Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Năm là gốc, tháng là cành, ngày là hoa, giờ là quả: bốn trụ đo đời người

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Năm là gốc, tháng là cành, ngày là hoa, giờ là quả: bốn trụ đo đời người

Gốc khô thì cây chết, nền yếu thì nhà đổ, nguồn cạn thì mệnh hết: người xưa ví trụ năm như vậy. Còn trụ giờ được gọi là quan tả hữu của nhật chủ, vua tôi hòa hợp thì con cái trung hiếu, xung đối nhau thì con nhiều mà bất hiếu. Vì sao bốn trụ lại được so với một cái cây...


Thời gian là con số của mọi sự vật

Mọi vật trên đời, từ lúc sinh ra, lớn lên đến lúc tàn mất, đều gắn với thời gian. Vì thế thời gian chính là con số của mọi việc, mọi vật: bất cứ sự vật nào cũng có một số nhất định. Thời gian được chia thành năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây. Tứ trụ của một người được dựng nên từ bốn mốc đầu tiên ấy, nên muốn dùng Tứ trụ để đọc thông tin của người đó thì phải hiểu mối tương quan giữa trụ năm, trụ tháng, trụ ngày và trụ giờ.

Trụ năm là gốc cây, là nền nhà, là nguồn của mệnh

Trụ năm trong Tứ trụ giống như gốc cây. Người xưa nhìn trụ năm theo hai cách khác nhau. Cách thứ nhất cho rằng năm là mệnh, là căn bản, và nhấn mạnh năm có tầm quan trọng vô cùng. Cách thứ hai cho rằng năm tốt không bằng tháng tốt, tháng tốt không bằng ngày tốt, ngày tốt không bằng giờ tốt, tức là coi năm không quan trọng mà giờ mới quan trọng.

Người viết cho rằng cách nhìn thứ hai là phiến diện. Tốt xấu của một mệnh phải có sự cân bằng giữa sinh, vượng, suy, nhược và cách sắp xếp trong Tứ trụ; năm là chiếc rường cột đứng đầu, không thể xem nhẹ.

Gốc khô thì cây chết, rễ sâu thì cành lá xum xuê; nền yếu thì nhà đổ, nền chắc thì nhà vững; nguồn cạn thì mệnh hết, nguồn dồi dào thì mệnh mạnh mẽ.

Năm là Thái Tuế, là họa phúc cả một đời của người ấy. Vì vậy trong Tứ trụ, năm là gốc, tháng là cành, ngày là hoa, giờ là quả.

Trụ năm gồm một thiên can và một địa chi. Nó vượng hay yếu, tốt hay xấu được đo bằng ba điều. Thứ nhất là lệnh tháng. Thứ hai là quan hệ sinh khắc giữa can và chi của chính năm ấy. Thứ ba là cách tháng, ngày, giờ sinh, khắc, chế, hóa đối với năm.

Can chi của năm tương sinh hoặc ngang hòa là tốt; nếu lại được tháng, ngày, giờ đến sinh thì càng tuyệt diệu. Thế gọi là dưới sinh cho trên, làm cho can chi năm bền gốc rễ và làm chủ cho sự hưng vượng cả đời. Người như thế có tổ tiên phúc đức, hưởng nhiều âm phúc, con cháu hiếu thuận, cha mẹ khỏe mạnh sống lâu, bản thân có năng lực và hiển đạt.

Ngược lại, nếu năm sinh lợi cho tháng, ngày, giờ thì nguyên khí bị rò rỉ, gốc yếu đi, tổ nghiệp sa sút, bất lợi cho cha mẹ. Nếu tháng, ngày, giờ hình xung, phá hại năm thì không chỉ tổ nghiệp sa sút, lục thân bất lợi, hoặc mất cha chết mẹ, mà bản thân người ấy cũng suốt đời khó khăn, mọi việc không thành và không thọ.

Nếu can và chi của năm khắc nhau, như Nhâm Ngọ hay Giáp Thân, thì bất lợi cho cha mẹ. Can khắc chi thì không lợi cho mẹ, chi khắc can thì không lợi cho cha. Nếu trong Tứ trụ không có gì chế ngự hoặc giải cứu sự xung khắc ấy thì lực khắc càng mạnh: cha mẹ chia lìa, hoặc trong hai người chết một.

Người có can chi năm ngang hòa cùng khí, như Mậu Thìn hay Nhâm Tý, thì phần nhiều cha mẹ bất hòa, việc nhà sóng gió, gia nghiệp khó khăn. Người có can chi năm tương sinh nhau thì cha mẹ hòa thuận, gia đình êm ấm, thịnh vượng.

Trụ tháng là thân cây, là cương lĩnh của cả lá số

Trụ tháng giống như thân cây: thân khỏe và to thì cành lá mới xum xuê. Trụ tháng gồm can và chi của tháng; chi tháng chính là lệnh tháng. Lệnh tháng là chuẩn duy nhất để đo vượng suy của can chi năm, ngày, giờ, cũng như của tài, quan, ấn, sát, thương, kiêu, thực, tỉ, kiếp. Nó có thể trợ giúp cái yếu hoặc khống chế cái mạnh; nó là cương lĩnh của tháng, nắm quyền sinh sát. Cho nên bàn về Tứ trụ, muốn lấy cách cục thì trước hết phải xem lệnh tháng, sau đó mới xem nhật nguyên.

Lệnh tháng còn dùng để lấy cách cục. Trong chi của lệnh tháng có chứa một, hai hoặc ba can. Lấy ví dụ can ngày là Giáp sinh tháng Dần: đầu tiên phải bàn đến Giáp mộc, sau đó mới xét Bính hỏa và Mậu thổ. Nếu Dần bị xung khắc, phá hại, Giáp mộc vô khí thì lấy Bính, Mậu. Hoặc nếu Dần mộc không bị tổn thương mà trong hai can Bính, Mậu có một can lộ rõ ra thiên can thành hình tượng cụ thể thì có thể lấy nó làm dụng thần. Lại nếu Dần mộc không tổn thương, cả ba Giáp, Bính, Mậu đều lộ ra, hoặc chỉ lộ hai can, thì chọn cái sinh vượng hoặc cái mạnh hơn làm dụng thần.

Tháng chủ về anh chị em; có sách cổ lại nói tháng chủ về cha mẹ. Nếu can và chi của tháng tương sinh nhau, hoặc can tháng gặp vượng địa lại được các trụ năm, ngày, giờ sinh trợ mà không bị xung khắc phá hại thì đó là tượng anh chị em hòa thuận. Nếu can tháng bị khắc, hoặc can chi tháng xung khắc nhau thì đó là tượng anh chị em không nương tựa vào nhau, hoặc bất hòa, hoặc mỗi người đi một ngả.

Tháng còn là vận nguyên, tức là vận bắt đầu từ tháng đó. Vận nguyên có thể bổ sung cho những chỗ khiếm khuyết trong Tứ trụ, hoặc sinh cho thần phúc, khắc hung thần; cũng có thể trợ giúp hung thần. Vì thế tháng gắn bó mật thiết với mệnh suốt cả đời người.

Trong cả đời, bất kể nam hay nữ, vận thuận hay vận ngược, giai đoạn từ năm mươi đến sáu mươi chín tuổi luôn có lúc vận của tháng sinh xung khắc với mười năm vận trong giai đoạn ấy, nên nói chung là lắm việc, phức tạp, nhiều biến động. Người có mệnh cục mạnh, nhật nguyên vượng thì ít việc, vô sự hoặc còn gặp điều tốt. Người có mệnh cục yếu, nhật suy thì gặp nhiều việc có hại hoặc người thân chia lìa.

Trụ ngày là hoa: nơi cát hung phúc họa của cả một đời

Trụ ngày giống như hoa của cây. Nhật trụ thịnh vượng thì hoa nhiều như gấm; nhật nguyên suy nhược thì hoa ít lại không có màu.

Lý Hư Trung đời Đường là người đầu tiên dùng thiên can địa chi sắp Tứ trụ và lấy can ngày làm chủ để đoán cát hung của đời người. Đến đời Tống, Từ Tử Bình lại phát minh ra trụ giờ, nhờ đó có đủ bốn trụ và dùng mãi đến nay. Nhật là chủ của cả đời người, là mảnh đất cát hung phúc họa của cả cuộc đời. Vì thế sinh, vượng, hưu, tù, suy, nhược của nhật chủ ảnh hưởng đến vận mệnh và tiền đồ suốt đời.

Nhật chủ sinh vượng như thân thể cường tráng: thắng được của cải, chống được sự sát hại, bảo vệ được lục thân, thông minh tháo vát, nuôi dưỡng được gia đình, gặp việc phần nhiều biến hung thành cát. Nhật chủ suy nhược, hưu tù thì như người yếu bệnh nhiều, tinh thần bạc nhược, không thể lấy thân che của; chắc chắn xấu nhiều tốt ít, việc gì cũng không thành. Tóm lại nhật nguyên trung hòa là quý; vượng quá hoặc yếu quá đều xấu nhiều hơn.

Can ngày là mình, chi ngày là vợ hoặc chồng. Can chi sinh nhau thì vợ chồng hòa thuận. Can được chi sinh thì nam lấy được vợ hiền giúp đỡ, nữ được chồng tốt giúp sức. Chi được can sinh thì nam yêu vợ, nữ giúp chồng. Can chi của ngày tương xung, tương khắc thì có nguy cơ vợ chồng xa nhau. Nam khắc nữ thì không lấy được vợ sớm, nữ khắc nam thì không lấy được chồng sớm, tức là tượng hôn nhân muộn. Can chi khắc nhau nặng thì không ly hôn cũng có người chết. Can chi ngũ hành giống hệt nhau là tượng bất hòa.

Can ngày cường vượng

Can ngày vượng khi được lệnh, đắc địa, được sinh và được trợ giúp. Can ngày được chi tháng giúp là được lệnh. Can ngày được các chi của năm, tháng, giờ đến sinh là được lộc; nếu gặp mộ kho thì là đắc địa (can dương gặp kho là có gốc, can âm thì không). Can ngày được ấn thụ đến sinh là được sinh. Can ngày gặp tỉ, kiếp là được trợ giúp.

Can ngày suy nhược

Can ngày suy nhược khi mất lệnh, không đắc địa, không được trợ giúp, không được sinh; nếu lại bị hình xung khắc phá thì càng yếu thêm. Can ngày hưu tù ở chi tháng là mất lệnh. Hưu tù ở các chi của năm, ngày, giờ là không đắc địa. Không gặp ấn thụ là không được sinh. Suy nhược mà không có tỉ, kiếp, củng lộc, kình dương là không được trợ giúp. Quan sát quá nặng là can ngày bị khắc mà không được sinh. Thực thương quá nhiều thì can ngày bị hao tổn, cũng gọi là suy nhược.

Trụ giờ là quả, là quan tả hữu của nhật chủ

Trụ giờ giống như quả. Trụ giờ mạnh thì quả nhiều chồng chất, vừa ngon vừa đẹp; trụ giờ suy nhược thì quả kém, thậm chí có hoa mà không có quả.

Trụ giờ là cung con cái. Nó không chỉ nói về vượng suy của con cái mà còn phù trợ cho chính mình, là quan tả hữu của ngày.

Ngày là hội của tam vương, là tượng đế vương; giờ là cận thần, là chỗ dựa của vua. Ngày và giờ có đủ vua tôi, là trời đất hợp đức.

Qua đó thấy tác dụng của giờ trong Tứ trụ cũng rất quan trọng. Giờ không chỉ gắn mật thiết với các trụ năm, tháng, ngày mà còn là chỗ thâu tóm của Tứ trụ hay của cách cục. Giờ nên sinh vượng, kiêng suy tuyệt. Trong cách cục, nếu trụ giờ có hỉ thần thì đã sinh vượng lại càng tốt, còn suy tuyệt thì không tốt. Nếu trụ giờ có kị thần sinh vượng thì càng xấu, còn suy tuyệt thì lại không xấu.

Giờ là quan tả hữu của ngày: ngày là vua, giờ là thần. Ngày và giờ tương sinh, tương hợp là vua tôi hòa hợp. Giờ giúp ngày ở ba chỗ: thứ nhất, sinh trợ cho ngày; thứ hai, trợ giúp hỉ thần hay dụng thần trong cách cục; thứ ba, chế ngự kị thần trong cách cục. Nếu không làm được những việc ấy thì giờ không tròn vai trò hỗ trợ.

Trụ giờ sinh vượng thì con cái thịnh vượng, thân thể khỏe mạnh, đẹp đẽ thông minh, tiền đồ rộng mở. Trụ giờ hưu tù tử tuyệt thì con cái nhiều tai nạn hoặc chết yếu. Trụ giờ sinh phù trụ ngày thì con nhiều mà trung hiếu, về già được nhờ, bình yên êm ấm. Nếu trụ giờ xung trụ ngày thì con nhiều nhưng bất hiếu, về già cô độc, tinh thần bạc bẽo.

Đo độ vượng suy của nhật chủ bằng con số

Xưa nay mệnh lý học Tứ trụ đều lấy nhật chủ làm chủ; nhật chủ còn gọi là nhật can, thân chủ, mệnh chủ, nhật nguyên thân hay nguyên thần. Mạnh yếu của nhật chủ được xác định bằng cách lấy nhật chủ trong mệnh cục kết hợp với sự sinh khắc chế hóa của các ngũ hành khác trong Tứ trụ, từ đó suy ra cát hung họa phúc cả một đời. Nói chung tổ hợp mệnh cục trung hòa là quý; nhật chủ mạnh quá hay yếu quá đều xấu, trừ khi mệnh cục thuộc cách cục đặc biệt.

Mệnh cục trung hòa thì chủ về một đời phú quý, thân thể khỏe mạnh, gia đình hòa thuận; dù hành đến vận nào, năm nào, tháng nào cũng không gặp biến đổi lớn. Mệnh cục mạnh quá hoặc yếu quá thì khó tránh phong ba gập ghềnh. Gặp đại vận hay lưu niên tốt thì đời sống hanh thông, công việc dễ thành. Nhưng khi hành đến vận xấu hay năm xấu thì khó tránh cảnh nhà dột lại gặp mưa lâu, tiêu điều khốn quẫn, vất vả trăm đường.

Vì vậy phán đoán nhật chủ mạnh yếu đến mức nào là việc rất quan trọng. Có những nhà mệnh lý học đã học hàng chục năm mà vẫn rất khó phán đoán chuẩn xác điều này, nên càng không thể dự đoán chính xác vận mệnh cho người khác. Có tính toán chính xác sự mạnh yếu của nhật chủ thì mới có cơ sở để đoán đúng phúc họa cho cả đời. Cách tính tuy hơi phức tạp, nhưng nghiên cứu tỉ mỉ thì sẽ lượng hóa được vấn đề.

Độ vượng của các ngũ hành trong Tứ trụ biến đổi do các yếu tố: chỗ dựa, vị trí đóng, sự trợ giúp, sự khắc, sự xì hơi giữa các can chi; sự hợp, khắc giữa các can khi các chi có hợp, xung, hình với nhau.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc