Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ: bốn hóa chỉ sáng khi sao gốc đứng vững

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn01/10/20269 phút đọc2 lượt đọc
Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ: bốn hóa chỉ sáng khi sao gốc đứng vững

Cùng là một sao hóa, nhưng một Hóa Lộc ở nơi này làm người ta giàu, ở nơi khác chỉ là hoa giả. Danh tiếng, tiền của và uy quyền đều không tự đứng được, chúng mượn bộ mặt của chính tinh mà chúng hóa ra. Chỗ nào chính tinh yếu, chỗ ấy đến cát cũng thành hư…


Bốn hóa gặp nhau: một cái hay thì quý, chồng chất thì hóa họa

Cát tinh cũng như món ăn ngon: thêm một thìa thì thơm, đổ cả nồi thì nuốt không nổi. Bốn hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ chịu đúng cái lẽ ấy khi tụ lại một chỗ.

Hóa Lộc là cát; hội hợp hai Lộc là tốt nhất. Nếu gặp ba Lộc hội thì Lộc quá nặng, ngược lại thành vô dụng; gặp sát tinh phá thì chủ hung. Nếu bốn Hóa Lộc cùng hội thì chủ vui đến cực điểm rồi sinh buồn, bại hoại lớn.

Hóa Quyền chủ về uy quyền. Nếu hai Quyền vào hạn, người làm võ nghiệp không sao, còn dân thường hoặc quan văn thì có thị phi tranh đấu. Ba Quyền hội thì có tai họa quan trường và nhà cửa bất an. Bốn Quyền hội thì phần nhiều hung hiểm, hao phá không lợi.

Hóa Khoa chủ về danh tiếng. Hai Khoa đến hợp thì rạng rỡ nhất. Ba Khoa hội thì ngược lại chỉ bình bình, không có danh tiếng lớn. Bốn Khoa hội hợp thì phần nhiều mất danh, hỏng tiếng; thêm sát tinh thì đại hung.

Hóa Kỵ chủ chuyện thị phi, hay phải lo nhiều việc, hung nhất là khi có hai Kỵ; thêm sát tinh thì chủ thị phi quan tụng. Ba Kỵ hội hợp thì khổ não khác thường, hoặc thương tích hoặc bệnh tật; nếu không có sát tinh thì không sao. Bốn Kỵ hội hợp thì chủ bĩ cực thái lai, bỗng nhiên thông suốt, sáng sủa.

Tứ hóa của năm sinh, bất kể ở đại hạn, lưu niên hay tháng, đều tùy lúc mà phát sinh tác dụng. Tứ hóa của Thái Tuế quản chuyện bĩ thái của một năm, nên tháng và ngày cũng phát sinh tác dụng.

Lúc thường xem số, không cần soi từng li vào bốn Lộc, bốn Kỵ. Phải xem Hóa Kỵ của bản Mệnh gặp Hóa Kỵ của Thái Tuế và của nguyệt lệnh, rồi mới tìm xem sao hóa của đại vận có đến hợp hay không. Cũng có khi nhật chủ gặp năm Kỵ lại càng tốt. Nếu bản Mệnh, Thái Tuế, nguyệt lệnh, nhật chủ gặp bốn Kỵ, lại hội với Kỵ của đại hạn thì cát hung bất định, có lúc đại cát, có lúc đại hung. Khi ấy phải xét hạn và lưu niên ra sao, tháng trước ra sao, tháng sau ra sao, rồi mới đoán được cát hung.

Hóa Khoa: ngôi sao danh tiếng, phải gặp Khôi Việt mới sáng

Khoa là cây bút của thượng giới; nó cho tiếng thơm, nhưng tiếng thơm nào cũng phải có chỗ dựa là sao gốc đứng ở đất tốt.

Hóa Khoa thuộc thủy, trong số là sao ở thượng giới coi việc văn mực, chủ danh tiếng.

Sao Khoa mừng nhất là hội hợp với Thiên Khôi, Thiên Việt: chủ văn học đáng khoe, lại có danh tiếng rạng rỡ; phần nhiều tuổi trẻ đắc ý. Người ấy thông minh mà cởi mở, mắt sáng mày thanh, dáng người nhã nhặn tuấn tú, quý mà có danh tiếng. Nếu sao được hóa Khoa ở Mệnh đứng miếu vượng, tam hợp có Quyền, Lộc, không có sát, Kỵ xung phá, thì chủ hiển quý. Hãm nhược gặp phá thì vẫn có thể là người tài hoa văn chương, làm được thầy người khác. Ngại nhất là gặp không vong, chủ hư danh mà nghèo lạnh.

Mệnh nữ có Hóa Khoa mà sao hóa miếu vượng, không bị phá, thì là phụ nữ quý. Miếu địa mà gặp phá thì đẹp mà vẫn thiếu một chút; dù giàu sang cũng khó tránh đào hoa, vì nhu cầu đời sống tình dục cao.

Hóa Khoa ở hãm địa, ngược lại chủ bất cát; thêm Khôi Việt hội hợp thì chủ có đào hoa.

Sao này còn phải xét chi năm sinh hợp hay kỵ để định điểm số. Như người tuổi Giáp, Vũ Khúc hóa Khoa: người tuổi Giáp Thân thì kim vượng, tốt; người tuổi Giáp Ngọ thì hỏa khắc kim của Vũ Khúc, phải trừ điểm.

Khi Hóa Khoa vào các cung khác, cũng phải xem sức mạnh của sao hóa và tính chất của nó rồi mới định cát hung.

Sao này mừng nhất là hội với Lộc Tồn (đồng cung hoặc đối chiếu).

Hóa Lộc: thần phúc đức, mạnh hay yếu tùy sao gốc của nó

Lộc là thần phúc đức của lá số, nhưng nó không tự đứng; nó mượn bộ mặt của chính tinh mà nó hóa ra.

Hóa Lộc thuộc thổ, trong số là vị thần phúc đức, chủ cát.

Phàm sao hóa cát (Lộc, Quyền, Khoa), việc đầu tiên là xét chính tinh được hóa ra nó, tức nền móng của Lộc, có miếu vượng không. Miếu vượng thì đại cát, hãm nhược thì phát cũng chỉ là hoa giả. Cho nên sao hóa Lộc vào thân mệnh, tam phương có Khoa, Quyền hội hợp, hoặc có Lộc Tồn nương lúc vượng đến triều củng, thì rất tốt; nếu có sát xung phá thì không tốt, e trong cát có hung, rốt cuộc bại hoại. Khi đi hạn gặp Lộc, ở đất vượng thì giàu sang; hãm hoặc bị xung phá thì có thành có bại, hoa giả không thực.

Sao này vào Mệnh, nhất định phải xem tính chất của chính tinh để định tướng mạo và tính tình. Mệnh nữ có Hóa Lộc ở đất vượng thì giúp chồng, ích con, giỏi giang, nhiều hưởng thụ; gặp ở đất hãm thì ngược lại bị luận là người hư vinh.

Hóa Lộc không nên vào cung Tật Ách, vì nó quá vượng, ngược lại chủ nhiều bệnh; còn bệnh gì thì phải tham khảo sao được hóa ra mà định.

Ở các cung khác, Hóa Lộc tuy tốt, vẫn phải xem tính chất của sao được hóa ra rồi mới luận đoán.

Lại như người tuổi Canh, Thái Dương thuộc hỏa hóa Lộc, vào cung Ngọ thì càng tốt; nhưng còn phải xét thêm chi năm sinh. Người tuổi Canh Ngọ phúc dày hơn người tuổi Canh Tý, vì Ngọ thuộc hỏa, giúp ích cho Thái Dương, còn Tý thuộc thủy, bất lợi cho Thái Dương. Các Hóa Lộc khác cũng phải xét trước chi năm sinh và sao được hóa ra, hợp hay kỵ, rồi mới định được giàu sang.

Hóa Quyền: ngôi sao sinh sát, uy nghiêm và cũng cô độc

Quyền cho người ta cái uy của một người cầm cân nảy mực; uy ấy khiến quân tử ngại, tiểu nhân sợ, và đôi khi người mang nó cô độc hơn họ tưởng.

Hóa Quyền thuộc mộc, trong số là sao nắm quyền sinh sát, chủ cát.

Người nếu gặp chính tinh miếu vượng hóa Quyền thì tính tình rất lạ lùng, đi đâu cũng được người kính trọng, có quyền uy, phú quý chẳng nhỏ; quân tử ngại họ, tiểu nhân sợ họ; nếu thêm Khoa, Lộc đến gặp thì là bậc tôn quý cực phẩm. Ở hãm địa thì tính cách ngang ngược, không thông tình lý, lời nói nhạt nhẽo, mặt mũi đáng ghét.

Hai hạn gặp Hóa Quyền thì không có gì bất lợi, chỉ dễ có tranh chấp việc nhà; nếu gặp Hình, Kỵ, Kiếp, Không thì làm quan mất chức, bị xử phạt hành chính như ghi lỗi, điều chuyển, thậm chí bị buộc từ chức; dân thường thì phá tài, kiện tụng, khẩu thiệt.

Mệnh nữ có Hóa Quyền, nhập miếu thì cương liệt, có chí khí đàn ông, trong ngoài như ý, nhưng phần nhiều đoạt quyền chồng; vào hạn thì thường vì lộ mũi nhọn quá mà bị người ghen ghét; hãm địa lại gặp sát xung thì cô quả, nghèo hèn.

Trong số, hai sao Cự Môn, Vũ Khúc mừng nhất là được hóa Quyền.

Tính tình của người có Hóa Quyền cũng phải xét xem sao nào hóa Quyền mà định. Như Thiên Lương vốn là sao của lý luận, lại có phong độ quân tử, nếu hóa Quyền thì tự cho mình rất cao, tự trọng như hoa lan lẻ loi, ít hợp với người, có lý luận chuyên môn, không tin lời người khác; đồng thời cần tham khảo ngũ hành của chi năm sinh để định mạnh yếu của sao hóa.

Hóa Kỵ: sao thị phi, đất vượng thì chưa chắc đã kỵ

Kỵ hay bị sợ hơn mức nó đáng sợ; nó chỉ làm người ta vướng vào chuyện thị phi, còn hung hay không là do sao gốc đứng ở đâu.

Hóa Kỵ thuộc thủy, là sao ở thượng giới lo nhiều việc, chủ thị phi khẩu thiệt. Còn gọi là sao Kế Đô, chưa hẳn đã phá cách, chỉ chủ nhiều thị phi vướng víu mà thôi. Trước hết phải xét chính tinh có miếu vượng không; nếu miếu vượng thì có thuyết "đất vượng hóa Kỵ không kỵ". Ở đất hãm thì chủ hung. Lại như sao thuộc kim, thủy miếu vượng mà hóa Kỵ thì càng không kỵ, vẫn kiêm có giàu sang, như Thái Âm ở Hợi hóa Kỵ, hoặc Vũ Khúc hóa Kỵ ở cung Tỵ là đất trường sinh. Như sao thuộc hỏa, mộc hóa Kỵ ở cung vượng, ví dụ Thái Dương ở Ngọ, hoặc Thiên Cơ hóa Kỵ ở Mão, phần nhiều giàu mà không quý, hoặc quý mà không giàu. Sao thuộc thổ thì không hóa Kỵ, nhưng hóa Kỵ sợ vào bốn cung mộ, chủ thêm hung. Lại như sao thuộc hỏa, ở các cung thủy Hợi, Tý mà hóa Kỵ thêm sát, thì hung ác khác thường, phần nhiều thương tật, chết yểu.

Sao này vào Mệnh, chủ cả đời nhiều thị phi, hay lo chuyện bao đồng, dễ bị người ghen ghét, tính nóng nảy, mang bệnh tật, nhiều khởi phục thành bại; nhưng người làm võ nghiệp thì ngược lại luận là cát, đi vận cũng vậy.

Mệnh nữ có Hóa Kỵ, bất kể sao gốc vượng hay nhược, dễ nhiều khẩu thiệt thị phi, lưỡi dài miệng sắc; ở đất vượng cũng có giàu đủ nhưng không quý được, mà tuổi già nhiều bệnh. Ở cung hãm lại thêm sát thì sáu thân bất hòa, thị phi nhiều, cũng nghèo khổ.

Sao này ở mười hai cung, trước hết phải xem sao hóa có được đất hay không và tính chất của chính tinh, rồi mới định cát hung.

Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Kinh Điển.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn