũ Khúc lợi cùng Thất Sát vượng: người sinh năm Ất, Tân thì phúc hậu, tiền và quan đều đẹp. Tả Phụ, Hữu Bật, Xương Khúc củng chiếu thì giàu sang, song thời trẻ chịu đủ nhọc nhằn; buôn bán thì tốt. Dương Nhẫn đồng cung thì nhiều rắc rối về tiền; Hỏa Tinh đồng cung thì vì tiền mà bị cướp.

Mệnh ở Tuất, Thái Dương không đắc địa: cô quả, vất vả bôn ba, ít hợp với người nên dễ chuốc thị phi, mắt nhiều bệnh đau.

Mệnh ở Hợi: cung trống, có Thiên Phủ và Thiên Tướng củng chiếu thì tốt lành.

Mệnh ở Tý, Thiên Cơ miếu: người sinh năm Giáp, Đinh, Kỷ, Canh, Nhâm, Quý thì tiền và quan đều đẹp. Gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Xương Khúc thì văn là thanh quý hiển đạt, võ là trung lương. Nữ mệnh rất biết quán xuyến việc nhà, tính cương, khéo léo, có quyền hành, phúc thọ đều đủ.

Tử Vi đóng ở Dần: cung Mệnh của người một đời hưởng phúc

Khi Tử Vi và Thiên Phủ cùng ngồi ở Dần, hai sao đế tinh chung một nhà, và nhiều cung còn lại cũng nhờ đó mà có lời đoán dễ chịu hơn.

Mệnh ở Dần, Tử Vi vượng cùng Thiên Phủ miếu: người sinh năm Giáp, Đinh, Kỷ, Canh thì cả đời hưởng phúc; người sinh năm Giáp thì cả đời giàu sang. Nữ mệnh gặp sao cát thì quý và đẹp, giúp chồng ích con.

Mệnh ở Mão, Thái Âm hãm: người sinh năm Ất, Mậu, Nhâm nên sớm rời nhà ra ngoài phát triển. Tứ sát đồng cung thì chân tay thương tật. Rượu và sắc quá độ thì chết non, đời sống rối loạn.

Mệnh ở Thìn, Tham Lang miếu: Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung, người sinh năm Mậu, Kỷ thì tiền và quan đều đẹp. Gặp sao cát thì thọ lâu như núi Nam. Xương Khúc đồng cung thì ngoài đẹp trong rỗng.

Mệnh ở Tỵ, Cự Môn vượng: người sinh năm Tân, Quý thì tiền và quan đều đẹp. Tuy giàu sang nhưng không bền. Dương Nhẫn, Đà La đồng cung thì sinh hoạt không bình thường. Tam hợp tụ sát tinh thì có họa lửa.

Mệnh ở Ngọ, Liêm Trinh bình cùng Thiên Tướng miếu: người sinh năm Giáp, Ất, Đinh, Quý thì tiền và quan đều đẹp; người sinh năm Bính thì bỗng phát bỗng bại. Gặp Lộc Tồn thì có giàu sang; gặp Dương Nhẫn thì thị phi nhiều; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì tàn tật.

Mệnh ở Mùi, Thiên Lương vượng: người sinh năm Mậu thì rất quý; người sinh năm Ất, Nhâm thì giàu và sang đủ cả. Gặp bảy sao cát thì thọ như núi Nam, phúc như biển Đông. Xương Khúc đồng cung thì sinh trong nhà giàu có. Gặp Văn Xương cùng Lộc Tồn thì là mệnh trạng nguyên.

Mệnh ở Thân, Thất Sát miếu: người sinh năm Giáp, Đinh, Kỷ thì tiền và quan đều đẹp. Phải trải nhiều gian khổ nhưng có mưu trí. Gặp sao cát thì có thể lên làm tướng. Cách Thất Sát triều đẩu thì cả đời ăn lộc nhà nước, vinh hoa phú quý.

Mệnh ở Dậu, Thiên Đồng bình: gặp Dương Nhẫn thì dễ bị thương từ bên ngoài; gặp Đà La thì mập; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì có nốt ruồi quý.

Mệnh ở Tuất, Vũ Khúc miếu: thời trẻ làm việc không thuận. Gặp Thiên Khôi, Thiên Việt thì hợp nghề tài chính, ngân hàng. Tứ sát đồng cung thì vì tiền mà bị cướp. Ngồi ở Tài Bạch thì có tiền.

Mệnh ở Hợi, Thái Dương hãm: trước siêng sau lười, nên sớm rời nhà ra ngoài. Vất vả bôn ba, ít hợp với người nên chuốc thị phi. Gặp sát tinh thì mang bệnh; Hóa Kỵ thì bệnh về mắt.

Mệnh ở Tý, Phá Quân miếu: người sinh năm Giáp, Đinh, Kỷ, Quý thì có phúc khí; người sinh năm Bính, Mậu thì bị khốn, nếu không có sát tinh thì làm quan cao. Người sinh năm Bính, Mậu, Dần, Thân thì cô đơn, tàn tật, chết non, giàu sang không lâu bền.

Mệnh ở Sửu, Thiên Cơ hãm: người sinh năm Bính, Đinh, Mậu, Nhâm thì tiền và quan đều đẹp; người sinh năm Ất, Tân thì có giàu sang. Gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Xương Khúc thì văn thanh quý, võ trung lương. Gặp tứ sát thì nên học nghề hoặc buôn bán. Cung đối có Thiên Lương, gặp cát tinh ngồi ở Thiên Di thì thành nhà buôn lớn, và chủ thọ.

Tử Vi đóng ở Mão: Tham Lang cùng cung và cách người hiến thân cho đạo

Tử Vi gặp Tham Lang ở Mão, thế sao vừa quyền uy vừa nhiều ham muốn, nên chuyện tôn giáo và chuyện phong trần cùng nằm trong một lời đoán.

Mệnh ở Mão, Tử Vi vượng cùng Tham Lang lợi: gặp Địa Không, Địa Kiếp và tứ sát thì nên hiến thân cho tôn giáo. Nữ mệnh thì sa vào phong trần; nam mệnh thì sinh hoạt quá độ.

Mệnh ở Dần, Thiên Cơ đắc địa cùng Thái Âm vượng: gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Xương Khúc thì làm quan thanh liêm ngay thẳng. Gặp sao cát thì cả đời vui vẻ.

Mệnh ở Sửu, Thiên Phủ miếu: người sinh năm Ất, Bính, Mậu, Tân, gặp sao cát thì tiền và quan đều đẹp. Nhật Nguyệt kẹp hai bên thì mệnh quý, giàu có. Rơi vào Địa Không, Địa Kiếp thì cô độc.

Mệnh ở Tý, Thái Dương hãm: người sinh năm Đinh, Kỷ thì tiền và quan đều đẹp; người sinh năm Nhâm, Bính, Mậu thì vận mờ tối. Vất vả bôn ba, ít hợp với người nên chuốc thị phi. Mắt có tổn thương. Nên sớm rời nhà ra ngoài phát triển.

Mệnh ở Hợi, Vũ Khúc bình cùng Phá Quân bình: thời trẻ không thuận, mệnh lao lực. Buôn bán thì tốt, nhưng khó hiển quý. Gặp sát tinh thì dựa tay nghề mà an thân, vì tiền mà bị cướp. Ngồi ở Tài Bạch thì cả đời lúc nào cũng ồn ào chuyện nghèo.

Mệnh ở Tuất, Thiên Đồng bình: người sinh năm Đinh nhờ hóa cát mà rất quý. Gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Xương Khúc thì có quý. Gặp Dương Nhẫn thì dễ bị thương từ bên ngoài; gặp Đà La thì mập.

Mệnh ở Thân: cung trống. Nếu tứ sát nằm ở Điền Trạch thì bán sạch của tổ.

Mệnh ở Dậu: cung trống, có Thiên Phủ và Thiên Tướng chầu về, cả đời đường quan lộc tốt.

Mệnh ở Mùi, Liêm Trinh lợi cùng Thất Sát miếu: gặp tứ sát thì chết vì tai nạn xe cộ; không có tứ sát thì giàu sang tiếng tăm lan xa. Tích ít thành nhiều, thành người giàu. Gặp sao cát thì hợp binh nghiệp, có hiển quý nhưng chịu đủ gian nan.

Mệnh ở Ngọ, Thiên Lương miếu: làm quan cao mà thanh liêm. Gặp bảy sao cát thì phúc thọ đều đủ. Có Thiên Đồng ở Thân hoặc Mệnh thì chẳng sợ nguy hiểm. Tả Phụ, Hữu Bật, Xương Khúc đồng cung hay củng chiếu thì trước võ sau văn, ra tướng vào tướng quốc.

Mệnh ở Tỵ, Thiên Tướng đắc địa: gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Xương Khúc thì quan cao quyền lớn. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì thân thể thương tật.

Mệnh ở Thìn, Cự Môn hãm: người sinh năm Tân, Quý thì quý; người sinh năm Đinh, Canh thì bị khốn, cả đời nhiều miệng tiếng thị phi. Gặp tứ sát thì không lành.

Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Kinh Điển.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn