Bài tổng quan
Mỗi thiên can được ba mươi sáu độ, nhưng chỉ khi có chỗ dựa
Một thiên can đứng một mình trên lá số có thể đầy đủ ba mươi sáu độ, cũng có thể chỉ còn chín độ nếu không tìm thấy chỗ dựa. Chỗ dựa ấy nằm ở những can ẩn trong địa chi, và sẽ đổi khác khi các chi hợp, hội hay xung nhau...
Mục lục · 9 phần
- 01Mỗi can được 36 độ, nhưng chỉ khi có chỗ dựa
- 02Chỗ dựa của thiên can nằm trong nhân nguyên của địa chi
- 03Khi địa chi hợp hóa, chỗ dựa phải tính lại
- 04Hợp mà không hóa thì chỉ còn bản khí
- 05Xung làm tan tạp khí
- 06Ngũ hợp của thiên can: điều kiện thành hóa
- 07Chồng hóa theo vợ, vợ hóa theo chồng
- 08Ba loại thành hóa, mỗi loại sáu mươi độ
- 09Hợp mà không hóa thì bị coi là khắc
Mỗi can được 36 độ, nhưng chỉ khi có chỗ dựa
Trời có 360 độ, tức một vòng tròn. Mười thiên can chia thành âm dương ngũ hành rải khắp không gian, nên lấy 360 độ chia cho mười can thì mỗi can được 36 độ. Nhưng trong Tứ trụ, các can chi chịu ảnh hưởng lẫn nhau qua xung, hợp, khắc, hoặc do hư phù mà độ vượng suy tăng hay giảm. Vì vậy muốn tính chính xác độ mạnh yếu của một thiên can thì phải dựa vào bốn căn cứ sau.
- Chỗ dựa. Thiên can có chỗ dựa thì tính đủ 36 độ. Không có chỗ dựa thì coi là hư phù, giảm ba phần tư, chỉ còn 9 độ.
- Ngũ hợp. Hai can hợp nhau thì mỗi can bị hao một phần sáu, còn 30 độ. Nếu hợp mà thành hóa thì tính theo ngũ hành mới mà nó hóa thành.
- Bị khắc. Khắc gần thì hao một phần ba, tức mất 12 độ, còn 24 độ. Khắc cách một ngôi thì hao một phần sáu, còn 30 độ. Khắc xa thì không hao. Bị khắc kẹp từ hai bên thì hao hai phần ba, mất 24 độ, còn 12 độ.
- Địa chi cùng trụ. Địa chi đứng dưới thiên can cũng làm tăng hoặc giảm độ vượng của nó.
Chỗ dựa của thiên can nằm trong nhân nguyên của địa chi
Điều kiện đầu tiên cần tra là chỗ dựa của thiên can. Cách làm: trước hết ghi ra các nhân nguyên tàng trong địa chi của cả bốn trụ. Nếu bốn địa chi không bị hợp hóa hoặc lục xung, mà trong nhân nguyên có ngũ hành cùng loại với thiên can ấy hoặc sinh trợ cho nó thì thiên can ấy có chỗ dựa. Nếu không có thì coi là hư phù.
Ví dụ: Kỷ Mão, Đinh Mão, Nhâm Dần, Đinh Mùi
Chi Mão tàng Ất mộc; Dần tàng Giáp mộc, Bính hỏa, Mậu thổ; Mùi tàng Kỷ thổ, Đinh hỏa, Ất mộc. Xét can Kỷ thổ: trong địa chi có Bính, Đinh hỏa sinh cho, lại có Kỷ thổ và Mậu thổ trợ giúp, nên Kỷ có chỗ dựa. Xét Đinh hỏa: có Giáp, Ất mộc sinh cho, có Bính, Đinh hỏa trợ giúp nên Đinh có chỗ dựa. Xét Nhâm thủy: trong nhân nguyên không có kim sinh cho cũng không có thủy trợ giúp, nên Nhâm là hư phù.
Ví dụ: Nhâm Ngọ, Giáp Thìn, Mậu Tuất, Tân Dậu
Ngọ tàng Đinh hỏa và Kỷ thổ; Thìn tàng Mậu thổ, Ất mộc, Quý thủy; Tuất tàng Mậu thổ, Tân kim, Đinh hỏa; Dậu tàng Tân kim. Nhâm thủy được Tân kim sinh, có Quý thủy trợ, nên có chỗ dựa. Giáp mộc được Quý thủy sinh nên có chỗ dựa. Mậu thổ được Mậu, Kỷ thổ trợ giúp và Đinh hỏa sinh nên có chỗ dựa. Tân kim được Mậu, Kỷ thổ sinh và Tân kim trợ nên cũng có chỗ dựa.
Khi địa chi hợp hóa, chỗ dựa phải tính lại
Khi địa chi gặp hợp hóa thì phải tra xem chúng hợp hóa thành thần gì, các nhân nguyên tàng trong những địa chi còn lại có bị hợp hoặc xung hay không, và ngũ hành ấy có cùng loại hoặc sinh phù cho ngũ hành của thiên can khác hay không.
Ví dụ: tam hội hóa mộc
Năm Tân Mão, tháng Canh Dần, ngày Giáp Thìn, giờ Ất Hợi (Hợi tàng Nhâm thủy, Giáp mộc). Dần, Mão, Thìn họp thành tam hội, có Giáp, Ất mộc dẫn ra nên hóa thành mộc; ngoài mộc ra, các bản khí và tạp khí khác đều tan mất. Tân và Canh thuộc kim, mà trong địa chi và nhân nguyên không thấy thổ hay kim, nên Tân và Canh là hư phù. Giáp và Ất thuộc mộc, địa chi tam hội hóa mộc, trong Hợi còn tàng Nhâm thủy và Giáp mộc, nên Giáp, Ất có chỗ dựa.
Ví dụ: tam hợp hóa hỏa
Năm Bính Dần, tháng Quý Tị (Tị tàng Bính hỏa, Canh kim, Mậu thổ), ngày Giáp Ngọ, giờ Giáp Tuất. Dần, Ngọ, Tuất tam hợp hóa hỏa, có Bính hỏa dẫn ra. Bính thuộc hỏa, có Dần Ngọ Tuất tam hợp hóa hỏa, trong Tị còn Bính hỏa, nên Bính có chỗ dựa. Quý thuộc thủy, trong Tị có kim sinh thủy nên Quý có chỗ dựa. Giáp thuộc mộc, các địa chi không có thủy hay mộc sinh trợ nên Giáp là hư phù.
Ví dụ: lục hợp hóa hỏa
Năm Giáp Ngọ (Ngọ tàng Đinh hỏa, Kỷ thổ), tháng Đinh Mão, ngày Bính Tuất, giờ Mậu Tuất. Mão và Tuất lục hợp thành cục hỏa, có Bính, Đinh hỏa dẫn ra. Giáp thuộc mộc, trong địa chi và nhân nguyên không có thủy hay mộc nên Giáp là hư phù. Bính, Đinh thuộc hỏa, địa chi và nhân nguyên có lục hợp hóa hỏa nên có chỗ dựa. Mậu thuộc thổ, trong địa chi và nhân nguyên có hỏa và thổ nên Mậu có chỗ dựa.
Hợp mà không hóa thì chỉ còn bản khí
Khi giữa các địa chi hợp mà không thành hóa thì các chi ấy giữ nguyên bản khí, còn tạp khí mất đi; cách này gọi là khử bì.
Ví dụ: tam hợp không hóa
Năm Ất Mão (Ất mộc), tháng Mậu Dần (Giáp mộc, Bính hỏa, Mậu thổ), ngày Nhâm Ngọ (Đinh hỏa, Kỷ thổ), giờ Canh Tuất (Mậu thổ). Dần, Ngọ, Tuất tam hợp nhưng không hóa, vì trong thiên can không có hỏa dẫn ra; hợp mà không hóa thì giữ bản khí. Ất thuộc mộc, trong nhân nguyên có Giáp, Ất mộc nên có chỗ dựa. Mậu thuộc thổ, trong nhân nguyên có Mậu thổ nên có chỗ dựa. Nhâm thuộc thủy, nhân nguyên không có kim sinh thủy nên Nhâm là hư phù. Canh thuộc kim, trong nhân nguyên có Mậu thổ sinh kim nên có chỗ dựa.
Ví dụ: tam hội không hóa
Năm Canh Dần, tháng Kỷ Mão, ngày Bính Thìn, giờ Canh Dần. Dần, Mão, Thìn tam hội nhưng không hóa vì thiên can không có mộc; hội mà không hóa thì giữ bản khí. Canh thuộc kim, trong nhân nguyên có Mậu thổ sinh kim nên có chỗ dựa. Kỷ thuộc thổ, trong nhân nguyên có Mậu thổ nên có chỗ dựa. Bính thuộc hỏa, trong nhân nguyên có Giáp mộc sinh hỏa nên có chỗ dựa.
Ví dụ: lục hợp không hóa
Năm Tân Mão (Ất mộc), tháng Mậu Tuất (Mậu thổ), ngày Quý Mão (Ất mộc), giờ Kỷ Mùi (Kỷ thổ). Mão và Tuất lục hợp nhưng không hóa nên giữ bản khí. Tân thuộc kim, có Mậu, Kỷ thổ trong nhân nguyên sinh cho nên có chỗ dựa. Mậu, Kỷ thuộc thổ, có Mậu, Kỷ thổ sinh trợ nên có chỗ dựa. Quý thuộc thủy, bản khí của địa chi không có kim hay thủy nên Quý là hư phù.
Xung làm tan tạp khí
Khi hai chi xung nhau thì tạp khí tan mất, chỉ còn bản khí. Lấy ví dụ năm Giáp Tý (Quý thủy), tháng Canh Ngọ (Đinh hỏa), ngày Đinh Mão, giờ Tân Hợi. Tý và Ngọ đối xung nên tạp khí tan mất. Hợi và Mão bán tam hợp hóa mộc, có Giáp mộc dẫn ra. Giáp thuộc mộc, có Hợi Mão bán tam hợp hóa mộc nên có chỗ dựa. Canh, Tân thuộc kim, trong nhân nguyên địa chi không có thổ hay kim nên Canh, Tân là hư phù. Đinh thuộc hỏa, có Hợi Mão bán tam hợp hóa mộc sinh hỏa, lại có bản khí của chính can Đinh hỏa, nên Đinh có chỗ dựa.
Ngũ hợp của thiên can: điều kiện thành hóa
Điều kiện để hai thiên can ngũ hợp là chúng phải kề nhau, không có can khác chen vào giữa. Hợp xong có thành hóa hay không thì căn cứ vào các điều kiện sau.
- Ngũ hành của hóa thần phải cùng loại với ngũ hành của lệnh tháng (tức chi tháng), hoặc cùng loại với ngũ hành của một nhân nguyên tàng trong chi tháng. Nếu không đáp ứng điều kiện này thì dù cặp thiên can ngũ hợp có kèm ngũ hành của các địa chi khác cũng chỉ là hợp mà không hóa.
- Ngũ hành của địa chi (chi nơi hai can ngũ hợp đóng) nếu cùng loại với hóa thần của ngũ hợp thì chỉ cần hóa thần ấy nắm lệnh là ngũ hợp được coi như thành hóa.
- Ngũ hành của địa chi (chi nơi hai can ngũ hợp đóng) nếu sinh phù cho hóa thần của ngũ hợp thì cũng chỉ cần hóa thần nắm lệnh là ngũ hợp có thành hóa.
- Khi các địa chi (chi nơi hai thiên can ngũ hợp đóng) hợp hóa với nhau, nếu hóa thần của hợp hóa ấy cùng loại với hóa thần của ngũ hợp thiên can thì cũng chỉ cần hóa thần nắm lệnh là được coi như thành hóa.
Lấy ví dụ: hai can Mậu và Quý ngũ hợp hóa hỏa, đóng trên hai chi Ngọ và Dần; cùng với Tuất, ba chi Ngọ, Dần, Tuất tam hợp hóa hỏa. Như vậy hóa thần đều là hỏa, cùng loại ngũ hành, nên ngũ hợp của Mậu và Quý được coi là thành hóa.
Chồng hóa theo vợ, vợ hóa theo chồng
Khi ngũ hành của can âm cùng loại với ngũ hành đang nắm lệnh, và các địa chi cùng trụ với thiên can có ngũ hành cùng loại với can âm hoặc sinh phù cho nó, thì gọi là phu tòng thê hóa, nghĩa là chồng hóa theo vợ. Ví dụ tháng Ất Mão, ngày Canh Tý: Ất là mộc âm, Mão cũng là mộc nên tương trợ nhau; Tý là thủy, sinh được mộc; Mão lại nắm lệnh của Ất mộc. Vì Tý thủy sinh phù cho Ất mộc nên Ất và Canh ở đây được coi là hợp hóa thành mộc, tức phu tòng thê hóa.
Khi ngũ hành của can dương cùng loại với ngũ hành đang nắm lệnh, và địa chi cùng trụ có ngũ hành cùng loại hoặc sinh phù cho can dương, thì gọi là thê tòng phu hóa, nghĩa là vợ hóa theo chồng. Ví dụ tháng Tân Tị, ngày Bính Ngọ: Bính là hỏa dương, Tị và Ngọ cũng thuộc hỏa nên tương trợ nhau, hơn nữa Tị hỏa nắm lệnh. Như vậy Bính và Tân được gọi là thê tòng phu hóa hỏa.
Ba loại thành hóa, mỗi loại sáu mươi độ
Khi ngũ hợp thành hóa, hai can mỗi can 36 độ cộng lại thành 72 độ, giảm đi một phần sáu thì còn 60 độ. Sự thành hóa theo âm hay dương được xác định bởi âm dương của bản khí chi tháng. Có ba loại:
| Cặp can | Chính hóa | Thê tòng phu hóa | Phu tòng thê hóa |
|---|---|---|---|
| Giáp – Kỷ | thổ 60 độ | mộc 60 độ | thổ 60 độ |
| Ất – Canh | kim 60 độ | kim 60 độ | mộc 60 độ |
| Bính – Tân | thủy 60 độ | hỏa 60 độ | kim 60 độ |
| Đinh – Nhâm | mộc 60 độ | thủy 60 độ | hỏa 60 độ |
| Mậu – Quý | hỏa 60 độ | thổ 60 độ | thủy 60 độ |
Mệnh nam có ngũ hợp phu tòng thê hóa thì vợ quyền cao, nam nể vợ. Ngũ hợp chính hóa thì tính tình cương trực, không theo đuôi vợ. Thê tòng phu hóa là người có chính kiến, được vợ giúp đỡ.
Khi điều kiện dẫn hóa đầy đủ thì cả bốn trụ năm, tháng, ngày, giờ có thể cùng lúc hợp hóa, gọi là thiên can hợp uyên ương. Ví dụ năm Đinh Hợi, tháng Nhâm Dần, ngày Quý Mão, giờ Mậu Ngọ: Quý và Nhâm được Hợi thủy sinh phù, Dần mộc nắm lệnh cũng được sinh phù nên thành hóa.
Hợp mà không hóa thì bị coi là khắc
Thiên can hợp mà không hóa được xem như khắc gần: can bị khắc hao một phần ba, chỉ còn 24 độ, còn can khắc thì không hao. Ví dụ Giáp Kỷ hợp mà không hóa, vì Giáp mộc khắc Kỷ thổ nên Giáp không bị hao, còn Kỷ chỉ còn 24 độ.
Hai can ngũ hợp mà có một can hư phù thì vẫn được xem là hợp, không tính là hư phù. Nếu cả hai can đều hư phù thì không xem là hợp mà xem là hư phù, mỗi can còn 9 độ, và can hư phù thì không khắc được ai.
Nếu hai can kề nhau thành ngũ hợp, trong đó một can lại có can bên cạnh đến hợp, tức là hai can tranh hợp một can, thì gọi là thiên can tranh hợp. Tranh hợp thì không thành hóa; cả ba can mỗi can hao một phần ba, mất 12 độ, chỉ còn 24 độ. Ví dụ hai can Đinh cùng tranh hợp một can Nhâm: mỗi Đinh còn 24 độ, Nhâm cũng còn 24 độ.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
