Bài tổng quan
Nhị hợp, cung Di và hai phe sao chia rõ tính cách
Tử Vi đầy đủ đức hạnh, Cự Môn đàm luận đanh thép — bốn ngôi sao duy nhất trong 14 chính tinh không cần ai bổ khuyết. Còn lại mười sao khác đều phải có một nửa kia đứng nhị hợp mới trọn nghĩa, đúng như tám sao bên dương suốt đời tranh đấu lẫn nhau trong khi sáu sao bên âm lại đi thành một khối không rời nửa bước…
Năng lực quan trọng của nhị hợp
Toán số mạng tùy thuộc vào luật âm dương thì một tam hợp không đủ phương tiện nhận chân bản chuyển dịch trên địa bàn. Qui phạm đã ghi khuôn phép có tam hợp, nhị hợp và xung chiếu.
Tam hợp, một thế liên minh ba cung có thể đứng chân vạc (Sinh, Chính, Mộ) đồng lao cộng tác để tranh đấu với đối cục là thế xung, cùng lấn lướt thiếu dương và thiếu âm. Còn nhị hợp bổ khuyết những gì nêu rõ bản lãnh tiềm tàng trong nội tâm mà tam hợp không phơi bày phân tích nổi, chỉ là một lực lượng dương hay âm hoàn toàn, nhị hợp phối hợp âm dương trọn vẹn.
Điển hình 14 chính tinh cho thấy, trừ ra 4 sao có tư cách khẳng định, còn lại 10 sao trường hợp nào cũng nêu rõ âm dương liên lạc như hình với bóng.
Bốn sao không có nhị hợp: Tử Vi đầy đủ đức hạnh, Thất Sát nông nổi quá mức, Thiên Tướng uy dũng đến cùng, Cự Môn đàm luận đanh thép.
Mười sao có nhị hợp, cặp đôi với nhau: Thiên Phủ với Thái Dương, Vũ Khúc với Thái Âm, Thiên Lương với Liêm Trinh, Phá Quân với Thiên Cơ, Tham Lang với Thiên Đồng — mỗi cặp chia sinh quan làm hai phần, thực tính và tinh thần.
Trường hợp nào Thiên Phủ cũng có Thái Dương đầy đủ ý nghĩa Thiên Phủ sáng suốt cương nhu tùy lúc Thái Dương đóng ở dương hay âm cung. Vũ Khúc luôn luôn sống nhu thuận theo Thái Âm lập nghiệp. Thiên Lương không những đôn hậu mà còn liêm chính. Phá Quân bất khuất còn có tài tổ chức. Tham Lang vọng tưởng nhưng biết hối cải. Trái lại Thái Dương, Thái Âm, Liêm Trinh, Thiên Cơ và Thiên Đồng cũng vậy, trường hợp nào nhị hợp cũng cặp kè bộ đôi với ý trung nhân như có ý nhắc nhở người có số cuộc đường dài (tràng sinh) phải dẫn dắt lấy mình cho hợp lý âm dương, đành rằng tam hợp chiếm phần chính, nhưng nhị hợp không thể quên.
Trường đời đã cho thấy thói hư tật xấu dễ bành trướng, đức hạnh liêm chính thì khó nhập tâm. Nhìn vào địa bàn tướng số, những Liêm Tham, Vũ, Sát, Tử Tham đều đóng ở âm cung, dễ sinh xuất sang dương cung tiêm nhiễm nọc độc mà Cự Dương, Đồng Lương, Liêm Phủ rất chặt chẽ chỉ treo cao ảnh hưởng cho âm cung nhìn nhận.
Nhị hợp bổ khuyết cho tam hợp bằng cách bắt sao này phải ngó về sao kia. Còn Mệnh với Di, hai cung đối diện xa nhất trên địa bàn, thì bổ khuyết cho nhau bằng một thứ khác hẳn: xung khắc và giành giật.
Di, một lực lượng phải để ý
Trên địa bàn toán số Di đứng đối diện với Mệnh, thường thường cho là tình trạng đi ra ngoài, sự thật còn là ý nghĩa kẻ đối nghịch tranh đua với Mệnh, bởi vị trí đối kháng ở thế xung (giận hờn). Diện tích 12 cung, hành Thổ chiếm đến 4 (2 Dương Thìn Tuất, 2 Âm Sửu Mùi). Kim Mộc Thủy Hỏa mỗi hành chỉ có 2 (1 Dương 1 Âm) sắp xếp đối diện nhau.
Lý đương nhiên đối diện là phải có chuyện khắc chế. Hai hành Thủy và Kim luôn luôn tay trên kẻ địch (Hỏa và Mộc). Còn 4 hành Thổ tranh đua nghiêng ngửa. Tính đến sát nước cờ Thìn và Sửu vẫn ở trên Tuất và Mùi vì lẽ Thìn đứng trong hàng ngũ Thủy nhị cục và Sửu, một thành phần Kim tứ cục. Vậy toàn diện đã phân cao thấp, tư thế hành tinh cung một cách bảo đảm phần nào thắng bại.
Phân tách âm dương Mệnh và Di các sao luôn luôn đồng đều cùng trong một phái lưỡng nghi (Tử Phủ Vũ Tướng Phá Tham Liêm Sát hay Cơ Nguyệt Đồng Lương Cự Nhật). Phe văn tranh đua về lý tưởng, phái võ tranh đấu bằng sức mạnh. Hành của sao phân biệt lực lượng như Tham Lang (Mộc) đối diện Vũ Khúc (Kim). Vũ Khúc được thế thượng phong, Cung và Sao không khác gì địa thế và năng lực. Còn một cách mà thế nhân từ ngàn xưa cho đến nay đều trọng vọng viện nhiều lý lẽ đã có để tô điểm hành động, dầu thua hay thắng, vẫn được tiếng tốt để đời, đó là chánh danh. Phần này thuộc vòng Thái Tuế.
Tư cách Thái Tuế nâng phẩm cách nhân sinh viên mãn đời Hoa Cái Dương cho như 3 trường hợp sau đây nên thận trọng phân tách đâu rõ trắng đen.
Người Canh Tuất sanh ngày 6 tháng 5 giờ Mão. Mệnh Tuế Phá Cơ Lương, Thân Thái Tuế vô chính diệu. Kim mạng được Thiên Lương (Mộc đối Thổ) phò trợ hẳn là một triết nhân hiền hậu có khả năng tổ chức, nhưng không bỏ qua Liêm Trinh, nhị hợp của Lương và Phá Quân nhị hợp của Cơ ở Dậu sinh nhập bổ khuyết liêm chính và vững tâm khuôn xử Quan cung ở Thân vô chính diệu. Tử Sát ở Tỵ chỉ là bức tranh vẽ cho đẹp buổi ban sơ và những cái gì lôi kéo sanh nhị hợp (Quan) bởi Tử Vi, Thất Sát không có cặp đôi với sao nào, nhưng vì ở âm cung xuất phát cung Quan ở dương được thâu nhập ảnh hưởng phải chậm. Lộc Mã Khốc Khách tuy vang dội no đủ lại thiếu chỉ huy nên không quá mộng tưởng. Cung Tài Đồng Âm (Tí) chỉ từng giai đoạn thay đổi (Thái Âm ở dương cung) được Tham (nhị hợp của Đồng), Vũ (nhị hợp của Âm), trợ lực đem lại kết quả hậu lai, nhưng Phá Toái ngăn chặn lối khiến khách bộ hành nhiều lúc bỡ ngỡ như lầm đường lạc lối.
Thân đứng Thái Tuế vô chính diệu được Hoa Cái đắc Thái Dương Cự Môn ở Dần hợp chiếu, tuy vướng Tuần mà thành đắc cách (Hỏa phùng Không), không khỏi khiến bản mạng kém sức khỏe (Hỏa khắc Kim). Thiên Tướng không có cầu để sang đắc lực cho Hoa Cái (Kim) thêm phẩm cách một danh sư chánh đạo, chỉ phần nào phụ họa lần lần ảnh hưởng (Mão sinh xuất cho Tuất). Thiết tưởng một Hoa Cái (Kim) cho người Tứ Mộ mạng Kim bao trùm hiệu lực cho người kim mệnh cũng rất đầy đủ thỏa mãn.
a – Tuổi Canh Tuất Mệnh Thân ở Thìn có Khúc làm cốt cách thấy cả một ngôi dinh thự nguy nga vững chắc (Kim Mệnh đắc Vũ Khúc, Kim). Đối xung (Di) ở Tuất phải là Tham Lang (Mộc) cho thấy cả vị trí và sao đều thắng, khắc đối phương một cách dễ dàng (Tam hợp Thìn, Thủy khắc tam hợp Tuất Hỏa, Vũ Khúc Kim khắc Tham Lang Mộc) Tuổi Canh Vũ Khúc hưởng thụ tất cả những gì tam hóa liên châu (Mệnh Quyền giáp Khoa và Lộc). Ở Thìn vị trí thuộc Thái Dương (Cẩm bào phô diễn ban ngày) chỉ kém đối phương có 1 Thái Tuế chứa đựng Hoa Cái Thanh Long (Long có rồng uốn khúc) đành thua cuộc vĩnh viễn ngàn năm.
b – Tuổi Giáp Ngọ, Mệnh Vũ Phủ ở Tý, Thân Thất Sát ở Ngọ. Cuộc diễn biến chuyển cho thấy người này sanh ra gặp nhiều bất như ý mà rất coi thường đối phương. Nhưng cuộc Tràng Sinh luôn luôn bị người nghịch gò ép.
c- Tuổi Nhâm Tuất có Phá Quân thủ mạnh ở Ngọ. Thân Liêm Tướng ở Tý là cả một cuộc đấu tranh lâu dài. Người này có công tạo sự nghiệp cho đời mình thụ hưởng vì đối phương quá nghiêm nghiệt. Nhưng khi bắt tay hành động lại coi thường đối phương, chỉ đem đến kết cuộc không mãn ý.
Tóm tắt trường hợp Di được khen tốt đẹp, chứa đựng nhiều trung tín đắc cách thì mệnh phải khắc phục nắm chắc trong tay mới mong kẻ đón người rước phản ảnh màn cảnh nhân sinh thực trạng còn Thân ở Di Thái Tuế là cuộc sống trường sinh lý tưởng.
Luật âm dương chi phối chỗ đứng 14 chính tinh để biểu lộ ảnh hưởng khác nhau. 12 cung địa bàn chia thành 4 sinh (Dần, Thân Dương, Tỵ Hợi âm) 4 chính (Tý Ngọ Dương, Mão Dậu âm) và 4 mộ (Thìn Tuất Dương, Sửu Mùi âm). Mỗi bộ sau khi đứng cặp đôi ở Dương, thì đứng ở Âm phải chia lìa đối diện hay tụ hợp ở âm, bước sang dương phải xé lẻ nhìn nhau như:
- Tử Phủ Dần Thân, sang Tỵ Hợi Tử ở một đầu, Phủ ở đối diện.
- Cơ Lương Thìn Tuất sang Sửu Mùi mỗi sao đứng 1 thế ngó nhau.
- Liêm Tướng Tý Ngọ sang Mão Dậu đường ai nấy đi.
Hai thế đứng có 2 ý nghĩa: đứng cặp đối cùng 1 cung tức bổ khuyết cho nhau, còn đứng đối diện là có sự bất đồng ý (trừ bộ Nhật Nguyệt chính không bằng chiếu).
Bên dương Tử Phủ Vũ Tướng Sát Phá Liêm Tham mỗi sao một phách, tranh đấu với nhau từng bước một. Còn bên âm, sáu sao Lương Nguyệt Đồng Cơ Cự Nhật lại đi thành một khối, không rời nhau nửa bước.
Lương Nguyệt Đồng Cơ Cự Nhật, một khối đồng tấn nhất trí
Hai thể âm dương đã định thành phép tắc tạo tính cách hoàn toàn dị biệt như trắng với đen, sáng và tối. Vì vậy, 14 chính tinh, bên dương 8 sao Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham thường xuyên tranh đấu lẫn nhau từng bước, trái lại bên âm Lương Nguyệt Đồng Cơ Cự Nhật cả 6 sao đứng thành 1 khối liên kết hành động chung mật thiết.
Bộ Nhật Nguyệt 2 vầng sáng suốt như chỉ điểm đâu là đường đi thăng tiến, đâu là ngõ bí bế tắc để Thiên Lương trình bày luận lý theo dõi Thiên Đồng canh cải kiến tạo và Thiên Cơ tổ chức xếp đặt tức là nội Trạng Tử Phủ hay Phá Tham một khi đắc thế tạo nên sau đó Cự Môn lên tiếng khuyên răn nhắn nhủ:
Toán số mạng không phải chỉ là 1 pháp toán tìm hiểu hồi hưng thịnh lúc suy vong, còn là một giáo lý trình bày nhân quả hướng dẫn nhân luân trên bước đường dài làm sao cho trọn vẹn, dư âm còn lưu truyền mãi mãi.
Tại sao lại cũng chia làm hai phái, xếp Cơ đứng đầu mà Lương đứng cuối, không để Lương Cự Đồng Cơ và Nhật Nguyệt?
Theo phép âm dương, lưỡng nghi chia xuống là phái tứ tượng. Bên dương đã chia làm 2 thì bên âm cũng phải chia 2. Để Cự Nhật có ý nghĩa lời phê bình cương trực sáng láng như vầng Thái Dương. Bên kia Thiên Lương đáng lẽ dẫn đầu đoàn lại để Cơ chiếm đoạt ra ngồi khiêm nhượng ở ghế chót. Đây thiết tưởng cũng là trường hợp như Phá Quân bất nhân Thìn Tuất, chê bai triết nhân một phường hán nho ngông cuồng chỉ ngồi suy tưởng nông cạn không đáng kể, Cơ và Đồng mới là 2 giềng mối, cần thiết phải được tôn trọng.
Sự thật, những vị trí trên địa bàn, Lương và Cự theo qui phạm áp dụng luân phiên chia nhau sát nách Cơ Đồng như Lương Cơ (Thìn Tuất) Lương Đồng (Dần Thân) Cự Cơ (Mão Dậu) Cự Nhật (Dần Thân).
Ba trường hợp dưới đây cũng như các trường hợp khác thấy khối thống nhất Nhật Nguyệt Lương Cự Đồng Cơ luôn luôn liên lạc mật thiết chu đáo.
Tử Vi ở Ngọ thấy cả một triều đường uy nghi quân thần tá sứ. Liêm Phủ văn ban ở Tuất, Vũ Tướng võ bá ở Dần, Thái Dương (Mão) dẫn đường Thiên Lương phối hợp Thái Âm ở Hợi, tuy rằng âm dương tịnh minh, sự thật Thái Âm đắc cách hơn thì mọi sự phải nhu thuận mới đắc sách. Tổ chức (Thiên Cơ) có phần khéo léo, nhưng không che lấp được cải cách kiến tạo không hợp tình trạng (Thiên Đồng hãm ở Sửu). Cự Môn (Sửu hãm) không thể làm ngơ không mỉa mai nghiêm nghị. Đây chỉ là tất cả sự dàn bầy của chính tinh, còn 1 phần nó tùy thuộc ở tuổi (Thái Tuế) cục diện (tràng sinh) phụ thêm 1 đoàn trung phúc và sát tinh thêm bớt.
Phá Quân ở Tý cùng Tham Lang ở Thìn Tuất Sát ở Thân, mọi hình ảnh cuộc liên minh hảo hán bất khuất. Thiên Lương ở Mùi được Thái Âm (Mão) Thái Dương (Hợi) đồng chiếu, cho biết mọi sự còn trong vòng chưa được tỏ rõ phải từ từ khuôn xử thì hơn (Thái Âm đắc cách hơn Thái Dương). Sự tổ chức (Cơ) tạm thời đúng lúc, nhưng cải cách còn bế tắc (Đồng hãm ở Dậu). Cự Môn ở Tỵ (hãm) không thể không mạnh tiếng bổ khuyết.
Tử Tướng ở Thìn, Phá Quân ở Tuất, một màn cảnh quyết liệt chống chọi. Thiên Lương ngao ngán thế cuộc tàn du sơn thủy. Cuộc xáo trộn chưa phân hắc bạch (âm dương tương tranh ở Sửu) Cự Môn nắm chắc Cơ và Đồng (cả 3 Cự Cơ Đồng đều đắc địa) lên tiếng dàn hòa sao cho mọi sự được êm đẹp. Kết quả phải trái cũng nhờ ở Thái Tuế mới qui định hẳn bên nào chịu trách nhiệm tình trạng xảy ra.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư - Thiên Lương
