Bài tổng quan
Lộc Kỵ chuyển tiếp thế nào và cách xuyến liên Thể Dụng
Hai cốc nước cùng đổ vào một cốc cùng cỡ thì nước tràn ra, và Kỵ trên lá số cũng tràn đi theo đúng lẽ ấy. Có nguồn nào được đi tiếp, nguồn nào phải dừng, và ai là người cầm micro trong cuộc đối thoại giữa các cung…
Khi nào Kỵ chuyển tiếp, khi nào dừng lại
Đường Kỵ chuyển Kỵ nối các cung chức với nhau bằng quan hệ kiểu Kỵ, thứ quan hệ thường bị coi là xấu. Số Kỵ xâu qua các cung cho biết mức xấu và mức bất ổn của mối liên hệ ấy. Muốn dùng đúng, phải thuộc hai bộ nguyên tắc: khi nào Kỵ được phép chuyển tiếp, và khi nào nó phải dừng.
Kỵ chỉ chuyển tiếp khi năng lượng Kỵ đã đầy. Nguồn năng lượng ấy có ba loại: của năm sinh, của cung Mệnh, và của số đông, gọi là trường hợp Truy Kỵ. Truy Kỵ là khi một cung nữa phi Hóa Kỵ đuổi theo, gặp đúng nhóm cung đang xét. Chẳng hạn đang xét nhóm A, B, C, trong đó A hóa Kỵ vào B, B chuyển Kỵ vào C. Nếu có thêm một cung D cũng hóa Kỵ vào C, thì D đã truy Kỵ tới C, và C có thể chuyển Kỵ tiếp sang cung khác. Truy Kỵ chỉ cần trùng cung C, tức cung vừa nhận chuyển Kỵ từ B, chứ không đòi hỏi trùng sao.
Ba nguyên tắc cho phép chuyển Kỵ:
- Hóa Kỵ năm sinh đương nhiên chuyển Kỵ.
- Hóa Kỵ từ cung Mệnh đương nhiên chuyển Kỵ.
- Truy Kỵ đương nhiên chuyển Kỵ, không cần cùng tinh diệu.
Hóa Kỵ năm sinh thuộc quyền của Thái Tuế nên cứ tiếp tục đi. Chẳng hạn Hóa Kỵ năm sinh nằm ở cung can Bính, thì nó chuyển Kỵ tiếp đến cung có Liêm Trinh, vì can Bính hóa Kỵ ở Liêm Trinh. Mệnh Kỵ, tức Kỵ phi ra từ cung an Mệnh, cũng có quyền ấy, vì Mệnh là cực của cả lá số, là lý do để mười một cung còn lại tồn tại. Còn Truy Kỵ là hai cung cùng đổ Kỵ vào một cung. Cung ấy nhận năng lượng từ hai nơi nên đầy tràn và phải trào sang chỗ khác, giống như hai cốc nước cùng rót vào một cốc có dung tích bằng nhau thì chắc chắn nước tràn ra.
Ba nguyên tắc làm dừng chuỗi Kỵ chuyển Kỵ:
- Cung vừa nhận chuyển Kỵ lại tự Hóa Kỵ xuất.
- Chuỗi chuyển Kỵ tạo thành vòng lặp luẩn quẩn.
- Không có cung nào truy Kỵ.
Cung tự phi Kỵ vào chính nó thì đứng im tại chỗ, không đi tiếp được. Vòng lặp là khi A chuyển Kỵ sang B rồi B lại chuyển về A; có chuyển bao nhiêu lần cũng quẩn trong vòng ấy mãi, không thoát ra. Còn không có cung truy Kỵ nghĩa là cung vừa được chuyển Kỵ tới đã hết năng lượng để đi tiếp, nên chuỗi tự tắt.
Lộc cũng chảy theo một con đường như thế, nhưng đòi hỏi khắt khe hơn nhiều, nhất là ở điều kiện cùng sao.
Lộc chuyển Kỵ: nguồn Lộc nào được đi tiếp
Đường Lộc chuyển Kỵ nối các cung chức bằng quan hệ kiểu Lộc, thứ quan hệ thường được xem là tốt. Số Lộc xâu qua các cung cho biết độ tốt của mối liên hệ. Lộc chỉ chuyển tiếp khi năng lượng Lộc đã đầy, và nguồn của nó có bốn loại: Lộc năm sinh, Lộc cung Mệnh, Tự hóa Lộc và số đông trong trường hợp Truy Lộc cùng tinh diệu.
Bốn nguyên tắc cho phép Lộc chuyển Kỵ:
- Hóa Lộc năm sinh đương nhiên chuyển Kỵ.
- Hóa Lộc từ cung Mệnh đương nhiên chuyển Kỵ.
- Tự hóa Lộc đương nhiên chuyển Kỵ.
- Truy Lộc nhất thiết phải cùng tinh diệu mới chuyển Kỵ.
Lý do của hai nguồn đầu giống như với Kỵ: Lộc năm sinh nằm trong quyền của Thái Tuế, còn Mệnh Lộc nằm trong quyền của cực. Có thể nói Lộc năm sinh là kho bạc quốc gia, còn Tự hóa Lộc là kho bạc của địa phương, một nguồn Lộc hiện hữu, vì cung ấy tự phi Lộc về chính nó. Truy Lộc là khi hai cung cùng hóa Lộc vào một tinh diệu; sao ấy nhận năng lượng từ hai nơi nên tràn đầy và chảy sang cung khác. Chữ chuyển Kỵ ở đây chính là dòng chảy, hướng đi của Lộc.
Ba nguyên tắc làm dừng Lộc chuyển Kỵ:
- Cung vừa nhận lại tự Hóa Kỵ xuất.
- Chuỗi Lộc chuyển Kỵ tạo vòng lặp luẩn quẩn.
- Không có cung truy Lộc cùng tinh diệu.
Cách dừng giống hệt phía Kỵ: cung tự phi Kỵ vào chính nó thì đứng yên, vòng lặp thì không bao giờ thoát ra, và hết năng lượng thì dừng. Điểm khác duy nhất nằm ở truy: Truy Kỵ chỉ cần trùng cung, còn Truy Lộc buộc phải trùng cả sao thì Lộc mới đi tiếp được.
Hai đường này chưa phải là toàn bộ đội hình. Bên cạnh Lộc và Kỵ còn hai hóa nữa, và vai trò của chúng khác hẳn.
Quyền và Khoa đi theo, không tự dẫn đường
Có Kỵ chuyển Kỵ, có Lộc chuyển Kỵ, vậy có Quyền chuyển Kỵ không? Có, nhưng Quyền không đi độc lập được mà phải bám đường Lộc chuyển Kỵ. Gọi cho chính xác thì chỉ có Truy Quyền chuyển Kỵ. Dựng xong đường Lộc chuyển Kỵ, xét tất cả Truy Quyền đi cùng đường ấy thì được đường Quyền chuyển Kỵ. Người mới học chỉ cần nắm hai đường Kỵ và Lộc là đủ; đường Quyền chỉ làm đường Lộc rõ nét thêm.
Còn Khoa thì không có đường riêng, vì Khoa và Kỵ chủ về thế thu tàng, không có tính chảy đi.
Trong bộ tứ hóa, Lộc đứng hàng thiên, Kỵ đứng hàng địa, còn Quyền và Khoa đứng hàng nhân. Lộc và Kỵ có tư cách quyết định đại cục. Đại cục đã định thì Quyền và Khoa là lực lượng củng cố. Nói cách khác, Lộc Kỵ quyết định chất, Quyền Khoa quyết định lượng. Lộc Kỵ cho biết đẹp hay xấu, Quyền Khoa cho biết nhiều hay ít: đẹp nhiều hay đẹp ít, xấu nhiều hay xấu ít. Xét về tính cách, Quyền là nghị lực vươn lên, Khoa là lý trí sáng suốt. Nhiều Lộc thì người lạc quan may mắn nhưng dễ phù phiếm, thiếu bền; cần có Quyền củng cố mới kiên định tiến lên, vượt sóng gió. Lộc Quyền chủ về khởi phát và lớn mạnh, nhưng Quyền không phải khởi nguyên, nên phải bám theo dòng Lộc mà đi.
Đường đã dựng xong, vẫn còn một câu hỏi: cung nào có quyền cất tiếng nói trên đường ấy?
Thể và Dụng: ai cầm micro, ai lắng nghe
Cung nào cũng có khả năng phát động phi hóa, nhưng không phải lúc nào cũng có quyền ấy. Mỗi người trong biển người đều có thể nói, nhưng không phải lúc nào cũng cầm được micro để cả đám đông cùng nghe. Quyền cầm micro thuộc về Thái Tuế, thuộc về cung Mệnh, và thuộc về những cung được chọn làm Thể hoặc Dụng. Đại vận và lưu niên Thái Tuế đang nắm thời lệnh cũng có tiếng nói riêng, và khi người nắm lệnh lên tiếng thì không ai bỏ ngoài tai được.
Cung nào cũng có thể chọn làm Thể Dụng, giống cách chọn dụng thần trong bói Dịch, nên cần hiểu Thể Dụng là linh hoạt. Những công thức giới thiệu ở đây là cơ bản; ai thấy hợp lý thì hoàn toàn có thể chọn bộ Thể Dụng riêng.
Cung Thể là một hay nhiều cung trực tiếp cho biết vấn đề cần xét: xét gia đạo thì Điền Trạch là cung Thể. Cung Dụng là những cung liên quan trực tiếp tới vấn đề: với gia đạo là Mệnh, Phúc Đức và Thiên Di. Chia Thể Dụng cũng như chia âm dương, như tay trái với tay phải: hai tay vỗ vào nhau mới thành tiếng. Thể va chạm với Dụng thì mới sinh sự kiện. Cảnh sát gặp tội phạm sẽ xảy ra chuyện bắt bớ giam cầm; cảnh sát gặp cảnh sát là cùng phe, không có chuyện gì. Về sau khi xem vận cần lưu ý điểm này.
Xét tính cách thì xâu ba cung Mệnh, Phúc, Tật. Ba cung này là một phe, dù mang tư cách Thể hay Dụng, vì giữa chúng có quan hệ nhất lục cộng tông: Mệnh là 1 thì Tật là 6, Tật là 1 thì Phúc là 6. Cùng tông nên xếp chung được, và khi ấy Tật và Phúc làm rõ nghĩa cho Mệnh. Xâu ba cung đương nhiên đầy đủ và chính xác hơn nhìn một cung, giống như có ba góc nhìn về một vật, hay ba nguồn tin về một sự kiện.
Ta có thể tìm liên hệ giữa các cung Thể với nhau thành nhóm Thể, hoặc giữa các cung Dụng thành nhóm Dụng. Nhưng các nhóm ấy chưa tạo sự kiện. Sự kiện chỉ xảy ra khi Thể và Dụng va chạm nhau. Xuyến liên Thể Dụng là đi tìm mối liên hệ giữa cung Thể và cung Dụng bằng hai đường Lộc chuyển Kỵ và Kỵ chuyển Kỵ. Nếu có nhiều cung Thể hay nhiều cung Dụng thì cứ xét từng cặp Thể Dụng, rồi ghép các cặp lại thành bức tranh chung. Số Lộc hay Kỵ trong xuyến liên cho biết cường độ tốt xấu của từng liên kết.
Ba nguyên tắc của xuyến liên Thể Dụng: Dụng quy về Thể, Dụng bất ly Thể, Dụng xung phá Thể. Tóm lại là làm sao cho Dụng gặp được Thể.
Các cách để hai cung gặp nhau qua Kỵ
Ở Nam phái, cung Tý gặp cung Ngọ bằng quan hệ tương xung, gặp Sửu bằng nhị hợp, gặp Thìn bằng tam hợp. Trong tứ hóa phi tinh, các cung gặp nhau bằng Lộc hoặc Kỵ. Cung A hóa Kỵ vào B là A gặp B bằng quan hệ Kỵ. A hóa Kỵ vào B rồi B chuyển Kỵ sang C thì A gặp C cũng bằng Kỵ. A và C cùng hóa Kỵ vào B thì A gặp C tại B bằng Kỵ. Nhìn qua công cụ Kỵ, cung Dụng có các cách gặp cung Thể sau:
- Đồng cung tương bách. Hai cung cùng đổ Kỵ vào một cung, chữ "bách" nghĩa là chèn ép nhau.
- Lưỡng đầu kiến Kỵ. Hai cung xung chiếu nhau, mỗi đầu trục đều có Kỵ.
- Kỵ xung phá Thể. Kỵ của cung Dụng rơi vào đối cung của cung Thể.
Gặp nhau rồi còn phải đo xem va chạm mạnh hay yếu. Phép đếm Kỵ làm việc ấy.
Cách đếm Kỵ trong một chuỗi xuyến liên
Sau khi xâu được cung Dụng với cung Thể bằng Kỵ hoặc Lộc, phải đếm xem có bao nhiêu Kỵ hay bao nhiêu Lộc xuyên qua các cung ấy. Con số này nói lên cường độ xấu hoặc tốt của chuỗi. Cách đếm Lộc tương tự cách đếm Kỵ dưới đây.
- Số Kỵ của một trục được cộng gộp hai đầu. Đầu Tý có 3 Kỵ, đầu Ngọ có 2 Kỵ thì cả trục Tý Ngọ có 5 Kỵ, và coi như đầu nào cũng có 5, vì Kỵ ở bất kỳ đầu nào cũng ảnh hưởng được cả trục.
- Tự hóa Kỵ xuất không tính vào số Kỵ trong xuyến liên, nhưng khi luận thì phải chú ý tượng Kỵ xuất.
- Lưu xuất Kỵ trong các trục thì được cộng vào. Ví dụ Tý có 3 Kỵ, Ngọ có 2 Kỵ, đồng thời Tý lưu xuất Kỵ sang Ngọ (như tuổi Giáp Tý mà cung Ngọ có Thái Dương), thì cả trục có 2 + 3 + 1 = 6 Kỵ.
- Không đếm trùng giữa Hóa Kỵ và chuyển Kỵ. Ví dụ Điền hóa Kỵ vào Phúc, Phúc hóa Kỵ vào Di. Cả Điền lẫn Phúc đều có quyền phát động khi xem gia đạo, nhưng cung Phúc phi Kỵ sang Di thì Hóa Kỵ và chuyển Kỵ trùng nhau, nên cả chuỗi Điền, Phúc, Di chỉ tính 1 Kỵ chứ không phải 2.
Theo cách đếm này, trong chuỗi càng có nhiều lưu xuất Kỵ thì tổng Kỵ càng lớn, tức là càng xấu. Lưu xuất Kỵ trong các trục hàm ý mâu thuẫn nội tại, tự mâu thuẫn ngay trong vấn đề nên chuyện càng tệ thêm.
Nguồn: Alex Alpha, Giáo trình Phi Tinh Lương phái.
