Bài tổng quan
Kình Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp và bộ Tứ Hóa
Được gọi thẳng là bộ sao hung ác nhất của Tử Vi, Địa Không Địa Kiếp vẫn có những tuổi, những tháng sinh riêng để hóa giải. Đi cùng nhóm hung sát ấy là ba ngôi trong bộ Tứ Hóa — Lộc, Quyền, Khoa — mỗi sao...
Phía đối nghịch với cát tinh phò trợ là những hung sát tinh chủ tai ương, hình thương, rồi tới bộ Tứ Hóa vốn quyết định phần lớn giàu nghèo quyền quý của một lá số.
Hỏa-Tinh, Linh-Tinh
Hỏa-Tinh là nam đẩu thuộc âm Hỏa. Linh-Tinh là nam đẩu thuộc Hỏa đới Kim. Miếu vượng ở Tỵ, Ngọ, Dần, Mão.
Hỏa-Linh là hung sát tinh, chủ sát phạt, tai nạn, cô bần, nhưng nhập miếu lại giúp ích lớn lao. Tử Phủ gặp thời chế hòa bớt được tính hung ác của Hỏa Linh. Cơ-Lương ngộ Hỏa-Linh thì bị tối hung. Tham hội Hỏa là phú ông cách. Tham ngộ Linh là cách tướng tướng chi danh, phát về võ nghiệp.
Thủ Mệnh phải tùy miếu hãm mà luận, hãm địa là người luôn luôn có vẻ u sầu. Hội với Riêu Hình, thì khi ngủ hay bị mơ màng hình ảnh ma quái. Hội với Kình Hình, thường hay mắc bệnh thần kinh, hay các chứng kinh phong, gân cốt bị yếu. Hỏa Linh hãm tại Tý Hợi dễ bị đau tim.
Kình-Dương, Đà-La
Cùng thuộc bộ tứ sát nổi tiếng trong Tử Vi, nhưng khi nhập miếu, hai sao này lại quay ngoắt thành văn tinh — một nghịch lý đáng chú ý.
Kình-Dương là bắc đẩu tinh thuộc Kim đới Hỏa. Đà-La bắc đẩu thuộc Kim đới Thủy. Dương Đà là sát tinh, chủ táo bạo, cô đơn. Dương hóa khí là hình. Đà hóa khí là kỵ. Kình cư tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là miếu địa. Đà miếu ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
Kình-dương được tôn là đệ nhất văn tinh, văn chương quán thế, đối với người tuổi Tân, Kình Dương cư Tuất, cũng như tuổi Ất, Kình Dương cư Thìn, Đà-La là nghiên mực, đồng cung với Thiên-hình ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, hội với văn tinh, là cách văn chương thi phú hiển đạt. Hội với phú tinh, là người giàu có cự vạn, vàng chôn ngọc cất.
Dương Đà miếu địa ở cung vô chính diệu, là cách Kình hay Đà độc thủ nhập miếu, là anh hùng uy áp biên cương. Đà-la hội với Tuế Hình Riêu Kỵ ở Thìn Tuất, thời ngôn ngữ đanh thép, người người kinh phục.
Thủ Mệnh là những nhà danh tài tư pháp, chỉ sợ lạc Không-vong Linh Hỏa, thời không tránh được chân tay tàn tật, thường hay mắc tai nạn xe cộ, hình thương. Thủ Mệnh lấy thân làm sơ, nhưng không gian hiểm như tính lý của Hỏa-kỵ. Kình-lương hội Hỏa-lộc, là nhà kinh thương phát đạt trở nên giàu có. Kình hãm địa, hội với Thiên-hình hay Thất-sát, là hành nghề đồ tể. Dương Đà nhập miếu thì văn tài lỗi lạc, phú qúy thanh dương. Chỉ e nơi hãm, hội Không-vong ác sát thì bôn ba hình khắc, khó tránh được hình thương hung họa.
Hỏa-Kỵ
Hỏa kỵ thuộc Thủy. Hỏa-kỵ chủ thâm trầm, xảo quyệt, ghen ghét, mưu cơ. Nhập miếu ở cung Điền Tài, là thần giữ gìn tiền của rất đắc lực. Nhập Mệnh thì không tránh được thị phi, oán hờn cứ từ đâu buộc vào mình. Nhập Quan thì hoạn lộ không bền, toàn chuyện vu vơ mà mất Tả hữu. Hội với Liêm-trinh thì oán thù không ít.
Nhập miếu ở Tý Hợi. Miếu địa hội với Hỏa-quyền, là người cơ mưu trí lược. Hội với Thanh-Long, Long-đức, Lưu-hà là cách rồng mây gặp hội. Hãm gặp Vũ, Riêu, Phá-toái, hay bị cảm. Hỏa-kỵ tượng thân thể là cái lưỡi. Ngộ Việt Đà-la, nói lắp, nói ngọng (cà lăm).
Thiên-Hình
Thiên-hình thuộc Hỏa. Thiên-hình là sao hung, chủ cô khắc, hình thương. Ở nơi hãm địa hội với ác sát là tai vạ, hình thương không tránh được. Hội với Liêm-trinh thì hình ngục không thoát.
Miếu địa ở Dần, Mão, Dậu, Tuất. Cư nơi miếu, hỏa là Hỷ-thần, cùng với văn tinh là người học thành. Hội với Binh, Tướng, Ấn, Hình, hỏa thành đại long đao, võ nghiệp lừng lẫy, chấn ngự biên cương. Thiên-hình thủ Mệnh thì người thấp, lưng ngắn, tính tình thường thô cục.
Địa-Không, Địa-Kiếp
Được gọi thẳng là bộ sao hung ác nhất của Tử Vi — nhưng vẫn có những tuổi, những tháng sinh có thể hóa giải, thậm chí biến hung thành phát.
Kiếp-không đều thuộc Hỏa. Miếu địa ở Tỵ Hợi. Bình địa ở Dần Thân. Kiếp-không là bộ sao hung ác nhất của Tử-vi. Tử Phủ gặp thời vua mất ngôi, quan mất hết chức quyền. Dù được các trung tiểu tinh phù tá, mà gặp Kiếp-không cũng đông thành tây bại, hay là cũng bị thất bại vào lúc cuối cùng.
Lâm Thân Mệnh, thời bôn ba, rất khó thành công qúy hiển. Anh hùng tài trí không nên gặp, nếu gặp chỉ nên ẩn thân nơi thôn dã, vương vấn với nợ đấu tranh thì chung thân bất mãn, và đôi khi rước lấy tai vạ vào thân lúc chung cuộc, ngay tăng đạo cũng còn tơ vương hoàn tục. Kiếp Không là mối nợ oan nghiệt của những người cách mạng, chính trị phúc không toàn vẹn, nhưng vương nghiệp đấu tranh, bồi hồi tâm sự nhiễu tam canh, cũng không dứt được, vì bản chất Hỏa của nó cũng ưa cạnh tranh rồi.
Nhập miếu ở Tỵ Hợi, thì hoạnh phát danh tài rất lớn lao, phát dã như lôi (phát như sấm sét). Cách Kiếp Không Tỵ Hợi, đối với người tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi, là hưởng phát dã như lôi, dư lại các tuổi khác tuy phát dã như sấm sét về danh tài, nhưng không được bền chặt, đến khi bại thời tan ra mây khói, là cách bại giả như hôi.
Riêng người sinh Thìn, Tuất, Sửu, Mùi còn được hưởng cách Mệnh Không Thân Kiếp hãm địa, là cách rất xấu đối với tuổi khác. Đặc biệt hai tuổi Kim và Thổ, cách Mệnh Không Thân Kiếp, ngược lại danh tài hoạnh phát, chung thân phú qúy.
Người sinh tháng tư, tháng mười, cũng được cách Kiếp Không vô luận, Không Kiếp không tác hại, vì tháng tư, tháng mười là tháng Tỵ, tháng Hợi, nên ảnh hưởng Kiếp Không không tác hại, cũng như Kiếp Không ở hai cung Dần Thân, không hoàn toàn tác hại, khi phù khi diệt.
Được cách Kiếp Không nhập miếu ở Tỵ Hợi hoàn toàn rất khó, vì khi đã nhập miếu thì phải hoàn toàn tránh được 2 sao Triệt Tuần, nếu bị Triệt Tuần án ngữ, không phải là cách nhập miếu nữa, vì như tướng giặc không gặp thời nữa, đã bị giảm mất nhiều uy lực phù trì của Kiếp Không.
Kiếp Không hãm thủ Mệnh, là người tính tình hung bạo, đồng cung với Tử-vi, Thiên-phủ hãm là người nhút nhát, không quyết định một việc gì nhanh chóng được, thành người quá dụt dè, mà hỏng thời cơ.
Thiên-Thương, Thiên-Sứ
Thiên-thương thuộc dương Thủy. Thiên-sứ thuộc âm Thủy. Thiên-thương hãm ở Thìn, Ngọ, Mùi, Thiên-sứ ở Sửu, Tuất. Thiên-sứ chủ hao tán, tai-tật.
Hội với Thái-tuế Dương Đà hãm, thường bị hao tán, thị phi, khẩu thiệt, quan tụng. Lưu nhị hạn khi xuất hành, xa nhà lâu ngày, phải phòng tai vạ, có nhiều việc lo buồn. Hội với song Hao, Tang-Hổ là súc vật trong nhà bị chết chóc. Thuộc hạ giúp việc trong nhà sẽ bỏ đi, hay có sự ly tán về bằng hữu.
Lộc-Tồn
Lộc-tồn thuộc dương Thổ. Miếu vượng ở Tý Ngọ, Dần Thân, Mão Dậu. Chủ quyền tước của cải, văn chương thi phú. Đồng cung với Khoa Quyền hay Hỏa-Lộc thì phú qúy, văn chương, khoa giáp hiển vạn.
Cư Tý Ngọ xung chiếu với Hỏa-lộc và Văn Tinh, đệ nhất văn chương cách, thông minh thanh hiển. Cách song Lộc Tý Ngọ nếu ngộ Không, thời học hành khó thành, mà công danh trắc trở, song Lộc Tý rất đắc cách văn chương, nhưng rất yếu hèn, nếu gặp hung sát tinh.
Đồng cung với Hỏa-lộc ở Dần Thân, là cách đôi kim tích ngọc. Cùng với Hỏa-lộc ở tam hợp cuộc chiếu về Tử-vi, là song Lộc phụng nghinh cách, là vua thánh có tôi hiền. Nếu ở phương miếu địa triều Tử-vi, cũng ví như cách quân thần khánh hội.
Mệnh có Lộc-tồn đơn thủ, là người tính toán quá độ về tiền bạc mà thành người keo kiệt, bủn xỉn, ăn ở tỏ ra cách bần tiện, vì hai sao Dương đà luôn ở giáp biên. Nên Lộc-tồn, nếu đồng cung với một trong ba tam Hỏa, Lộc-tồn đơn thủ hay đồng cung, hoặc hợp chiếu với ba sao Hỏa, để quyết luận tính tình và nghề nghiệp.
Hỏa-Lộc, Hỏa-Quyền, Hỏa-Khoa
Ba ngôi trong bộ Tứ Hóa — Lộc chủ tiền của, Quyền chủ uy quyền, Khoa chủ văn tài — mỗi sao một tính khí riêng, nhưng đều kỵ gặp phải Không, Kiếp.
Hỏa-lộc thuộc Thổ. Hỏa-lộc chủ tiền của phú qúy. Thủ Thân Mệnh thì tiền bạc súc tích, cư Quan-lộc thì hoạn lộ hanh thông. Hội với Lộc-tồn thành cách song Lộc, thì tiền tài kiếm được dễ dàng không phải khó nhọc.
Có cách song Lộc, chắc chắn thế nào cũng được nhà cửa ruộng vườn thênh thang, chỉ e phùng Không, trở lại thành hung họa, vì tài mà lâm nạn. Phùng Không, hội với Kiếp-Không, hay Hình, thì không thể tránh được ngục tù. Hỏa-lộc thủ Mệnh, thì người phì nộn, râu mọc quai nón, lông tóc tốt rậm. Hội với Văn-xương, là có cặp mắt sáng mà sau thế nào cũng phệ.
Hỏa-quyền thuộc Mộc. Chủ uy quyền, linh lợi, cơ mưu. Hỏa-quyền là qúy tinh, tôn tinh, nhưng là sao rất yếu, đi với cát tinh phù trì mạnh mẽ, nhưng hội với hung thì hóa hung. Hội với Cự-môn, Phá-quân, trở nên rất đắc lực, chủ quyền binh. Hội với Hỏa-kỵ là người cơ mưu quyền biến, điều hành công việc rất quy mô. Hội với Hỏa-lộc hay Lộc-tồn, chiếu hoặc giáp biên, là cách phú qúy thanh dương. Hội với Hỏa-lộc cư chiếu Thân Mệnh, là cách xuất thế vinh hoa, Quyền Lộc bả phù Thân Mệnh. Hỏa-Quyền ở thân thể là hai lưỡng quyền. Thủ Mệnh là người có hai lưỡng quyền cao.
Hỏa-khoa thuộc Thủy. Không sợ ác sát tinh, chủ văn tinh khoa giáp, thông minh, lịch duyệt, phúc hậu mà ôn lương. Được tôn là vị thần đệ nhất, để giải trừ tai nạn nguy hung cho cách Sát Phá Tham. Đệ nhất giám sát thần, chấp chưởng về thi cử, nên hội Khôi Việt, Khúc Xương thành một văn tinh đoàn, người có Khôi Khoa, Quế Hỏa, thời học vấn một mà thông hiểu ra nhiều, ngày xưa là các bậc trạng nguyên, bảng-nhãn thám-hoa, văn tài, thi phú lưu danh, không có bộ văn tinh này, thời nay cũng không thể hiển đạt tới Thạc-sĩ, hay là các bác học được.
Nên Qúy tinh, chẳng phùng Không xứ, gặp Khoa thời nhất cử thanh danh. Có cách Khôi Khoa, thường là người đứng đầu kim bảng. Không dễ về học vấn, mà kinh doanh thương mại cũng phát đạt. Khoa quyền nhờ Khôi-Việt dĩ thành công. Kết hợp với tam Hỏa, cư Mệnh hay Quan-Tài, được ở Đông vị miếu vượng, thời uy lực mạnh như Tả Hữu, Thai Tọa, phù qúy văn chương toàn vẹn. Khoa Quyền Lộc cũng Không hãm ám xung, thời mất hết tinh cách cát diệu, vì 2 sao Lộc kỵ Không mà Quyền thì kỵ Kiếp.
Thiên-Không
Thiên-không thuộc Hỏa. Miếu vượng ở Tỵ Ngọ Dần Mão. Thiên-không là sao hung, qúy tinh và quyền tinh không nên gặp. Nếu gặp thời khoa trường lận đận, mà công danh trắc trở. Nên ở phú đoán: Hạng Vũ anh hùng ngộ Thiên-không nhi táng quốc. Thạch-Sùng hạn hành Địa-Kiếp nhi vong gia.
Hội với Đào-hoa, là người có mưu trí, nhưng cơ nghiệp đổ vỡ. Không Đào là cách bán thiên triết sĩ, ví như chim bay lưng trời gãy cánh. Cung Mệnh có tam Không thủ chiếu, là cách đổ vỡ hay phải lập nghiệp, làm nhà ba lần được yên thân.
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
