Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tính lý

Bài tổng quan

Giàu nhờ bạn, sang vì vợ và cách tính vận hạn

Tử Vi Nam Phái - Tính lý26/09/202615 phút đọc5 lượt đọc
Giàu nhờ bạn, sang vì vợ và cách tính vận hạn

Cổ nhân đúc thành câu giàu nhờ bạn, sang vì vợ, nhưng vì sao cùng một tuổi Canh Tuất, có lá số nhờ bạn quan trường mà thành công, có lá số cũng nhờ bạn ấy mà tán gia bại sản? Còn chuyện vận hạn mỗi năm tốt xấu ra sao, hoá ra không phải cứ đến tuổi là suy đoán được, mà phải so tận hàng Can, hàng Chi với năm sinh…


Giàu nhờ bạn, sang vì vợ

Đời người từ lúc biết ăn nói đi đứng là đã có bạn. Có bạn ăn chung miếng bánh, có kẻ chụp giựt đồ chơi để chơi một mình, có bạn thấy mình sức yếu không làm lại ai thì thương hại dìu dắt đi kiếm tìm lối chơi khác. Rồi khi khôn lớn lên, biết bao đường vẽ tình thế đối đáp với xã hội bên ngoài gia đình, lớn nhỏ ai cũng không khác lúc thiếu nhi, việc gì cũng do bạn, vì bạn và có bạn hết thảy.

Vậy bạn không phải là vấn đề giản dị, nó phức tạp, không phải chỉ những ai ngang hàng với mình, thường ngày cặp kè đụng chạm với mới là bạn. Còn nhiều hạng người như nâng đỡ mình trong sự nghiệp kinh doanh, có người chịu để cho mình điều khiển, cũng có người chỉ chờ cơ hội chèn ép mình để đưa thân thế lên bổng. Nói chung đều là bạn cả, tức là Quan Nô Di trong số.

Quan Nô Di đều là ngoại nhân, mỗi người có một tư thế riêng đối với Mệnh viên.

Với Nô có nhiều chi tiết tế nhị, không thể đối đãi là kiếp hạng lệ thuộc xấu xa như thường nói: nô bộc.

Cam phận vì một lẽ gì, sinh kế hay kém tài, đành đem thân cho người sai khiến. Ngoài ra có thể là người chịu sự điều khiển của mình như cấp bậc điều hành phải tuân theo quyết định cấp bậc chỉ huy, có khi là đồng hàng chỉ kém thâm niên hành sự. Có khi là người có tài chỉ vì mạt vận, bó thân khuất phục trong một giai đoạn dung thân, rồi ra gặp hội rồng mây rồi ra cũng tung hoành như ai trong nghiệp Đế, Bá không phải tầm thường mà bị đối xử không xứng đáng như một người vô tài kém đức dưới con mắt để người thường nói, vậy nô cũng là bạn, có biết bao chủ nhân ông lập nên nghiệp lớn, nhờ ở Nô có hạng.

Di là thế xung khắc. Cuộc đời không có Di thì tẻ lạnh, không có gì khích lệ, lòng hăng hái sẽ lần lần hạ thấp và chí phấn đấu sẽ chẳng còn. Di là bạn nghịch đem lại quả cảm cho Mệnh quyết tâm tranh giành lấy chánh nghĩa, nếu có thể được thì sự nghiệp mới mong thành công và bền vững. Di là thế ngang hàng đĩnh đạc đối diện với Mệnh.

Còn Quan là bạn sống còn mật thiết với Mệnh (tam hợp) hay nhờ dở chịu. Người bạn này là quân sư của Mệnh, luôn luôn đồng lao cộng tác, lúc nào cũng muốn đem kết quả tốt cho Mệnh, bênh vực chỉ huy Mệnh như hình với bóng. Nếu chẳng may yếu kém Mệnh phải chịu mọi sự thua thiệt.

Trong 3 thứ bạn này, Bạn Quan đã thành tục ngữ "giàu nhờ bạn, sang vì vợ". Có lẽ vì thế Quan và Thê cùng một đòn cân thẳng tắp, cùng đứng trong một thế lưỡng nghi của chính tinh.

Năm cung Mệnh, Thê, Quan, Di và Nô chỉ có Nô là thế mặc cảm bị coi như tự ti ghẻ lạnh nên không cùng trong bè phái, tức là ở thế khác như: Mệnh ở Thân cung có Tử Phủ, Quan phải là Liêm Tướng ở Tí, Di có Thất Sát ở Dần, Thê có Phá Quân ở Ngọ nghĩa là cùng trong thế Tử Phủ Vũ Tướng Sát Phá Liêm Tham. Còn Nô có Thiên Lương ở trong Sửu tức là lạc lõng ở phía Cơ Nguyệt Đồng Lương Cự Nhật.

Như đã biết bộ Sát Phá Tham và Cự Môn là bộ rất khó có cảm tình và hung hãn, không bao giờ nên ở trong 3 cung Phụ, Bào và Thê là 3 cung có người thân của Mệnh, không chứng nọ cũng tật kia, đem lại những việc chẳng lành, dầu đắc địa hay hãm địa cũng vậy. Trái lại Nô cung lại cần có Sát Phá Tham đắc địa mới được việc, miễn là Mệnh được bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương, nhất là Cự Nhật đắc địa hướng dẫn mới cầm đầu nổi Nô không làm xằng phản bội. Bộ Sát Phá Tham có mặc cảm ở Nô khinh thế ngạo vật, thà làm tôi thần cho bậc minh quân, còn chúa hèn yếu thì không chịu khuất phục.

Người bạn Di của Mệnh thường xuyên trong cảnh tay mặt tay trái kiếm cách lấn (xung khắc, cả cung và sao). Chừng nào lấn không nổi mới đành chịu. Nếu họ giành được địa thế chánh nghĩa (Thái Tuế) Mệnh cầm chắc lâu mau thua thiệt, không vật chất cũng tinh thần tai tiếng ngàn năm hổ danh thẹn phận.

Còn Thê muốn được chung lưng một dạ đến khi bạc đầu, nếu là bên dương của lưỡng nghi thì phải là Tử Vi Tí Ngọ, Thiên Phủ Tỵ Hợi hay Tử Phủ đồng cung. Bên phía âm thì phải là Thiên Lương ở Ngọ, Thiên Đồng ở Mão hay Đồng Lương. Thiên Cơ ở Tỵ hay Cơ Lương đồng cung, Thái Âm đắc địa hay Đồng Âm ở Tí, Cơ Âm ở Thân là tất cả vị trí ngôi vị của người vợ hiền hậu. Nếu dính đến một sao của Sát Phá Tham và Cự Môn là có chuyện chẳng lành, nhẹ cũng giây tơ hồng phải nhuộm bùn (Hồng Loan + Hóa Kỵ) trước khi bước lên xe hoa để trở thành dâu thảo vợ hiền.

Dưới đây là 2 lá số cùng tuổi Canh Tuất, một sanh ngày 18 tháng 3 giờ Tí, một sanh ngày 5 tháng 9 giờ Thìn — cùng phân tách 3 cung Quan, Nô, Di và Mệnh với Phối.

Lá số thứ nhất — Canh Tuất, giờ Tí
MệnhVũ Khúc, Hóa Quyền
QuanTử Phủ, Lộc Mã
NôThái Âm, Hóa Kỵ, Kình Dương
DiTham Lang, Thái Tuế
ThêThất Sát

Người trên Kim Mệnh được Vũ Khúc, Kim tinh đắc địa đơn thủ ở Thìn, vị trí của người thường xuyên căm hờn vì một duyên cớ bên ngoài, coi như đắc ý với tam hóa liên châu ở Mệnh, bản giấy ban khen đặc hạng thưởng công cho người trung thành đắc lực đối với chủ. Cung Quan có Tử Phủ, Hữu Bật, Lộc Mã Khốc Khách được quan thầy hết lòng nâng đỡ, cả một dàn cảnh hùng vĩ huy hoàng. Xuống đến Nô cung tuy là Thái Âm đắc cách, nhưng Hóa Kỵ, Kình Dương có phải là một lũ có mắt như mù quáng, trung thành tuyệt đối với Mệnh (sinh xuất cho Mệnh). Ngó đến Di, lòng người không thể không thấy đâu là chính nghĩa (Thái Tuế) mà phải nghiêng mình trước những ai vô danh tận tuỵ vì nghĩa vụ, tuy việc không thành mà danh lưu muôn thuở.

Số này có đủ cả 2 sức mạnh: Vũ Khúc (Kim) khắc Tham Lang (Mộc), đối diện và vị trí Thân Tí Thìn (Thủy) khắc Dần Ngọ Tuất (Hỏa). Tham Lang được chính nghĩa (Thái Tuế) nhưng ở thế yếu, vừa bị khắc cả cung (Tuất) vừa phải đối phó với kẻ nghịch trên tay mình. Trái lại Vũ Khúc vừa được cung Thổ phò Kim lại được ở thế mạnh, Vũ Khúc (Kim) khắc Tham Lang (Mộc) làm gì mà không thành công. Nhưng Thê có Thất Sát chạy không khỏi sức mẻ (Tuần Tài Thọ đều cùng nằm ở đó).

Ngày nay dư âm Thái Tuế càng dội ngược, hẳn người Tuế Phá lòng càng bất an trong giấc cô miên.

Lá số thứ hai — Canh Tuất, giờ Thìn
MệnhLiêm Tướng
ThêTham Lang, Quốc Ấn
QuanVũ Khúc, Hóa Quyền, Thái Tuế
Tài (Thân)Tử Phủ
DiPhá Quân, Tả Phù

Người dưới đứng trên thế chánh nghĩa rành rành của ngôi vị (Quan có Thái Tuế, Vũ Khúc). Tam hóa liên châu ở đây khác hẳn tam hóa của trường hợp trên (một đàng ở Thìn là ngày, một đàng ở Tuất là đêm) chỉ là hư vị với tất cả quyền hành (Khoa Quyền Lộc) làm việc trong bóng tối. Ấy thế mà bị Thê cung đè nén (Thân Tí Thìn khắc Dần Ngọ Tuất) bằng Tướng Ấn nắm chặt ở tay cũng là hư mà không thật (Tuế Phá Thiên Hư). Tham Lang cư Thê ở Thìn không thể không có chuyện ngang trái. Đây là mầm rối loạn của gia đình, chờ đến lúc vận bị Thiên Không ở Hợi là đổ vỡ. Di có Phá Quân Tướng Ấn Tả Phù Lộc Mã làm gì không lợi dụng cái đà dậu đổ bìm leo quật luôn Mệnh dễ dàng như trở bàn tay (Tí khắc Ngọ). Nô tuy tuyệt đối trung thành với Thân nhưng không đủ tư cách (Thái Dương ở Hợi) chỉ là những phụ tá về kinh tài cho Thân ở Tài (Nô có Hóa Lộc) sinh xuất cho Tài ở Dần mà thôi.

Hai bản số trên đều nhờ người bạn Quan làm nên sự nghiệp và cùng bị khốn đốn vì bạn trăm năm. Vậy đâu là sang vì vợ?

Xin thưa chỉ có trường hợp Thê được những sao Tử Phủ, Đồng Lương, nhất là Quan cung không bị Thê cung khắc chế. Như vậy mới được giàu nhờ bạn, sang vì vợ.

Bạn bè và vợ chồng đã vậy, còn cùng một tuổi mà mỗi năm vận hạn lại lên xuống khác nhau — vậy phải tính vận hạn tốt xấu bằng cách nào cho đúng?

Vận hạn nên tính thế nào

Trông vào bản lập thành của lá số, thấy cung thiên bàn rộng rãi ghi năm tháng ngày giờ, mệnh, cục của nó. Ngoài giáp biên 12 cung địa bàn một vòng địa chi viết mỗi cung một chữ theo đường lối nam thuận nữ nghịch đủ một vòng. Đó là tên năm tiểu hạn. Mỗi khi xem hạn của năm nào thì lấy cung có ghi tên chữ đó làm đích, như người tuổi Bính Thân gặp năm Tỵ, thì lấy chữ Tỵ nằm sát cạnh cung Mùi. Cung Mùi đó là tiểu hạn năm Tỵ của tuổi Bính Thân.

Quyết định được một Đại Vận 10 năm tốt xấu là một việc rất khó, mà xuống đến tiểu hạn 1 năm tưởng sự lầm lẫn còn gấp bội. Một chữ Tỵ thì 12 năm lại bắt vòng tới, thành ra trong đời người cứ kể là 60 năm, có 5 năm Tỵ. Có lý nào Tỵ nào cũng giống nhau sao! Đành rằng 5 năm Tỵ đó còn tùy thuộc ở 5 Đại Vận tốt xấu mà thay đổi thêm bởi sự hên xui. Như trên đã nói, nhận xét được một Đại Vận tốt không phải là dễ, thì cái lầm lẫn này đưa vào tạm đem ra phân tách để tìm ra chân lý.

Mười hai cung trong lá số, mỗi cung mang một tên rành rẽ, có 1 giây liên hệ cho cung mệnh. Khi nhìn vào số thấy ngay cái quan trọng khắng khít giữa Mệnh, Quan và Tài, thường thường thấy vẽ hình tam giác bắt liên lạc với nhau, trong sách số kêu là tam hợp, có nghĩa là Mệnh Quan Tài tuy 3 là 1. Tam hợp là thế đứng chân vạc của Mệnh, tốt hay xấu, thắng hay bại, một khi tranh đua với đời.

Thế tam hợp Thái Tuế Quan Phù Bạch Hổ, là thế chánh của tuổi, và người tuổi gì Thái Tuế ngồi ngay ở cung mang tên đó, mặc dầu Mệnh bị lạc ở cung khác. Một khi cơ hội vận chuyển đến Thái Tuế Quan Phù Bạch Hổ kể như đất sống của mình, quê quán điền sản của một bộ quý tinh chủ về may mắn hưng vượng và quyền uy. Hành của tam hợp tuổi là hành chính xác căn bản tranh đấu của Mệnh. Người tuổi Bính Thân thì tam hợp Tí Thìn là thủy hành. Mỗi thời gian đại vận chuyển đến cung nào thì lấy hành của tam hợp cung đó khắc chế với hành của tam hợp tuổi. Nếu đồng hành với mình là tốt nhất (ở trong đó có Long, Phượng, Hổ, Cái). Nếu sinh nhập là tai hại (có Thiên Không), vì lẽ Thái Tuế là quá tốt, không thể có gì vượt qua Thái Tuế nên phải gắn ngay Thiên Không để ngăn chặn.

Thế tam hợp thứ nhì là hành của tam hợp tuổi bị sinh xuất, như Thân Tí Thìn đi gặp Hợi Mão Mùi, là Thủy sinh Mộc. Sự nghiệp của đương số chỉ là bữa ăn thịnh soạn mời khách đến hưởng. Khắc xuất là trường hợp Thân Tí Thìn (Thủy) gặp Dần Ngọ Tuất (Hỏa), mình phải gắng công tranh đấu, nếu Mã ở đó thuận lợi, sẽ được hài lòng. Bị khắc nhập là vận mạng tàn tạ khó ganh đua.

Mỗi đại vận là một Thiên Thời. Đắc thiên thời thì đời lên hương. Mất thiên thời thì đời sẽ thấy khó khăn để rồi xuống dốc.

Còn 2 yếu tố phụ là Nhân Hòa và Địa Lợi. Nhân Hòa là tinh đẩu của hạn, có cùng trong hệ phái của Mệnh là cùng 1 bộ trong thế lưỡng nghi chính tinh, và hết sức loại tránh lục sát tinh, nhất là Không, Kiếp. Địa Lợi là hành của cung và hành của Mệnh có tương đắc hay không.

Được cả 3 điều kiện là quá tốt. Thường thường chỉ cần được 1 Thiên Thời cũng mãn nguyện.

Tiểu hạn là hạn hành một năm. Một chữ hàng Chi không đủ. Như tuổi Bính Thân. Bính thuộc hàng Can hành Hỏa là gốc. Thân thuộc hàng Chi hành Kim là ngọn. Đi đến năm Tỵ, phải biết rõ Can của Tỵ, như Ất Tỵ hay Đinh Tỵ, Tân Tỵ hay Quí Tỵ, thì mới căn cứ được rành rẽ. Một chữ Tỵ là bỏ gốc chỉ xét có ngọn làm sao thấu đáo.

Trước khi tính đến sao nằm ở cung tiểu hạn, việc chính yếu là phải so sánh hàng Can của Mệnh với Can của năm hạn. Được sinh nhập là tốt nhất, thứ đến là khắc xuất, trái lại bị sinh xuất ôi thôi cảnh suy bại không chứng nọ cũng tật kia, như tiền nhân đã nói:

Hữu phước tán tài, vô phước tán mạng.

Hàng Can bị sinh xuất hay khắc nhập mà cung tiểu hạn có Quyền Lộc cũng không đáng mừng, có khi là nguyên cớ để gây suy sụp. Trường hợp hàng Can giống nhau, như hàng Giáp gặp Giáp, Ất; Đinh gặp Bính Đinh, tức là thế bình thì dễ xui hơn là hên, phần sao sẽ làm lệch đòn cân thăng bằng. Nhưng còn phải để ý đến những năm xung, năm tuổi, năm phá, năm hạn, nghe một cái tên cũng biết là ngang trái cho đời sống.

Năm tuổi là năm vận hành luôn luôn đứng ở vị trí Phá Hư ở địa bàn, tức là bất mãn. Năm xung là năm đối kháng. Năm phá là năm đồng loại tiêu hao nhau (tứ sinh 2 cặp, tứ chính 2 cặp, tứ mộ 2 cặp: Tí Dậu phá nhau, Sửu Thìn phá nhau, Dần Hợi phá nhau, Mão Ngọ phá nhau, Tỵ Thân phá nhau, Mùi Tuất phá nhau). Năm hạn là năm kỵ.

Điều cốt yếu phải để ý là đại vận là phần chính, bao trùm cả tiểu hạn. Dầu tiểu hạn tốt xấu chỉ phụ giúp hay giảm bớt 10% sự việc may rủi đại vận chủ trương quyết định.

Xuống đến nguyệt hạn, thấy nhiều lối tính làm ra vẻ mỗi năm đều khác, như tiểu hạn ở năm Mùi thì lấy ngay cung Mùi làm tháng giêng, hoặc lấy cung Mùi làm đích tính nguyệt nghịch thời thuận đến cung nào lấy cung đó làm tháng giêng.

Xem ra chỉ là một lối làm theo ý riêng của từng người. Tháng Giêng đã gọi là tháng Dần, không thể để Mùi hay Tỵ, Tuất gì được. Ngay khi bắt đầu lập thành số cũng phải lấy cung Dần, đến đi là Dần. Nói trùng ảnh hưởng của sao thì hàng Can mỗi tháng giêng mỗi năm mỗi khác nhau đủ sự chế hóa phải thay đổi luôn luôn như: năm Đinh Tỵ tháng giêng là Nhâm Dần; năm sau Mậu Ngọ tháng giêng lại là Giáp Dần, năm sau nữa Kỷ Mùi tháng giêng biến là Bính Dần, ảnh hưởng đương nhiên là biến dịch.

Sau 10 tuổi đời nào những ai có đến 2 vận Thái Tuế.

Càn Khôn nhất hí trường, thân sinh thị bi kịch.

Đã biết sự khắc chế ở hàng Can là gốc hên xui, nhưng tới mức độ nào, phải so sánh nạp âm của tuổi và nạp âm của thời hạn, như tuổi Nhâm Tí gặp năm hạn Mậu Ngọ thì thấy: Can Mậu khắc Can Nhâm, 2 chi Tí và Ngọ xung (Thiên khắc Địa xung). Nạp âm Nhâm Tí (mộc), sinh xuất cho nạp âm Mậu Ngọ (Hỏa), cho kết quả thấy 95% nguy hại. Nếu người tuổi Nhâm Ngọ thì Can cũng bị khắc, Chi bình hòa, chỉ là tuổi nạp âm vẫn Mộc sinh Hỏa, nhưng còn bị bồi thêm hạn gặp Cô Quả (Thổ) kể như 2 lần khắc Can, tất nhiên kết quả phải là tỷ lệ 90% khốc liệt.

Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư - Thiên Lương

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tính lý