Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tính lý

Bài tổng quan

Xung theo không gian, thời gian và gốc rễ ngũ hành cục

Tử Vi Nam Phái - Tính lý26/09/202614 phút đọc2 lượt đọc
Xung theo không gian, thời gian và gốc rễ ngũ hành cục

Cùng gặp xung trong lá số, người tứ sinh chỉ thấy chuyện phản bội bẽ bàng, người tứ mộ đã phải nằm giường bệnh — 12 cung giống nhau mà sức chịu đòn khác hẳn nhau. Rồi lần theo gốc gác sáu chữ Kê Mã Chư Long Ngưu Hổ trên địa bàn, hóa ra ngay cả Thủy tôn quý bậc nhất trong Hà Đồ cũng phải lột xác đổi ngôi để nhường vai trưởng…


Thái độ của xung phải tùy theo không gian và thời gian

Ý nghĩa của xung là đối diện để đụng chạm. Trong Tử Vi ngoài cái thế tam hợp cục diện liên minh trợ đỡ nhau để trường tồn, còn thế xung khắc, đối diện để ganh đua kìm hãm ngăn trở đối phương thi thố khả năng.

Với 12 cung thành 6 căn: Tý xung Ngọ, Sửu xung Mùi, Dần Mão xung Thân Dậu, Thìn Tỵ xung Tuất Hợi. Nhưng chỉ là có 4 tư thế khắc chế rõ ràng là Tý Hợi (thủy) xung hãm Ngọ Tỵ (hỏa), Thân Dậu (kim) đàn áp Dần Mão (mộc). Còn 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi đồng hành Thổ được coi như là xung không có gì, chỉ có hai thế âm dương đối diện nhau (từ Dần đến Thân thuộc Thái Dương, từ Thân đến Dần thuộc Thái Âm).

Biết rằng 12 cung đó có chia thành 3 thế đứng cũng là tư cách nòng cốt của mỗi vị trí: Dần Thân Tỵ Hợi, tứ sinh, phục vụ bồi đắp tiếp tế cho Tý Ngọ Mão Dậu tứ chính, để rồi một ngày nào đó sẽ tàn rụi nơi tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi. Đây là phần thuộc về không gian.

Còn thời gian, kể từ Giáp Tý đến Quý Hợi, mỗi chữ hàng Chi đều có 5 lần như Tý có Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý và Nhâm Tý tức là cuộc đời người sống đến 60 tuổi phải có 5 lần thế xung.

Vậy có phải tuổi nào cũng thế, khi đến thời gian gặp xung cũng phải hứng chịu những sự sui như nhau không?

- Xin thưa, phải phân tích từng cội rễ mới thấy sự diễn biến dị biệt can hệ.

Tư cách của 4 tuổi tứ sinh Dần Thân Tỵ Hợi thực hiện trong tam hợp cục luôn luôn đóng vai hậu cần tiếp tế cho tứ chính Tý Ngọ Mão Dậu. Công lao bồi đắp không phải là nhỏ nên lòng tự hào nhiều ít tự cao, tính tình hay phô trương những gì mình đã đắc cách. Gặp xung thấy mọi sự bị phản bội tình đời bạc nghĩa. Người tứ chính đóng vai trò chính trong ngũ hành tính tình khẳng khái bất khuất, mọi sự việc tự vạch lấy hiên ngang thẳng tiến, gặp xung thấy luân phiên bị chống đối, ngăn chặn bước đi phải mất công trình bày giàn xếp. Còn người tứ mộ ví như cảnh đời xế bóng về chiều sức khỏe có phần yếu kém, gặp xung phần chắc nằm giường bệnh ốm đau.

Ba thế đứng như thế trong 60 năm cuộc đời gặp 5 lần xung tất nhiên mức độ hung hãn có khi nhiều khi ít. Đó là phần thời gian giải quyết. Mỗi tuổi có Can và Chi phối hiệp. Xung do Chi làm việc. Còn can nguồn gốc chính rồi nạp âm phân tách thêm sẽ thấy mức độ nào của thế xung.

Can của tuổi và Can của xung đều y nhau tuổi Giáp Tý gặp xung Giáp Ngọ cho thấy Can và nạp âm của đôi bên đều y nhau. Nhưng chi Tý của tuổi khắc xuất chi Ngọ không đáng kể. Trái lại, nếu là tuổi Giáp Ngọ thì Chi Ngọ bị Tý xung khắc nhập phải có việc buồn phiền thua thiệt phần nào. Trường hợp Nhâm Tý gặp xung Mậu Ngọ. Trước hết thấy Mậu khắc Nhâm là quan hệ, dầu rằng chi Tý khắc chi Ngọ, bồi thêm Nhâm Tý là Mộc, Mậu Ngọ là Hỏa. Mộc sinh Hỏa phải coi là nặng. Đây là thiên khắc địa xung, trường hợp được coi là gần đất xa trời. Nếu xung là Bính Ngọ, tất cả 3 thế của xung đều kém cả:

  • Tý khắc Ngọ.
  • Nhâm khắc Bính.
  • Bính Ngọ (thủy) sinh Nhâm Tý (mộc).

Trường hợp xung này kể như không còn gì. Có chăng chỉ những việc gì xa xăm đưa lại không trở ngại đến bổn mạng.

Cuộc thể nhân sinh cứ 12 năm 1 năm xung, phải xét chi tiết Can và nạp âm cho kỹ rồi phối hiệp với đại vận trong 10 năm đang ở trong hoàn cảnh nào, Thái Tuế hay Thiên Không. Trong vận hành tam hợp Thái Tuế dầu gì đi nữa vẫn có đường may phò trợ. Vào hạn Thiên Không nên chấp nhận sự thua thiệt trước là hơn.

Tuy 5 lần xung nhưng chỉ có 2 lần xung phải thận trọng cho tất cả mọi tuổi là năm 43 – 67. Năm 43 bị hàng Can sinh xuất, 67 bị Can khắc nhập vừa là giai đoạn tiếp vận với Thiên Thương hay Thiên Sứ.

Mừng cho ai đang rong ruổi trên bước đường đại vận ở Di mà là Thái Tuế gặp xung Thiên khắc là xung nguy hiểm nhất của cuộc đời (67 tuổi). Người này dễ dàng như chỉ còn vài bước thành cổ lai hi. Hạn này Giáp Thương Sứ liên quan đến Tài Thọ từng bước, từng ngày. Kết cuộc cho thấy nhiều khi người lương thiện sao vội non bồng nước nhược. Có chăng là trúng lúc mà kẻ gian manh còn phải tiếp tục để lộ nguyên hình mới được nhập thổ.

Trên địa bàn Tử Vi năm xung luôn đứng trong tam hợp Thái Tuế tức tay trên đóng vai trò tạo hóa gò ép số. Năm tuổi tức đương số thường xuyên đóng vị trí tam hợp Tuế Phá kém thế. Cả hai trường hợp xung và tuổi, nếu thành quả thấy bệnh hoạn ốm đau, đó là trường hợp giảm khinh cho biết Tài Thọ đã can thiệp quan trọng tránh cho dương nhân vấp những gì là bội nghĩa hay chống chọi, khiến cho cuộc sống bị khủng hoảng tinh thần phải băn khoăn lo nghĩ.

Xung đã là chuyện của không gian lẫn thời gian cùng ra tay một lúc. Còn ngay trên địa bàn, thứ tự Thủy Hỏa Mộc Kim Thổ vốn tưởng cố định cũng phải đổi ngôi đổi vị mới yên chỗ — và đó lại là gốc gác của sáu chữ dùng để khởi tính cục cho cả một đời người.

Sao lại chỉ sử dụng có "Kê Mã Chư Long Ngưu Hổ"

Sáu chữ Kê (Dậu) Mã (Ngọ) Chư (Hợi) Long (Thìn) Ngưu (Sửu) Hổ (Dần) là sáu cung trong địa bàn Tử Vi được dùng làm nơi xuất phát cho việc tính ra chính tinh nào thủ mạng của số. Trong địa bàn có những 12 cung, sao lại chỉ dùng có 6 cung như trên đã nói? Hẳn là phải có một nguyên cớ quan hệ nào trong căn bản của sự diễn biến toán số hợp pháp.

Theo phương vị Hà Đồ ấn dịch: Bắc (Thủy) Nam (hỏa) Đông (mộc) Tây (kim) và Trung (Thổ), với ý nghĩa trời đất sinh ra Thủy trước nhất rồi vì có nước nên bao nhiêu nhiệt chất (hỏa) chứa đựng trong đất mới phát sanh ra. Đã có Thủy Hỏa lần hồi Mộc mới phát sanh. Sau đó những chất chứa ngưng đọng cứng rắn dồn hút tụ hợp lại nảy nở nên đất (thổ) được nêu là nơi tập trung.

Lấy thứ tự Thủy đứng đầu (1) hỏa (2) mộc (3) kim (4) thổ (5).

Luật âm dương phân định: lẻ (cơ) là dương, chẵn (ngẫu) là âm cho thấy Thủy Mộc và Thổ thuộc Dương, còn Hỏa và Kim thuộc âm rất trúng với 3 cục diện: mộc tam cục, kim tứ cục và thổ ngũ cục. Còn Thủy và Hỏa thấy thay đổi hẳn ngôi vị, nhất là thủy đáng lý phải là nhất cục thuộc dương lại biến thành thủy nhị cục thuộc âm. Còn hỏa chỉ thay đổi nhị ra lục vẫn trong âm phái.

Nhận thấy địa bàn Tử Vi với 12 cung âm dương xen kẽ không bao giờ có hai dương và hai âm sát vách nhau. Nhưng phân điểm âm dương cho thấy từ Dần đến Thân thuộc Thái Dương, từ Thân đến Dần thuộc Thái Âm, 2 địa điểm Dần và Thân là nơi phân định. Bên Dương chỉ còn Thìn và Ngọ, bên âm thấy trội hơn 1 gồm có Dậu, Hợi và Sửu.

Xuất phát mộc tam cục ở Thìn và thổ cục ở Ngọ (dương) cho đến Kim tứ cục và hỏa lục cục (hỏa dầu là nhị hay lục cục cũng vậy vẫn ở bên âm) rất trúng luật âm dương cơ ngẫu (lẻ và chẵn). Thủy đáng cảnh địa bàn Tử Vi (đứng đầu số) lại đổi thành âm (nhị cục) vì hoàn cảnh địa bàn vị trí. Thủy lột xác lôi kéo thêm Hỏa dương làm Trưởng nữ (số 2) hóa thành em út (số 6) mà vẫn phải giữ vị trí gánh vai trò trưởng bên âm phái.

Đã nói ngũ hành thì đương nhiên 1, 3, 5 thuộc dương còn 2, 4 là âm. Nhưng địa bàn phân định chỉ chia cho bên dương có 2 ngôi vị là Thìn và Ngọ, bên Âm những 3 là Dậu, Hợi và Sửu. Không thể nào bên Âm hay Thân bồi đắp cho Dương và cũng không thể bớt 1 cung nào bên Âm vì 3 cung đứng cân đối trúng mức. Vậy phải để thủy đứng trưởng trong ngũ hành đổi thứ cục thuộc âm tức là không mất vai trò đoàn trưởng trong ngũ hành, đổi từ bậc Hỏa số 2 xuống thành số 6 vẫn thuộc âm. Theo ngũ hành phân tách số 6 có sự thành lập do 2 số là 1 và 5 với ý nghĩa 1 (số sinh) hợp với số 5 và số 6 (số thành) bày tỏ rõ tuy là út (lục cục) mà gánh vác thực tế địa vị sau thủy vẫn trên mộc và kim.

Nhìn vào bản đồ bát quái thấy hai quái: Khảm (thủy) và Ly (Hỏa) đầy ý nghĩa trong cái âm vẫn có dương (khảm) trong dương vẫn có âm (ly). Địa vị của Ly (âm) vẫn phải nhường cho Khảm (dương) như 6 cung: Dậu, Ngọ, Hợi, Thìn, Sửu, Dần cho thấy bên trong Dương Ngọ (hỏa) khắc Dậu (kim), bên âm Thìn (thổ) khắc Hợi (thủy), Dần (mộc) khắc Sửu (thổ).

Sự việc thủy phải đặt ở vị trí thủy nhị cục cũng vẫn dẫn đầu trong ngũ hành và hỏa đặt tụt xuống tư thế lục cục cũng không phải kém thế. Tóm lại chỉ có 2 là mộc tam cục và thổ ngũ cục, bên âm đa số hơn gồm thủy nhị cục, kim tứ cục và hỏa lục cục, nhưng bên dương sức phấn đấu vẫn lấn khắc chế bên âm để cho hai thế âm dương được cân phân trên hai hình thức đa số và năng lực.

Sự thật trên bình diện chung dương vẫn mạnh hơn âm với tỷ số 3 và số 2, như sau 2 lần đã thí nghiệm chính xác trên phương diện khoa học tối tân năm 1957 với phần thưởng Nobel ban phát xác nhận.

Sách trình bày kèm một sơ đồ Hà Đồ ghi rõ sáu vị trí xuất phát nói trên:

  • Mã (Ngọ) — số 5 — Thổ cục.
  • Kê (Dậu) — số 6 — Hỏa cục.
  • Long (Thìn) — Mộc cục.
  • Ngưu (Sửu) — số 2 — Thủy cục.
  • Chư (Hợi) — số 4 — Kim cục.
  • Hổ (Dần) — vị trí còn lại, không ghi số riêng.

Sáu chữ Kê Mã Chư Long Ngưu Hổ định ra chỗ khởi cục cho bốn hành Kim Mộc Thủy Hỏa. Nhưng còn Thổ, hành đứng giữa Hà Đồ, xuất phát Tràng Sinh ở đâu thì sách lại phải bàn riêng một mục.

Người thuộc Thổ ngũ cục, Tràng Sinh xuất phát từ vị trí nào?

Số Tử Vi của mỗi cá nhân có thể nói căn bản do chính 3 vòng Lộc Tồn Thái Tuế và Tràng Sinh phác họa được mệnh danh là tam tài hoạch định. Thiên Can ban phát Lộc Tồn, Địa chi nung đúc tự thế nạp âm vạch lối hành động.

Biết rằng vòng Tràng Sinh được ấn định vị trí xuất phát tùy cục diện của Mệnh như: Thủy nhị cục thì Trường Sinh bắt đầu hướng đi từ cung Thân, Mộc tam cục lấy cung Hợi, Kim tứ cục nhắm cung Tỵ, Hỏa lục cục chỉ cung Dần nghĩa là 4 hành chính, Kim Mộc Thủy Hỏa do 4 sinh xuất phát. Còn Thổ ngũ cục được cho đứng chung với Thủy mà Thổ cũng đứng đó thành ra đảo ngược Thổ phải sinh xuất cho Thân. Không còn ý nghĩa tam hợp cục sinh đóng vai hậu cần bồi đắp cho chính để đấu tranh trường tồn.

Vậy trường hợp thổ ngũ cục nên quyết định Tràng Sinh xuất phát ở vị trí nào?

Theo luật ngũ hành sinh khắc cho biết Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ. Vậy Hỏa cung phải là nơi điều động sinh cho Thổ cục. Hỏa có hai cung Ngọ và Tỵ. Tỵ đã đóng góp phần cho Kim tứ cục. Phải chăng chỉ còn 1 Ngọ. Với sinh lực dồi dào, ngôi vị cửu ngũ cao đẹp nhất trong địa bàn thuộc Thái Dương quang minh, hai chữ Ngọ môn lộng lẫy, chiếu tỏ chánh danh gồm cả hai mặt âm dương thuận hay nghịch lý, vừa trúng tư cách của Thổ ở vị trí trung ương theo Hà Đồ.

Đối với 4 hành Kim Mộc Thủy Hỏa, trường hợp thuận lý (Dương nam, Âm nữ) đi xuôi. Trường Sinh ở Tứ sinh, Đế Vượng ở Tứ chính. Trái lại nghịch lý (âm Nam, dương Nữ) Trường Sinh đổi đến Tứ chính, tức là mượn nhờ ý chính thì Sinh và Vượng không được hưởng đầy đủ đúng mức. Chỉ còn Mộ cung đầy đủ ý nghĩa chỉ khi nhắm mắt an nghỉ họa chăng được mãn nguyện nơi mộ địa.

Nói chung Thổ cục rất hợp lý cho người tứ mộ, ảnh hưởng nhiều hay ít tùy theo thuận hay nghịch lý.

Hán Cao Tổ Lưu Bang tuổi Giáp Ngọ sanh ngày 13 tháng 11 giờ Ngọ.

Hàn Tín tuổi Giáp Tuất sinh ngày 5 tháng 11 giờ Ngọ.

Hai người Mệnh Thân đều nằm ở Ngọ, cùng tuổi Giáp nên đồng Thổ ngũ cục. Người tuổi Ngọ tứ chính, đắc Thái Tuế nhập mệnh. Người tuổi Tuất tứ mộ, chỉ là vị trí Bạch Hổ, hơn kém thấy ngay ở điểm đó (vòng Thái Tuế). Cùng hưởng Lộc Tồn tuổi Giáp nhưng Giáp Ngọ Can sinh Chi, lấn hơn Giáp Tuất Can khắc Chi quá xa (vòng Lộc Tồn). Điểm thứ ba Trường Sinh, nếu ghi theo Thủy Nhị cục cũng như Thổ Ngũ cục đồng ở Thân phải đi thì 2 người cùng Thai nhập Mệnh. Phúc Đức được Trường Sinh nhưng Triệt và Đế Vượng lọt xuống Di. Trái lại lấy Trường Sinh để ở Ngọ tức nhập Mệnh. Tràng Sinh này bồi đắp hai người khác nhau.

Với tuổi Ngọ tứ chính, Tràng Sinh tô điểm cho Đế Vượng ở cung Quan (Tuất) khác với tuổi Tuất tứ mộ, Tràng Sinh nhập với Hoa Cái cũng ở cung Quan (Tuất). Một đằng tuổi tứ chính Kim Mệnh đắc Đế Vượng, Tràng Sinh tạo ngôi vị quý báu lâu dài. Một đằng tuổi tứ mộ được Hoa Cái, Tràng Sinh chỉ tô điểm cho đương danh vang nức tiếng, nhưng vì Hỏa Mệnh khắc Hoa Cái nên không lâu dài.

Theo sự trình bày 2 lá số cho thấy cách điểm Tràng Sinh của Thổ cục mới vị trí ở cung Thân cùng với Thủy cục đem lại kết quả Thai nhập Mệnh cho 2 người không hợp lý trái nghịch hẳn bản thể cá nhân. Đem Thai giáp vào Tử vi cư Ngọ Thái Tuế khác gì đem mực đen bôi lem tờ giấy trắng, vẽ lên một hôn quân ngọa triều. Liêm Tướng vượng Thai còn gì tư cách ngôi vị nguyên nhung chinh đông dẹp bắc, kỷ luật nghiêm minh.

Vậy Tràng sinh của người Thổ cục nên an ở đâu cho trúng vị trí?

Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư - Thiên Lương

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tính lý