Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Số cộng Lý thành định mệnh, Bát Tự là bào thai của Hà Lạc

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Số cộng Lý thành định mệnh, Bát Tự là bào thai của Hà Lạc

Con chim nào cũng có ngày tháng sinh, vậy vì sao chỉ con người mới sửa lại được phần nào số của mình? Câu trả lời nằm trong một phương trình giản dị, và trong ba cánh cửa mà mệnh học mở ra trước người xem số...


Môn học khó hiểu đang chờ một ô cửa mở rộng

Hà Lạc từ lâu vẫn được xem là môn khó, chỉ một số ít người giỏi chữ Nho và am hiểu Kinh Dịch mới đủ sức đi vào. Ngay thời Tống, lúc Nho học rực rỡ, Trần Dị Xuyên đã phải dặn rằng môn này rất chính đại, không nên đem truyền cho kẻ phàm tục. Nếu thời ấy còn có lời dặn như vậy, thì ngày nay, khi người đọc chữ Nho đã hiếm, người nghiên cứu Kinh Dịch cũng hiếm, chỉ cần ngại khó một chút là Hà Lạc sẽ dần mai một, ngay trên quê hương của những bậc thầy lý số như Trạng Trình.

Vì thế có một mong ước giản dị: đem môn học vốn được coi là huyền bí và bí truyền ấy viết bằng chữ quốc ngữ, để một người đọc không biết một nét chữ Nho, chỉ cần xem kỹ, cũng có thể tự lập và tự giải được quẻ Hà Lạc của mình. Có như vậy cây Hà Lạc mới có chỗ đứng giữa vườn, mới thấy bóng mặt trời, mới đủ sức sánh vai với Tử Vi, Chiêm Tinh, Bốc Dịch.

Mong ước thứ hai sâu hơn: nới lỏng niềm tin vào định mệnh. Ai sinh ra cũng có số, nhưng giữa thời đại nguyên tử này thật khó nghĩ rằng con người chỉ là cái lò xo thi hành mệnh lệnh của Trời như muôn kiếp trước, theo kiểu "một miếng ăn một hớp uống đều do tiền định". Chính Kinh Dịch đã xếp con người vào hàng Tam Tài, ngang với Trời và Đất, có đường lối tự quyết riêng như Trời có Thiên đạo, Đất có Địa đạo, Người có Nhân đạo. Làm sao người lại tự hạ xuống ngang hàng muôn loài, làm nô lệ cho chính hai bạn đồng hành của mình?

Số và Lý: vì sao Lý chữa được bệnh của Số

Một con chim cũng có ngày tháng sinh, nhưng chỉ con người mới biết hỏi vì sao mình sinh vào ngày ấy.

Từ xa xưa, chức năng nâng con người lên khỏi cái số đã có người nêu ra. Đến đời Tống, nhóm Nho gia Lý học mới thổi lại ngọn lửa ấy; tiêu biểu nhất là Thiệu Khang Tiết, người giương cao ngọn cờ của Tổ sư Trần Đoàn để trao cho loài người chữ Lý, như một thang thuốc chữa căn bệnh cứng đầu của Số mệnh. Nước ta cũng góp danh nhân cho ngành này, cự phách nhất là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, đến nỗi người Trung Hoa xưa phải nể và nói rằng Lý học An Nam có Trình Tuyền.

Vậy Số là gì, Lý là gì? Số do trời sinh ra, được ghi bằng năm, tháng, ngày, giờ sinh bất di bất dịch. Số là vật bất biến. Còn Lý thì chỉ có ở tư tưởng con người; tất cả những gì không do trời mà có, từ vật chất đến tinh thần, đều do Lý sáng tạo. Lý biến dịch vô cùng qua thời gian, không gian và qua cả tư tưởng từng thời đại. Cả nền văn minh nhân loại, từ buổi hồng hoang đến lúc con người thành Phật thành Tiên, đều do người làm ra.

Cho nên Lý nặng cân hơn Số. Chỉ có Số mà không có Lý thì thật vô lý: chim muông vạn vật đều có ngày tháng sinh đẻ, đâu kém gì người, nhưng chúng không có óc sáng tạo nên chỉ có Số mà không có Lý. Thiệu Ung rất coi trọng chữ Lý, nên trong Mai Hoa Dịch Số ông khuyên phải thấu Lý trước rồi mới khởi Số.

Khởi số tất tiên minh lý. Số bất suy lý, thị bất đắc giả.

Lấy số mà không suy lý thì không được. Các bậc thầy Tử Bình cũng ca ngợi cùng một ý: đo được cái Lý thì biết được chỗ tuyệt diệu của điều u vi. Ai tin Lý như tin Số thì có thể đi đến kết quả này: cải tạo được phần nào số của mình, nói cách khác là tự dựng cho mình một định mệnh mới, tuy không thỏa mãn hoàn toàn ý muốn nhưng cũng không còn lệ thuộc trọn vẹn vào ý Trời. Đó là cái thâm ý trong tinh thần của Lý Số Hà Lạc.

Một phương trình để nhớ

Để cho rõ, có thể tạm viết thế này: Số + Lý = Định mệnh. Số giống một hằng số, không đổi. Lý giống một biến số, có thể đổi. Định mệnh giống hàm số. Đặt phương trình như vậy là để nói rằng người có Lý thì phải gánh trách nhiệm của mình, đừng chuyện gì cũng đổ cho trời. Hưng suy của nhân loại, còn mất của một dân tộc, thành bại của một con người, phần lớn là do mình, chứ không phải cứ oán trời trách đất trách người khác là xong.

Ba cánh cửa vào mệnh học

Hỏi Tử Vi hay Hà Lạc cái nào đúng hơn cũng giống như hỏi bác sĩ hay kỹ sư ai tài hơn.

Thật ra tài nằm ở người dùng, không nằm ở môn học. Nhưng nên biết tác dụng riêng của từng môn để khỏi đi tìm ngoài phạm vi của nó, giống người đòi rau ăn nơi hoa lan hay đòi hương thơm nơi bắp cải. Có ba môn chính: Tử Vi Đẩu Số, Hà Lạc Lý Số và Mệnh Lý Học (hai môn sau cùng xuất thân từ Bát Tự). Chỉ cần đọc tên đã thấy khác biệt: Đẩu Số là thuận Số, Mệnh Lý là thuận Lý, còn Lý Số là dung hòa cả đôi.

Tử Vi Đẩu Số: cửa của số mệnh an bài

Nói về số, có câu ca rằng muôn sự chẳng cần người tính toán, cả đời đều do số mệnh an bài. Theo đó con người là một con số kết tụ từ ảnh hưởng của nhiều vì sao. Người không cãi được Mệnh, cứ an nhiên tuân theo mà xem cuốn phim huyền bí của đời mình, còn thầy Tử Vi như người chuyên viên phụ đề, giải thích những ký hiệu là tên sao. Có thể nói Tử Vi là môn mang tính thụ động, hợp với trạng thái siêu hình.

Hà Lạc Lý Số: cửa của lý trí và chữ Nếu

Tiến thêm một bước, Hà Lạc mở cho con người cánh cửa lý trí. Nó đặt người trước sự suy nghĩ và lựa chọn giữa các dạng thức của cuộc sống, để cư xử, tiến thoái, hành chỉ sao cho hợp với nghĩa chữ Tùy trong Dịch, tức một đạo sống mà ý thức hệ Kinh Dịch dẫn đường. Hà Lạc là môn học thiên về đạo, hàm chứa một nghệ thuật nhân tình.

Mệnh Lý: cửa của ý chí tạo tác và chữ Nên

Mệnh Lý mang dấu hiệu tích cực hơn, có ý chí tạo tác hơn cả Hà Lạc. Nó phân tích những nguyên liệu vật lý mà con người sinh ra đã có, là ngũ hành và thời tiết: thứ nào thừa, thứ nào thiếu, ưa gì ghét gì (hỷ, kỵ), thành hay hoại ra sao, để làm gì? Để tìm ra đường lối (dụng thần) điều động công dụng của những nguyên liệu ấy, tự tạo lại cách cục cho hoàn hảo hơn thiên nhiên, và phát triển hết tiềm lực bẩm sinh đến mức tối đa. Có thể nói đây là môn đi trước nhất trong ba môn, hợp với tính sáng tạo của loài người, hàm chứa một kỹ thuật nhân sinh mới.

Nói gọn lại: Tử Vi nói chữ Hẳn, Hà Lạc nói chữ Nếu, Mệnh Lý nói chữ Nên. Mỗi môn mở cho ta một cánh cửa vào khoa học huyền bí. Tổng hợp được cả ba thì có cả ba cánh cửa cùng mở, nhìn vào mệnh vận con người sẽ rõ ràng và đầy đủ hơn.

Bát Tự là bào thai của số Hà Lạc

Từ tờ giấy ghi ngày giờ sinh đến một quẻ Dịch, con số phải thay hình đổi dạng ba lần.

Muốn lấy số Hà Lạc, trước hết phải đổi năm, tháng, ngày, giờ sinh thành Bát Tự. Rồi đổi Bát Tự ra số âm, số dương của Hà Đồ Lạc Thư. Sau đó đổi số âm dương ra quẻ Dịch, và cuối cùng quẻ Dịch lại được đổi thành quẻ Hà Lạc để tìm hiểu mệnh vận. Như vậy từ Bát Tự đến Hà Lạc có ba lần chuyển hình, giống quá trình trứng ngài hóa tằm, tằm hóa nhộng, nhộng hóa bướm.

Số Hà Lạc thoát thai từ Bát Tự, nên Bát Tự là bào thai của Hà Lạc, hoặc nói ngược lại, Hà Lạc là Bát Tự đã chuyển hình. Bát Tự còn là cổng chung mà nhiều môn học phải đi qua trước khi chia ngành.

Bát Tự là tám chữ

Bốn trụ, mỗi trụ hai chữ: đó là tất cả những gì phải có trong tay trước khi đặt bút an quẻ.

Đúng nghĩa, Bát Tự là tám chữ. Ai cũng phải có bốn yếu tố mới lập được: năm sinh, tháng sinh, ngày sinh, giờ sinh. Mỗi yếu tố được biểu thị bằng một Can và một Chi, nên bốn yếu tố cho ra bốn Can và bốn Chi, tổng cộng tám chữ.

Ví dụ một người sinh năm Tân Dậu, tháng tư, ngày hai mươi mốt, giờ Thìn thì an ra: năm Tân Dậu (Tân là Can, Dậu là Chi); tháng Quý Tị; ngày Tân Mão; giờ Nhâm Thìn.

Những người làm lý số thường gọi hai thứ ấy là Thiên Can và Địa Chi, nghĩa là Can của Trời, Chi của Đất, hai thứ phối hợp với nhau mới sinh ra con người. Ai đã có căn bản, hoặc đã biết Tử Vi, thì Can Chi là chuyện dễ. Còn ai mới bước chân lần đầu vào địa hạt lý số thì dù thông minh đến đâu cũng khó theo nổi Hà Lạc, bởi đây là môn khá sâu xa mà các cụ nhà Nho xưa cũng không dám coi thường, nhất là vì nó dựa vào Dịch lý.

Mười Can và mười hai Chi

Trên trời dưới đất chỉ có mười Can và mười hai Chi, vậy mà khớp vào nhau để thời gian, không gian và nhân gian biến chuyển vô cùng.

Thập thiên Can

Giáp thuộc Dương, hướng Đông, hành Mộc, mùa Xuân. Ất thuộc Âm, cũng hướng Đông, hành Mộc, mùa Xuân. Bính thuộc Dương, hướng Nam, hành Hỏa, mùa Hạ. Đinh thuộc Âm, hướng Nam, hành Hỏa, mùa Hạ. Mậu thuộc Dương, hướng Đông Bắc (cung Cấn), hành Thổ, ứng với tháng cuối của bốn mùa. Kỷ thuộc Âm, hướng Tây Nam (cung Khôn), hành Thổ, cũng ứng với tháng cuối bốn mùa. Canh thuộc Dương, hướng Tây, hành Kim, mùa Thu. Tân thuộc Âm, hướng Tây, hành Kim, mùa Thu. Nhâm thuộc Dương, hướng Bắc, hành Thủy, mùa Đông. Quý thuộc Âm, hướng Bắc, hành Thủy, mùa Đông. Năm Can Âm và năm Can Dương đều thuộc vào Ngũ hành Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ, chia đều nhau, cứ hai Can chung một hành.

Thập nhị Địa Chi

Tý Dương Thủy; Sửu Âm Thổ; Dần Dương Mộc; Mão Âm Mộc; Thìn Dương Thổ; Tị Âm Hỏa; Ngọ Dương Hỏa; Mùi Âm Thổ; Thân Dương Kim; Dậu Âm Kim; Tuất Dương Thổ; Hợi Âm Thủy. Tổng cộng có sáu Chi Âm và sáu Chi Dương, đều thuộc vào Ngũ hành: mỗi hành kiêm hai Chi, riêng hành Thổ kiêm bốn Chi là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Có thể thắc mắc vì sao hành Thổ lại "tham" đến vậy. Thực ra rất dễ hiểu: mười hai Chi chia cho năm hành, mỗi hành hai Chi thì còn dư hai Chi, mà chia nữa thì lẻ loi, để lửng thì các hành nhòm ngó tranh giành nhau. Thổ vốn ở trung ương, có quyền hơn, nên nhận hai Chi dư là danh chính ngôn thuận. Thổ hưởng bốn Chi không phải tham nhũng gì cả.

Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc