Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Mệnh nữ Quý thủy tháng thìn: thực thương rút cạn, cuối đời mới phúc

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202610 phút đọc4 lượt đọc
Mệnh nữ Quý thủy tháng thìn: thực thương rút cạn, cuối đời mới phúc

Một người đàn bà sinh giờ mão ngày Quý mão năm Giáp ngọ 1954: nước yếu mà cây cỏ hút cạn, nửa đời gian lao rồi đến cuối đời mới nở phúc. Bản thân tám chữ thiếu một chữ ấn, nên mọi sự phải đợi từng vận từng năm đến bù. Có những hạn nặng đã đặt sẵn, và có một cánh cửa để tuổi già bước vào...


Một người đàn bà sinh giờ mão ngày Quý mão năm Giáp ngọ 1954: nước yếu mà cây cỏ hút cạn, nửa đời gian lao rồi đến cuối đời mới nở phúc. Bản thân tám chữ thiếu một chữ ấn, nên mọi sự phải đợi từng vận từng năm đến bù. Có những hạn nặng đã đặt sẵn, và có một cánh cửa để tuổi già bước vào...

Quý thủy tháng thìn yếu sức, thực thương rút cạn, cuối đời mới phúc

Lá số và cách chọn dụng thần

Mệnh nữ sinh năm Giáp ngọ 1954, tháng ba là Mậu thìn, ngày 15 là Quý mão, giờ mão là Ất mão. Trụ năm Giáp là thương quan, trụ tháng Mậu là chính quan, trụ giờ Ất là thực thần. Các chi tàng: ngọ có Đinh, Kỷ; thìn có Ất, Mậu, Quý; mão có Ất. Đại vận khởi từ bốn tuổi, đi nghịch: Đinh mão (4 tuổi), Bính dần (14), Ất sửu (24), Giáp tý (34), Quý hợi (44), Nhâm tuất (54), Tân dậu (64), Canh thân (74).

Nhật nguyên Quý thủy sinh tháng thìn là đất dưỡng, không được lệnh. Hai can Giáp, Ất đều là thực thương xì hơi nhật chủ, lại có gốc ở hai chi mão mà vượng; thêm Mậu thổ trong tháng khắc thân. Nhật nguyên rất nhược mà thực thương quá nặng, nên phải lấy ấn tinh kim làm dụng thần để sinh thân, tỉ kiếp là hỉ thần. Đáng tiếc tứ trụ thiếu ấn tinh, phải nhờ đại vận và lưu niên giúp. Đây là mệnh thăng trầm: trước năm 1990 nhiều trắc trở, gian lao vất vả, về cuối đời mới tốt, cuối cùng nhiều phúc.

Tính cách: nhiều tài nghệ, độc lập, thích đạo huyền

Tứ trụ có cả thương lẫn quan, nên người này bẩm sinh có năng lực nghệ thuật, đầu óc thông minh linh hoạt, trí tuệ dồi dào, nhiều tài nghệ, sở thích rộng. Tính độc lập cao, không ỷ lại người khác, rất tự tin, hăng hái vươn lên; có lúc thiên về quá khích nên dễ mắc khuyết điểm với người khác hoặc với cấp trên, nhưng cũng thích giúp đỡ người khác.

Thực thần vượng mà nhiều nên tình cảm nồng thắm, hòa hợp với mọi người, cư xử rộng rãi. Trong tứ trụ không có kiêu thần, ấy là người hưởng phúc, thích ca múa, nhàn hạ, tốt duyên. Chính tinh của trụ ngày gặp đủ ba ngôi nên người này thích nghiên cứu tôn giáo, mệnh lý, âm dương, phong thủy, các học thuật huyền bí và có chí đi theo con đường ấy; nếu đeo đuổi lâu dài thì cuối đời cũng nổi tiếng.

Tổ nghiệp và lục thân

Can năm có thương quan, can chi đều là kỵ thần nên tổ nghiệp nghèo khó, hoặc ông cha phận mỏng, người này khó kế thừa. Trong tứ trụ không có chính ấn, chi năm lại là kỵ thần, nên suốt đời phận bạc với mẹ hoặc ít được giúp đỡ, có thể mồ côi mẹ sớm. Có thiên tài là cha, mạnh hơn mẹ, nên người cha mạnh hơn người mẹ. Trụ giờ là kỵ thần nên về sau không sống chung với con cái; trụ giờ gặp đào hoa mà không bị xung phá, nên con gái nhiều tài nghệ và đẹp.

Nghề nghiệp, phương hướng, tiền của và đường quan

Thực thương mạnh hơn quan sát, nên theo nghề tự do thì hợp; nếu không sẽ thiệt cho sức khỏe. Hợp những nghề thuộc kim như buôn vàng bạc, châu báu, khoáng sản, kim loại, máy móc, thiết bị, nghiên cứu hóa học, thiết bị giao thông. Phương hướng có lợi là tây và tây bắc so với nơi sinh ra người cha; không lợi là nam và đông.

Cả đời tài tinh là kỵ thần, nên không nên buôn bán, vì tài nhiều sinh quan, nếu nguyên thần nhật chủ thắng được quan thì e bệnh tật nhiều, hoặc hôn nhân không thuận. Vì vậy đời nên sống đạm bạc, chỉ cầu bình an, không cầu phát tài. Trụ năm có phục tài, nghĩa là trong mệnh có của và của không bị phá, có thì giữ được; chỉ vì thân nhược nên khó thắng tài. Sau năm 1990, đại vận có lộc địa giúp thân nên tiền của đem lại niềm vui cho cuộc sống.

Về đường quan, tứ trụ thương quan gặp quan, may nhờ quan tinh bị hợp nên gặp thương cũng không sợ, nhưng hợp mà không hóa, nên cả đời không nên giữ chức vụ, nếu không thì trong công việc dễ bị tiểu nhân làm hại. Mệnh nữ mà quan tinh hiện rõ thì không lợi cho chồng và tổn hại hôn nhân.

Hôn nhân, bệnh tật, màu sắc và hướng nhà

Thực thương quá nặng, khắc quan tinh, nên hôn nhân cả đời không thuận, nên kết hôn muộn. Tuất thổ là quan, hợp nhập vào trụ ngày, nên chọn chồng lớn tuổi hơn mình, cầm tinh con dê, con hổ, con chó thì tốt; cầm tinh con chuột, con trâu thì không tốt. Trụ ngày gặp đào hoa mà không bị xung phá nên chồng thích sắc đẹp, hoặc trong hai vợ chồng có một người thích trang điểm; nhưng cung chồng là kỵ thần nên chồng không giúp đỡ hay ủng hộ nhiều cho nghề nghiệp của mình. Kết hôn sớm hay ở tuổi trung niên đều phá tài; riêng đại vận Giáp tý, thương quan ở đất vượng, phá gốc rễ của trụ năm, phải đặc biệt chú ý.

Thực thương thái quá lại không bị áp chế, nên phải chú ý các bệnh về gan, mật và đau đầu. Quý thủy không vượng, thận không tốt nên dễ sinh bệnh phụ khoa. Mậu, Kỷ thổ bị khắc nên tỳ vị, tiêu hóa kém; tứ trụ thiếu kim nên phải chú ý phổi và hệ hô hấp. Trước năm 1990 sức khỏe người này tương đối yếu, nên cần bổ sung ngũ hành kim để đổi vận, và nên luyện khí công, vì nạp âm sẽ có sự giúp đỡ, hiệu quả bổ cứu rất rõ; đó cũng là đặc điểm quý khí của mệnh cục này.

Đồ dùng màu trắng, màu đen có lợi; màu đỏ, xanh, vàng không lợi. Nhà ở nên hướng đông. Giường đặt theo hướng đông tây, đầu nằm phía tây. Trong tên nên thêm chữ kim, thủy bên cạnh.

Lưu niên và vận trình

Từ bốn đến mười bốn tuổi, hành đại vận thiên tài Đinh mão. Mười năm này can chi đều là kỵ thần, tài nhiều làm hao tổn ấn, khắc cha mẹ, nên tốt nhất là sống xa cha mẹ; nếu không thì mẹ nhiều tai họa hoặc tuổi thọ không cao, bản thân sức khỏe cũng kém, nhiều bệnh tật. Năm Canh tý 1960 thiên khắc địa xung, trụ năm là ngôi mẹ bị xung, dễ gây tai nạn, nếu không thì bản thân có thể bị thương ở đầu, gia đình trắc trở. Có hai năm nữa tài tinh nặng quá, đều bất lợi.

Đại vận chính tài Bính dần, từ mười bốn đến hai mươi bốn tuổi, cũng là vận kỵ thần; các chi dần, mão, thìn tam hội thành cục thực thương, xì hơi bản thân làm thân càng nhược, nên tuổi nhỏ nghèo khó, vì cuộc sống mà bôn ba gian khổ, không lợi cho đường học. Năm Canh tuất 1970, người này phải đi lại nhiều vì học kỹ thuật hay học nghề. Các năm 1972, 1974 không thuận; các năm 1976, 1977, 1978 cũng không thuận, phải bôn ba vất vả nhiều.

Đại vận thực thần Ất sửu, từ hai mươi bốn đến ba mươi bốn tuổi: trong các chi có nhuận thổ bồi dưỡng gốc nên cuộc sống tốt lên, nhưng thực thương gặp đất vượng xì hơi thân, nên lại hao tổn tinh lực vì nuôi con, bản thân nhiều bệnh, đặc biệt bệnh tỳ vị, gan và phụ khoa. Năm Tân dậu 1981 kiêu thần đoạt thực thần, không lợi, e người già gặp nạn nặng, bản thân cũng không thuận; nếu có việc vui xung tan vận hạn thì không đáng ngại. Từ 1984 đến 1989 đều không thuận. Năm Mậu thìn 1988 quan gặp quan, quan tinh bị tổn thất, e vợ chồng có mâu thuẫn hoặc cãi cọ ngoài ý muốn. Năm 1985 tuế vận cùng gặp, thực thần vượng quá nên bản thân và con cái có hạn, nếu không thì người thân trong nhà có hạn.

Đại vận thương quan Giáp tý, từ ba mươi bốn đến bốn mươi bốn tuổi: mười năm này chỉ gặp lộc địa nên làm ăn phát đạt. Năm Canh ngọ 1990, đại vận và lưu niên thiên khắc địa xung, năm ấy không lợi cho gia đình, vợ chồng và con cái, nặng thì có thể mất người thân. Năm Quý dậu 1993 hai mão xung một dậu, thực thương bị khắc, e con cái ốm đau bất lợi. Năm Giáp tuất 1994 đề cương lệnh tháng gặp thiên khắc địa xung, quan tinh bị tổn thương, e trong nhà có biến cố lớn, người chồng phải đề phòng bệnh tật. Năm Bính tý 1996 địa chi gặp lộc trùng trùng, can thấu tài tinh, tài sinh quan, đó là năm vinh hiển và tiến tài. Năm Đinh sửu 1997 vận gặp thiên tài nên được của bất ngờ, hoặc được khen thưởng, tăng lương, nhưng phải chú ý bổ cứu hậu thiên.

Đại vận ngang vai Quý hợi, từ bốn mươi bốn đến năm mươi bốn tuổi: chi gặp kình dương, can thấu ngang vai giúp thân càng vượng, nhưng không may lưu niên lại gặp tỉ kiếp, nếu không cẩn thận sẽ thái quá và dẫn đến tai vạ. Từ 1998 đến 2001 đều không lợi. Hai năm 2002, 2003 can thấu tỉ kiếp quá nặng, trong chi lại phục tài nên phải hao tiền tốn của vì con cái. Năm Bính tuất 2006 người này nên có một lần đi xa hoặc đi du lịch.

Đại vận kiếp tài Nhâm tuất, từ năm mươi bốn đến sáu mươi bốn tuổi: đề cương lệnh tháng gặp xung, có công việc phải đi xa, đi du lịch hoặc di chuyển nhiều thì có lợi. Song đề cương gặp xung phần nhiều là hung: một là anh chị em gặp điều xấu, hai là con cái, ba là bản thân hoặc hôn nhân bất lợi. Năm Mậu tý 2008 tròn năm mươi tư tuổi gặp hạn, vợ chồng đều phải chú ý, nhất là giữa vợ chồng trong tứ trụ có lục xung, phần nhiều chồng gặp tai nạn. Năm Nhâm thìn 2012 thìn xung tuất, thủy kho động, tỉ kiếp thịnh quá thì khắc tài, e hao tài bất ngờ. Năm Giáp ngọ 2014 ngọ ngọ tự hình, phần nhiều không thuận, phải đề phòng bệnh tỳ vị. Các năm 2015 đến 2017 tương đối thuận lợi.

Đại vận kiêu thần Tân dậu, từ sáu mươi bốn đến bảy mươi bốn tuổi: tuy đã già nhưng không nên ở chung với con cái, vì đại vận và trụ giờ phạm thiên khắc địa xung, kiêu thần khắc sao con cái ở trụ giờ. Người già mà hành vận dụng thân và ấn tinh tức là gặp vận tốt, người có hậu phúc, sống riêng thì hơn, không đến nỗi vì phạm xung mà bất hòa. Năm Canh tý 2020 trụ năm lại gặp xung phá, nên đó là một cửa ải khó, cần đặc biệt chú ý. Năm Giáp thìn 2024 bất lợi, nhiều bệnh tật.

Đại vận chính ấn Canh thân, từ bảy mươi bốn đến tám mươi bốn tuổi: chính ấn hợp với Ất mão là sao con cái, nên người này có thể dọn về ở chung với con cháu, yên hưởng tuổi già. Năm Canh tuất 2030 xung khắc đề cương lệnh tháng; năm Tân hợi 2031 hai kiêu thần đoạt thực thần nên có hạn lớn, phần nhiều nguy hiểm đến tính mạng, cho nên phải chú ý sức khỏe, chăm lo việc thờ cúng, làm việc thiện để kéo dài tuổi thọ. Có một năm nữa đại vận và lưu niên cùng gặp, khó tránh khỏi hạn lớn của cuộc đời.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc